Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nhà nước ở vùng Đông Nam Á có lãnh thổ bao gồm nước Việt Nam hiện nay từ năm 1945 đến năm 1954 (dù nhiều vùng lãnh thổ bị Pháp chiếm đóng) và là một nước độc lập theo chủ nghĩa xã hội có lãnh thổ là miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1976. Sau năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành một nhà nước thống nhất có tên gọi là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Mục lục |
Lịch sử
| Bài hay đoạn này cần người am hiểu về chủ đề của nó biên tập lại. Bạn có thể giúp chỉnh sửa bài hoặc nhờ một ai đó. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết. |
Thành lập
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (đây cũng là ngày quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay), sau Cách mạng Tháng Tám với đóng góp chung của toàn dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của của mặt trận Việt Minh.
Trong Cách mạng này Đảng Cộng sản Đông Dương (tổ chức nòng cốt Việt Minh) đóng vai trò chỉ đạo, dù trên thực tế ở một số tỉnh thành chưa có hay khôi phục tổ chức đảng. Tại miền Bắc, một số tỉnh chưa có tổ chức đảng nhưng Việt Minh hoạt động rất mạnh hầu khắp các tỉnh thành. Tại miền Trung, hoạt động của mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản khá mạnh. Trong khi đó ở Nam Bộ, hoạt động của Việt Minh có phần yếu hơn, Đảng Cộng sản chưa khôi phục đầy đủ sau Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trong Cách mạng Tháng Tám, tổ chức Việt Minh đã thu hút được cả lực lượng Thanh niên tiền tuyến do Chính phủ Đế quốc Việt Nam nuôi dưỡng gia nhập Mặt trận Việt Minh. Tại một số tỉnh Nam Bộ, Thanh niên tiền phong đóng vai trò quan trọng giành chính quyền.
Đấu tranh ngoại giao 1945-1946
Từ cuối tháng 9 năm 1945 quân đội Pháp quay trở lại Việt Nam. Sự việc này nằm trong tính toán của chính quyền Charles de Gaulle khi Đại chiến thế giới II chưa kết thúc. Ngày 24 tháng 3, 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, de Gaulle đã tuyên bố khẳng định chủ quyền Pháp tại Đông Dương, nhưng sẽ cho Đông Dương tự trị và thực thi tự do dân chủ.
Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương nhưng đến ngày 6 tháng 3, 1946 lại ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946, cho phép quân đội Pháp ra Bắc thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Một số trong Chính phủ Liên hiệp không tán thành việc này, gây ra bất đồng sâu sắc.
Hiệp định Sơ bộ có ấn định là lực lượng Pháp phải rút hết sau một thời gian hai bên quy định không quá 5 năm. Trong khi đó hai bên đình chiến. Nước Pháp cũng công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng và là một thành viên trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. Vấn đề độc lập của Việt Nam bị gác sang một bên. Đồng thời Pháp cũng ký riêng với chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch hiệp ước Hoa - Pháp để quân đội Trung Hoa rút về nước, và đổi lại Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa cùng nhượng cho Trung Hoa một số quyền lợi tại miền Bắc Việt Nam như việc khai thác một đặc khu tại cảng Hải Phòng và miễn thuế cho hàng hóa Trung Hoa vận chuyển qua Việt Nam.
Ngày 14 tháng 9, 1946, Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Tạm ước Việt - Pháp với nội dung Việt nam dân chủ cộng hòa bảo đảm không xâm phạm những quyền lợi kinh tế, văn hóa hiện hữu của Pháp, tạm thời vẫn sử dụng đồng bạc Đông Dương, bảo đảm giao thông và giao thương trên lãnh thổ Việt Nam, thành lập một liên hiệp quan thuế toàn Đông Dương, Việt Nam ưu tiên sử dụng các chuyên gia người Pháp vào công cuộc kiến thiết quốc gia, cho phép Việt Nam đặt lãnh sự tại nước ngoài, khôi phục trật tự công cộng và các quyền tự do dân chủ, thả tù binh và tù chính trị, phía này không truy bức những người làm việc cho phía kia, chấm dứt việc tuyên truyền thù địch, cộng tác với nhau để làm cho người Pháp và dân Việt Nam không làm hại nhau, tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn. Về thống nhất ba kỳ, nước Pháp cam kết sẽ thừa nhận những quyết định của một cuộc trưng cầu dân ý.
