Quốc hội Việt Nam khóa I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các đại biểu Quốc hội khóa 1 chụp ảnh cùng Hồ Chủ tịch

Quốc hội Việt Nam khóa I (nhiệm kì 1946-1960) là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội này đã thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam của Nhà nước Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, thông qua hai bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam.

Quốc hội khóa I được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89%. Nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài 16 năm, từ tháng 1-1946 đến tháng 5-1960, do trong điều kiện chiến tranh và đất nước bị chia cắt, nên không thể tổ chức được một cuộc bầu cử trên cả nước để bầu Quốc hội khoá mới.

Tại kỳ họp thứ nhất ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu, Quốc hội đã:

  • Bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người.

Bầu cử

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phải tập trung tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc dân Đại hội (Quốc hội). Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 và Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 về tổ chức Tổng tuyển cử.[1]

Để đảm bảo cho Chính quyền mới thành lập, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký một số sắc lệnh giải tán những tổ chức và nhân vật bị kết tội làm "tay sai" cho Pháp-Nhật trước đó, cùng với các tổ chức có dấu hiệu gây bất ổn chính quyền: Đại Việt Quốc xã[2] (phát xít[3]), Đại Việt Quốc dân Đảng (do tổ chức tấn công chính quyền [4]), Việt Nam Thanh niên ái quốc hội[5] (do có cộng tác với Nhật[3]), đồng thời đưa đi an trí một số phần tử bị kết tội nguy hiểm cho nền Dân chủ Cộng hoà Việt Nam[6].

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trên cả nước Việt Nam dù đang có mâu thuẫn cục bộ.

Tuy vậy số người ứng cử vẫn rất đông, vận động bầu cử khá phổ biến như theo báo Đại đoàn kết[7]: Người ứng cử đông. Tỉnh miền núi xa xôi, ít nhất cũng có ngoài 20 ứng cử viên, tỉnh Hưng Yên có 40 ứng cử viên, Hà Nội có 74 ứng cử viên. Đoàn Hà Nội có 6 đại biểu Quốc hội trong đó có 2 đảng viên là Bác Hồ và bác sĩ Trần Duy Hưng (tham gia Việt Minh từ năm 1943 và được kết nạp Đảng tháng 10-1945). Địa phương nào cũng có nhiều người tự ứng cử. Những cuộc tiếp xúc rộng rãi diễn ra hết sức sôi nổi ở mọi nơi trong khung cảnh thực sự tự do và dân chủ giữa các cử tri và người ra ứng cử. Tranh cử là phổ biến vì chỉ tranh cử mới có thể chọn lựa người tài đức, có khi là nhóm hai, ba ứng cử viên tổ chức riêng một cuộc tiếp xúc để trình bày chương trình hành động của mình, thậm chí có nơi chỉ một ứng cử viên cũng tự lực bố trí nơi họp đủ chỗ để tiếp xúc cử tri.

Hai đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử. Tuy nhiên trong kỳ họp thứ nhất Quốc hội đã đồng ý công nhận thêm 70 ghế thuộc các đảng phái này theo thỏa thuận ngày 24 tháng 12 năm 1945 giữa Việt Minh và hai đảng này. Có thể là các đảng này không đưa người ra ứng cử vì dựa theo thỏa thuận còn theo Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp thì cho rằng: ...chúng [chỉ Việt Quốc, Việt Cách] càng biết rõ một cuộc tuyển cử công bằng sẽ không mang lại gì cho chúng.[8]

Trên thực tế, các đảng này còn phát động tẩy chay bầu cử. Ngay cả khi đã tuyên bố nhất trí về kế hoạch tổng tuyển cử, các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách vẫn dừng báo chỉ đả kích Việt Minh: trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản... chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được[7], tổ chức các cuộc tuần hành, bắc loa hô hào kêu gọi tẩy chay bầu cử. Theo báo Sự thật, Việt Quốc, Việt Cách thậm chí bắt cóc, giết những ứng cử viên, đảng viên cộng sản, cán bộ Việt Minh (tiêu biểu là Trần Đình Long[9]) hay thủ tiêu những người cùng tổ chức có cảm tình với Chính phủ.[10]

