Nguyễn Duy Trinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Duy Trinh
Nguyễn Duy Trinh.jpg
Chức vụ
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Nhiệm kỳ 1965 – 7 tháng 2, 1980
Tiền nhiệm Xuân Thủy
Kế nhiệm Nguyễn Cơ Thạch
Nhiệm kỳ  – 28 tháng 1, 1965
Kế nhiệm Nguyễn Côn
Khu vực Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nhiệm kỳ 7 tháng 1, 1963 – 11 tháng 10, 1965
Tiền nhiệm Võ Nguyên Giáp
Kế nhiệm Trần Đại Nghĩa
Khu vực Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 15 tháng 7, 1910
Nghi Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An
Mất 20 tháng 4, 1985 (74 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Dân tộc Kinh
Vợ Đào Thị Hào

Nguyễn Duy Trinh (1910 - 1985) là Cố Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Cố Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Duy Trinh, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1910 trong một gia đình nông dân tại xã Nghi Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Năm 1925, ông đã tham gia phong trào học sinh đòi tự do hoạt động chính trị tại thành phố Vinh. Năm sau, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng và được phái vào Sài Gòn hoạt động. Tại đây ông bị bắt và bị kết án 18 tháng tù. hết hạn tù, ông bị chính quyền trục xuất về miền Trung. Tại quê nhà ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Thời kỳ 1930 - 1931, ông lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, sau chuyển về Kon Tum. Tại đây, năm 1941, ông cùng một số bạn tù vượt ngục nhưng bị bắt lại.

Tại Đại hội Đảng lần thứ II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và đến tháng 8 năm 1955 đảm nhiệm chức vụ Bí thư TƯ Đảng. Ông là uỷ viên Bộ chính trị Trung ương Đảng suốt từ năm 1956 đến năm 1982. Tại Đại hội Đảng lần thứ V (1982) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi mất.[1]

Ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (cuối năm 1954), Bộ trưởng Phủ Thủ tướng (1958), Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1963 - 1965)[2] và là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lâu nhất Việt Nam (1965 - 1980)[3]. Đây là thời kỳ khó khăn, gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang, hào hùng và oanh liệt của dân tộc. Chính trong thời gian đó, mặt trận đối ngoại đã giành được những thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam. Sau khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, tiến hành công cuộc tái thiết sau hơn 30 năm bị tàn phá bởi các cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc; vừa tranh thủ sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và cộng đồng thế giới, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận. Chính trong thời kỳ đó, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc./.

Sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (năm 1980)[4] ông tham gia vào Ban nghiên cứu chiến lược kinh tế-xã hội của TƯ Đảng và Chính phủ (1982).

Ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam suốt từ khóa I đến khóa VII.

Đóng góp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế trong hoàn cảnh có sự bất đồng sâu sắc trong phe XHCN. Việc đàm phán ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973 có công lao của ông và thay mặt phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký chính thức vào Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tặng thưởng Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ II (1951-1960) - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  2. ^ http://www.most.gov.vn/Desktop.aspx/Qua-trinh-phat-trien/Qua-trinh-phat-trien/Dong_chi_Nguyen_Duy_Trinh/
  3. ^ http://vi.wikisource.org/wiki/Ngh%E1%BB%8B_quy%E1%BA%BFt_s%E1%BB%91_863_NQ/TVQH
  4. ^ [2] Chính phủ qua các thời kỳ - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]