Tuy nhiên chiến tranh bùng nổ vào ngày 19/12/1946. Nguyên nhân được Việt Nam đưa ra là sự khiêu khích quân sự liên tiếp tại Hà Nội, Hải Phòng cùng ba bản tối hậu thư của quân đội Pháp.
Kháng chiến chống Pháp
Nắm chính quyền ở miền Bắc Việt Nam
Năm 1954, quân viễn chinh Pháp bị đánh bại tại trận Điện Biên Phủ. Pháp phải chính thức công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Hiệp định Genève về Việt Nam, nước Việt Nam bị chia thành hai vùng phi quân sự tạm thời trong 2 năm:
- Miền Bắc thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô là Hà Nội, đặt dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.
- Miền Nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp và Quốc gia Việt Nam, thuộc khối Liên hiệp Pháp. Quân Pháp sẽ dần rút đi trong 2 năm. Năm 1955, Việt Nam Cộng hòa được thành lập từ Quốc gia Việt Nam sau cuộc trưng cầu dân ý với thủ đô đặt tại Sài Gòn.
Lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hòa tại bàn đàm phán là: Pháp phải thừa nhận chủ quyền và độc lập của Việt Nam, Campuchia và Lào và rút quân đội khỏi 3 nước này; tiến hành tổng tuyển cử ở ba nước để thành lập các chính phủ thống nhất. Những cuộc tuyển cử trên phải được tiến hành với điều kiện tất cả các đảng phái và tổ chức yêu nước được tự do hoạt động dưới sự giám sát của các ủy ban địa phương. Nếu các điều kiện trên được chấp nhận chính phủ các nước Đông Dương đồng ý xem xét vấn đề gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam dân chủ cộng hòa đề nghị tham gia đàm phán có đại diện Chính phủ kháng chiến Lào, Campuchia nhưng các nước phương Tây từ chối.
Hiệp định ký kết. theo Hiệp định tất cả ba nước Đông Dưong phải đình chỉ chiến sự và rút quân đội các bên đến khu vực quy định. Tại Việt Nam giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 17. Việc tập kết quân đội hai bên hoàn thành trong thời hạn 300 ngày. Các lực lượng Pháp rút khỏi Lào trong 120 ngày, Campuchia 90 ngày. Các đơn vị quân đội Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng rút khỏi Lào, Campuchia. Tại Lào, quân đội kháng chiến tập kết tại Phong sa lỳ và Sầm Nưa. Các lực lượng kháng chiến Campuchia phục viên tại chỗ. các chính phủ Vương quốc Lào và Campuchia bảo đảm cho mọi công dân hưởng quyền tự do ghi trong Hiến pháp. Bầu cử tự do được tổ chức tại Campuchia và Lào năm 1955 và tại Việt Nam tháng 7/1956.
Ngay sau thời khắc chia đất nước ra làm hai vùng, đã diễn ra cuộc di cư lớn của gần 1 triệu người dân miền Bắc, mà đa số là người Công giáo, vào miền Nam, với niềm tin "theo Chúa vào Nam". Một số người tin theo lời người Pháp cho rằng họ bị chính sách của chính quyền miền Bắc bức hại bản thân họ. Khoảng 140 ngàn người khác ở miền Nam, gồm phần lớn là lực lượng kháng chiến của Việt Minh tại miền Nam hoặc những người đi theo chủ nghĩa cộng sản, tập kết ra miền Bắc theo Hiệp định Genève. Theo như Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử ở cả hai miền sau hai năm để thống nhất đất nước.