Do 95% dân số Việt Nam lúc đó mù chữ[11] nên để giúp những cử tri không biết chữ thực hiện được quyền bầu cử, Sắc lệnh số 51 quy định: trước khi bắt đầu bỏ phiếu, sẽ lập một tiểu ban 3 người (một người của ban phụ trách cuộc bầu cử, hai người do dân làng, tỉnh lỵ (hay khu phố) cử ra viết giúp cho người đi bầu, một người viết, hai người kiểm tra. Khi viết xong, tiểu ban đó phải tuyên thệ trước mặt các người đi bầu rằng: viết đúng theo lời người đi bầu và giữ bí mật (Điều 36 – Điều 38 Sắc lệnh 51)[12]. Vì vậy có tài liệu cho rằng lá phiếu không bí mật[13] và theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim[14] thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh.[15]

Ngay trong ngày bỏ phiếu vẫn có các sự việc xảy ra: Trong ngày tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng mang tiểu liên đến Ngũ Xã ngăn không cho đặt hòm phiếu, cấm người dân treo cờ. Người dân Ngũ Xã kéo sang khu phố Nguyễn Thái Học gần đó để bỏ phiếu.[16]

Tại Nam BộNam Trung Bộ, nơi chiến sự xảy ra ác liệt, lá phiếu bỏ hòm có khi phải đổi bằng máu. 42 cán bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chết trong công tác vận động bầu cử, trong đó có cả lãnh đạo khu Sài Gòn-Chợ Lớn Nguyễn Văn Tư. Quân Pháp ở các khu vực chiếm đóng (Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An) tấn công người đi bầu cử. Máy bay Pháp ném bom khu vực bầu cử ở Mỹ Tho, Khánh Hòa.[16] Theo nhân chứng sau này là nhà báo Lý Văn Sáu, năm 1946 có mặt tại Khánh Hoà kể lại chuyện ở một khu vực bầu cử: "...nơi mà máy bay địch [chỉ quân Pháp] ném bom cách hòm phiếu chỉ vài trăm mét. Khu vực ông [nhân chứng] bỏ phiếu đã có 6 người chết, 19 người bị thương.[17]

Thành phần

Đại biểu Quốc hội

Kỳ họp thứ nhất

Tổ chức vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, công nhận: Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao, Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên. Tổng số đại biểu Quốc hội là 403, trong đó có 333 đại biểu được bầu bao gồm Việt Minh 120 ghế, Đảng Dân chủ Việt Nam 46 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 24 ghế, không đảng phái 143 ghế. Số đại biểu không qua bầu cử là 70 người gồm 20 đại biểu thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) và 50 đại biểu thuộc Việt Nam Quốc dân Ðảng (Việt Quốc). Việc có các đại biểu đặc cách không qua bầu cử này là theo thoả thuận trước cuộc bầu cử đạt được ngày 24 tháng 12 năm 1945 giữa Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Việc này thể hiện chủ trương của Việt Minh về hoà hợp dân tộc, tập trung lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trong 333 đại biểu được bầu có:

Theo Elections in Asia: A data handbook, Volume II trang 324, có 302 ghế, trong đó Việt Minh giành được 182 ghế, Đảng Dân chủ Việt Nam giành 45 ghế, Việt Quốc 26 ghế, Việt Cách 22 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 27 ghế, tuy nhiên có nhiều tài liệu cho biết phe Việt Quốc và Việt Cách dù không qua bầu cử, nhưng nhờ "mặc cả" nên có 50 và 20 ghế trong Quốc hội. Một số chia thành cánh tả (Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Việt Minh, Xã hội, Dân chủ), cánh hữu (Việt Quốc, Việt Cách), và không đảng phái. Một số thành viên Việt Quốc được xem là cánh tả, ngoài ra còn có cánh hữu, tôn giáo, và dân tộc chủ nghĩa.[cần dẫn nguồn]