Giữa năm 1955 và năm 1956, một cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành với mục đích tước đoạt ruộng đất của một bộ phận địa chủ về tay nông dân nhằm đấu tranh giai cấp để thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải cách đã có nhiều điểm sai lầm như đấu tố nhầm, xử tội không thông qua tòa án hoặc chỉ qua "tòa án nhân dân". Các nhà lãnh đạo chính quyền, trong đó có Hồ Chí Minh, đã chính thức xin lỗi trước dân chúng về các sai lầm này đồng thời cách chức và xử phạt nhiều cán bộ.
Sau 2 năm, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa từ chối tham gia cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước theo Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève. Sau nhiều cố gắng thương lượng không thành, năm 1959, Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định hỗ trợ tiến hành chiến tranh ở miền Nam để thống nhất đất nước và sau đó thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc.[1]
Với sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hỗ trợ người và của cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để đối đầu với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa suốt 16 năm (1959-1975), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã là hậu phương lớn của chiến trường miền Nam.
Trong thời Chiến tranh Việt Nam, lãnh thổ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chịu nhiều tác hại của cuộc chiến vì các chiến dịch ném bom của quân đội Mỹ với mục đích ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo ước tính, không quân Hoa Kỳ đã ném xuống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoảng 3 triệu tấn bom các loại.
Với sự kiện 30 tháng 4, 1975, miền Nam Việt Nam được tiếp quản bởi chính quyền lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Miền Nam và miền Bắc hợp nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành một đất nước thống nhất với tên gọi mới: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ
Ban đầu, Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính thể của nước Việt Nam thống nhất, nhưng thực tế sau năm 1954 thì chỉ quản lý từ Vĩnh Linh trở ra. Sau năm 1954 nhà nước bắt đầu đặt ra các mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Tổ chức chính quyền đầu tiên là Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành lập ngày 28 tháng 8, 1945 trên cơ sở Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám.
Ngay sau khi thành lập, chính phủ Cách mạng lâm thời ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái[2] [3] với lý do "tư thông với ngoại quốc" hoặc "phương hại đến nền độc lập Việt Nam" (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng...) nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng", bảo vệ chính quyền non trẻ đồng thời giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác cho nhân dân.[4] Cùng với đó là giải tán nghiệp đoàn[5] để nắm bắt nền kinh tế[6], thống nhất các tổ chức thanh niên (vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam). Đồng thời Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp.
Trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời (3/9/1945), toàn bộ các thành viên trong chính phủ đã thống nhất các phương pháp Chủ tịch chính phủ Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề cấp bách của nước mới, bao gồm[7]:
- Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói.
- Mở phong trào chống nạn mù chữ.
- Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
- Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại.
- Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuộc phiện.
- Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Ngày 1 tháng 1, 1946 Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời với sự tham gia của một số đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia (Việt Cách, Việt Quốc...) hoạt động ở Trung Quốc nhờ sự bảo trợ của Trung Hoa Quốc dân đảng.[8] Thành phần các đảng phái này trong nước không mạnh như Việt Minh.[9][10]
Khi Nhật đầu hàng đồng minh, Mặt trận Việt Minh thu hút nhiều đảng phái nhanh chóng cướp chính quyền từ tay Đế quốc Việt Nam và lực lượng quân đội đế quốc Nhật Bản. Việt Quốc, Việt Cách nhanh chóng từ Trung Quốc trở về mở đường cho Quân đội Trung Hoa Dân quốc[11] và gây xung đột vũ trang[12] cướp chính quyền các địa phương[13][14]... Cũng có tài liệu cho rằng Việt Minh và các đảng phái khác cùng cướp chính quyền tại một số nơi nên dẫn đến xung đột vũ trang.[10] Để tạm thời hoà giải, Mặt trận Việt Minh đồng ý nhượng bộ với Việt Quốc, Việt Cách.[10] Lãnh đạo Việt Cách Nguyễn Hải Thần được bổ nhiệm vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ. Đồng thời hai ghế bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ Vệ sinh, một ghế thứ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế được giao cho các thành viên của Việt Quốc, Việt Cách.[15][16]
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử hoặc tìm cách phá hoại[17]. Các đảng này đưa ra lý lẽ trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản, ... chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được. Tuy nhiên trên thực tế bầu cử diễn ra công bằng.[18] Sau cuộc bầu cử, theo thỏa thuận với Việt Minh, một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng, tự nhận là phe đối lập, không tham gia Tổng tuyển cử vì lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh[19] vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội cùng nhiều vị trí trong chính quyền trung ương.
Sau khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946.
Trong thời gian kháng chiến, bộ máy hành chính các cấp có nhiều biến đổi. Tổ chức đơn vị hành chính Khu và Liên khu. Thành lập các Ủy ban kháng chiến các cấp. Cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia (1947), sau đổi là Bộ Tổng tư lệnh (1948) rồi Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Các cơ quan tư pháp cơ bản tổ chức theo cấp xét xử.
Tư pháp
Bộ Tư pháp Việt Nam được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 cùng với Chính phủ Cách mạng lâm thời do luật sư Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng, sau tháng 3 năm 1946 thì chuyển giao cho luật sư Vũ Đình Hòe. Đến năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể.
Sau khi thành lập để ổn định tình hình, ngoài việc giải tán một số đảng phái, Chính phủ Việt Nam ra các sắc lệnh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ cộng hoà Việt Nam[20], thành lập các toà án quân sự [21] [22] [23] [24] để xử tất cả các người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Ngày 20 tháng 9 năm 1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL gồm có 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh).
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tiếp đó, Dự án luật Lao động được thông qua và ban hành ngày 8 tháng 11 năm 1946. Đây là dự luật đầu tiên được thông qua.
Ngày 31 tháng 9 năm 1959, trong kỳ họp tại Hà Nội, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp mới.
Sau kháng chiến chống Pháp, Quốc hội khóa I và II đã thông qua nhiều bộ luật đóng góp vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nền Tư pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1958, Viện Công tố Trung ương (sau là Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao) được thành lập với Viện trưởng đầu tiên là ông Bùi Lâm.
Tháng 5 năm 1959, Tòa án Nhân dân Tối cao được thành lập với Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao là Luật sư Phạm Văn Bạch.
Ngoại giao
Ban đầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp công nhận (trong hiệp ước năm 1946 - như một nước tự do thuộc Liên hiệp Pháp) và được các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như các nước khác công nhận sau này, khởi đầu bởi Trung Quốc và Liên Xô vào năm 1950. Tiếp đó là các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bungary, Triều Tiên, Albania, Romania. Năm 1954, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ mới đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Cùng năm, khi tiếp quản Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh công nhận cơ quan ngoại giao của Ấn Độ tại Hà Nội. Ngày 17 tháng 10 năm 1954, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru sang thăm Việt Nam.[25]
Các nước Tây phương thì mãi đến năm 1967, Pháp mới lập phòng liên lạc và đại diện bán chính thức rồi đến Thụy Sĩ năm 1968. Tuy nhiên đây là chỉ cấp bán chính thức, không có đại sứ. Năm 1969 Thụy Điển là quốc gia Tây Âu đầu tiên thiết lập ngoại giao toàn phần với Miền Bắc kể cả trao đổi đại sứ. Theo sau đó là Senegal (1969), Ceylon (1970), Thụy Sĩ (1971), Ấn Độ (1972), Chile, và Pakistan. Tính đến hết tháng 12 năm 1972, có 49 quốc gia bang giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[26]
Năm 1975 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đứng hai đơn gia nhập Liên hiệp quốc nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết cả hai.[27] Tuy nhiên cũng năm này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được gia nhập hai cơ quan quốc tế là WMO (World Meteorological Organization, Tổ chứ Khí tượng Thế giới) ngày 7 tháng 8, 1975 và WHO (World Health Organization, Tổ chức Y tế Thế giới) ngày 22 tháng 10, 1975. Đây là hai tổ chức quốc tế đầu tiên (không kể những tổ chức riêng của khối xã hội chủ nghĩa) quốc gia này tham gia.[26]
Hành chính
Sau Cách mạng, đơn vị hành chính các cấp gồm: Kỳ, tỉnh, huyện, xã. Thành phố Hà Nội trực thuộc trung ương. Thành phố Hải Phòng, Sài Gòn- Chợ Lớn trực thuộc kỳ, các thành phố Nam Định, Vinh, Bến Thủy, Huế và Đà Nẵng đều tạm coi là thị xã.