Kỳ họp thứ hai

Tại phiên họp thứ hai Quốc hội khóa 1 ngày 28 tháng 10 năm 1946 có 291 đại biểu tham gia (khi đó Quốc hội mở rộng 444 đại biểu) bao gồm: không đảng phái 90 ghế (do Hoàng Minh Châu lãnh đạo), Đảng Dân chủ Việt Nam có 45 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 24 ghế, Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương 15 ghế, Việt Minh 80 ghế, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội 17 ghế, Việt Nam Quốc dân Ðảng 20 ghế[18]. Như vậy, số đại biểu đối lập tại phiên họp này còn 37 trên 70 ghế, số đại biểu ủng hộ Chính phủ là 240. Phiên họp này biểu quyết thông qua Hiến pháp. Tuy nhiên Hiến pháp này chưa được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ban hành.[19]

Ban Thường vụ Quốc hội

Trưởng ban: Nguyễn Văn Tố

Phó Trưởng ban: Phạm Văn Đồng, Cung Đình Quỳ

Ủy viên chính thức:Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Chi, Dương Văn Dư, Hoàng Văn Đức, Nguyễn Trọng Nhâm (Xuân Thủy), Trịnh Quốc Quang, Đàm Quang Thiện, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Lê Thị Xuyến (Phan Thanh), Hoàng Minh Giám, Dương Đức Hiền, Nguyễn Trí, Tôn Đức Thắng, Dương Bạch Mai

Ủy viên dự khuyết: Nguyễn Văn Luyện, Phạm Bá Trực, Y Ngông Niê Kdăm, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Ngọc Bích

Thư ký: Hoàng Minh Giám, Dương Đức Hiền

Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, thông qua ngày 3/11/1946 thành lập Chính phủ mới (3/11/1946) và bầu Ban Thường vụ Quốc hội mới do Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban, Tôn Đức ThắngTôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban.

Các văn bản pháp quy đã thông qua

Hai bản Hiến pháp:

  1. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 (Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946).
  2. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1959 (Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959; Chủ tịch nước ký lệnh ban hành ngày 1-1-1960).

Mười sáu luật:

  1. Dự án luật Lao động (thông qua ngày 8-11-1946).
  2. Luật Cải cách ruộng đất (ban hành ngày 19-12-1953).
  3. Luật Ðảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân (ban hành ngày 20-5-1957).
  4. Luật Quy định quyền lập hội (ban hành ngày 20-5-1957).
  5. Luật Quy định quyền tự do hội họp (ban hành ngày 20-5-1957).
  6. Luật về Chế độ báo chí (ban hành ngày 20-5-1957).
  7. Luật Công đoàn (ban hành ngày 5-11-1957).
  8. Luật Qui định Chế độ xuất bản (thông qua ngày 14-9-1957).
  9. Luật Qui định Những trường hợp phạm pháp quả tang và Những trường hợp khẩn cấp (thông qua ngày 14-9-1957).
  10. Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế (thông qua ngày 14-9-1957).
  11. Luật Qui định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (thông qua ngày 14-9-1957).
  12. Luật Tổ chức chính quyền địa phương (thông qua ngày 14-9-1957; ban hành ngày 31-5-1958).
  13. Luật Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (ban hành ngày 31-5-1958).
  14. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ban hành ngày 13-1-1960).
  15. Luật hôn nhân và gia đình (ban hành ngày 13-1-1960).
  16. Luật Nghĩa vụ quân sự (ban hành ngày 28-4-1960).

Đánh giá

Đánh giá về Quốc hội khóa I, tại kỳ họp thứ 12, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu:

"Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân"[20].

Trung tướng Phạm Hồng Cư, khi đó là Trung đội trưởng của Trung đội tự vệ Thủ đô, cử khi đi bầu cử cho biết[17]:

"Tổng tuyển cử thực sự là không khí của toàn dân. Là thế hệ đã biết thế nào là nô lệ, đã trông thấy đồng bào chết đói, đã từng là vong quốc nô…, nên khi đi bỏ phiếu, chúng tôi cầm lá phiếu mà rất xúc động, vì biết đây là lá phiếu của tự do, lá phiếu giành được từ biết bao xương máu. Cảm tưởng được hít thở không khí tự do, đi bỏ phiếu với tâm trạng hết sức phấn chấn...".

Chú thích

  1. ^ Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I và việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở nước ta
  2. ^ Sắc lệnh số 8 ngày 5/9/1945
  3. ^ a ă Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 2, NXB Giáo dục, lưu chiểu tháng 10 năm 2007, trang 350.
  4. ^ Lãnh đạo xây dựng và bảo vệ chính quyền, chuẩn bị kháng chiến trong cả nước (1945 - 1946) Lúc này, các tổ chức phản động "Việt quốc", "Việt cách", Đại Việt ráo riết hoạt động. Chúng dựa vào thế lực bên ngoài để chống lại cách mạng. Chúng quấy nhiễu, phá rối, cướp của, giết người, tuyên truyền, kích động một số người đi theo chúng chống lại chính quyền cách mạng và đòi cải tổ Chính phủ lâm thời và các bộ trưởng là đảng viên cộng sản phải từ chức. Chúng lập chính quyền phản động ở Móng Cái, Yên Bái, Vĩnh Yên. Chưa bao giờ trên đất nước ta có mặt nhiều thù trong, giặc ngoài như lúc này.
  5. ^ số 30 ngày 12/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ
  6. ^ số 33A ngày 13/9/1945 Sắc lệnh ký ngày 13 tháng 9 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ
  7. ^ a ă Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011)
  8. ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 99.
  9. ^ Theo báo Sự thật, số 14 (20-23/1/1946), thì những người bắt cóc Trần Đình Long mặc quần áo Tầu, nói tiếng Việt. Một ủy viên tuyên truyền UBND tỉnh Yên Bái tên Nguyễn Văn Phúc cũng đã bị bắt cóc, về sau người vợ của ông Phúc đến gặp Nguyễn Hải Thần, và được ông đưa đến gặp Vũ Hồng Khanh để xin thả chồng mình. Ông Vũ Hồng Khanh từ chối và nói buột miệng "Ngay đến ông Long gần đây tôi còn chưa cho thả nữa là".
  10. ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên", NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 103.
  11. ^ Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ, Phạm Hải Yến, Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia III
  12. ^ CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN NĂM 1946 – MỘT MỐC SON LỊCH SỬ CỦA THỂ CHẾ DÂN CHỦ Việt Nam, TRƯƠNG ĐẮC LINH, TS. Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
  13. ^ Nohlen, D, Grotz, F & Hartmann, C (2001) Elections in Asia: A data handbook, Volume II, p. 324 ISBN 0-19-924959-8
  14. ^ Cựu Thủ tướng chính quyền được bảo quân đội Nhật Bản bảo hộ.
  15. ^ Một cơn gió bụi, Chương VI: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước Trích: "Chính phủ lâm thời tổ chức cuộc tổng tuyển cử để triệu tập quốc hội. Cuộc tuyển cử được ấn định vào ngày 23 tháng chạp, sau hoãn đến ngày mồng 6 tháng giêng năm 1946. Khi ấy tôi đã về ở Hà Nội rồi, thấy cuộc tuyển cử rất kỳ cục. Mỗi chỗ để bỏ phiếu, có một người của Việt Minh trông coi, họ gọi hết cả đàn ông đàn bà đến bỏ phiếu, ai không biết chữ thì họ viết thay cho. Việt Minh đưa ra những bản kê tên những người họ đã định trước, rồi đọc những tên ấy lên và hỏi anh hay chị bầu cho ai? Người nào vô ý nói bầu cho một người nào khác thì họ quát lên: "Sao không bầu cho những người này? Có phải phản đối không?". Người kia sợ mất vía nói: "Anh bảo tôi bầu cho ai, tôi xin bầu người ấy". Cách cưỡng bách ra mặt như thế, lẽ dĩ nhiên những người Việt Minh đưa ra được đến tám chín mươi phần trăm số người đi bầu. Ðó là một phương pháp rất mới và rất rõ để cho mọi người được dùng quyền tự do của mình lựa chọn lấy người xứng đáng ra thay mình làm việc nước."
  16. ^ a ă Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 113.
  17. ^ a ă Những chuyện ít biết về Tổng tuyển cử năm 1946
  18. ^ United States – Vietnam Relations, 1945–1967: A Study Prepared by the Department of Defense, 1967
  19. ^ Hiến pháp VN: sửa đổi hay thay mới ?, BBC online, 02:47 GMT - thứ năm, 28 tháng 2, 2013
  20. ^ Quốc hội Việt Nam - Thời kỳ từ năm 1946 đến năm 1960

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Quốc hội Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI | XII | XIII

Danh sách đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI | XII | XIII