Thời kỳ kháng chiến, tổ chức thêm các đơn vị hành chính cấp Khu và Liên khu. Thủ đô kháng chiến đặt ở Việt Bắc.
Theo Hiến pháp năm 1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân cấp hành chính như sau:
| “ |
|
” |
|
—Điều 78, Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa 1959 |
||
Trong thành phố trực thuộc trung ương, thời kỳ 1954-1958 có các cấp hành chính quận (ở cả nội thành và ngoại thành), dưới quận có khu phố (ở nội thành) và xã (ở ngoại thành, ngoài ra có phố là cấp không thông dụng, như phố Gia Lâm ở Hà Nội). Năm 1958, nội thành bỏ quận, thay bằng khu phố (gọi tắt là khu), dưới khu phố là khối dân phố, ngoại thành có quận (từ năm 1961 đổi là huyện) và xã. Năm 1974, đổi tên gọi khối dân phố thành cấp tiểu khu.
Giáo dục
Chú thích
- ^ Xem thêm bài Đường Trường Sơn để biết thêm về tuyến đường chiến lược viện trợ cho miền Nam.
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 8 NGÀY 5 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 30 NGÀY 12 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ [http://tapchikiemsat.org.vn/viewtopic/phap-luat-78/Nho-bac-Bui-Lam-630.html Nhớ mãi về bác Bùi Lâm]
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 36 NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Lịch sử 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Thanh Hóa, 2008. Trang 169.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 33, 34, 35, 36.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 33.
- ^ Việt Nam Quốc dân đảng trong thời kỳ thoái trào và biến chất (1930-1954), Nguyễn Văn Khánh, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6/410(2010), Viện sử học Việt Nam
- ^ a b c Chiến khu Trần Hưng Đạo, Chương 3 - Chiến khu Trần Hưng Đạo trong tổng khởi nghĩa tháng 8 và những tháng đầu bảo vệ chính quyền cách mạng (8/1945-10/1945), Bộ tư lệnh quân khu 3, Nxb Quân đội nhân dân, 1993
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 33, 34, 35, 36.
- ^ Hoàng Tường. Việt Nam đấu tranh 1930-54. Westminster, CA: Văn Khoa, 1982.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 35
- ^ Lê Mậu Hãn (chủ biển), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 3, NXB Giáo dục, 2007. Trang 10.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 108.
- ^ Lê Mậu Hãn (chủ biển), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 3, NXB Giáo dục, 2007. Trang 17.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 113.
- ^ Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011)
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 99.
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 33A NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 33C NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 37 NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 40 NGÀY 29 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 77-C NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 1945
- ^ Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975), NXB Giáo dục, 2006. Trang 145.
- ^ a b Bühler, Konrad G. State succession and membership in international organizations. The Hague: Kluwer Law International, 2001. tr 68-92
- ^ Odd Arne Westad, Sophie Quinn-Judge. The Third Indochina War: conflict between China, Vietnam and Cambodia, 1972-79. Abingdon, UK: Routledge, 2006. tr 69
Xem thêm
- Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ mới (3/11/1946)
Liên kết ngoài
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
| Tiền nhiệm: Nhà Nguyễn Đế quốc Việt Nam |
Nhà nước Việt Nam 1945–1954 |
Kế nhiệm: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam |
| Nhà nước Bắc Việt Nam 1954–1976 |
