Lê Văn Hiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Văn Hiến
Chức vụ
Nhiệm kỳ 2 tháng 3, 1946 – Tháng 10, 1958
Tiền nhiệm Phạm Văn Đồng
Kế nhiệm Hoàng Anh
Nhiệm kỳ 2 tháng 9, 1945 – 2 tháng 3, 1946
Tiền nhiệm mới thành lập
Kế nhiệm Trương Đình Tri
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
tại Vương quốc Lào
Nhiệm kỳ tháng 8, 1962 – tháng 12, 1975
Thông tin chung
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 15 tháng 9, 1904(1904-09-15)
Đà Nẵng
Mất 15 tháng 11, 1997 (93 tuổi)
Hà Nội
Vợ Thái Thị Bôi
Lê Thị Xuyến
Binh nghiệp

Lê Văn Hiến (1904-1997) là nhà cách mạng, chính trị gia, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chínhBộ Lao động Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại biểu Quốc hội khóa I, II, III. Ông cũng là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền đầu tiên và duy nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Vương quốc Lào.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 9 năm 1904[1] trong một gia đình nghèo tại xóm Cây Thông, thuộc xã Phước Ninh, thành phố Đà Nẵng. Thuở nhỏ, ông học tại Đà Nẵng và Huế, sau đó trở thành nhân viên của Sở Bưu điện Đà Nẵng[2].

Quá trình hoạt động cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1927, ông cùng với Lê Quang Sung, Thái Thị Bôi... tham gia thành lập chi bộ đầu tiên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tại Đà Nẵng, sau đó được cử đi dự Hội nghị Kỳ bộ Trung Kỳ của Hội vào tháng 4 năm 1928[3].

Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1931, ông bị chính quyền Pháp bắt cùng với vợ là Thái Thị Bôi, ngày 24 tháng 3 bị kết án 5 năm tù, phải đi đày tại nhà ngục Kon Tum.

Sau khi được trả tự do vào tháng 11-1935, ông đoàn tụ cùng vợ và tiếp tục hoạt động bí mật tại Đà Nẵng. Năm 1936, hai vợ chồng ông và Nguyễn Sơn Trà đã mở hiệu sách Việt Quảng, chuyên kinh doanh, xuất bản sách báo tiến bộ. Nơi đây còn là một cơ sở hoạt động công khai của Xứ ủy Trung Kỳ, tụ điểm liên lạc của các đảng viên cộng sản địa phương và trong vùng, trong đó có những nhà cách mạng như Phan Thanh, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai... đã từng đến hoạt động[4]. Hiệu sách đã thu hút rất đông lượng độc giả từ nhiều giới trong vùng, bên cạnh đó còn kinh doanh thêm cả các mặt hàng gia dụng và nông sản nên ngày càng phát đạt.

Tuy nhiên, một thời gian sau, hiệu sách lại gặp khó khăn, bị vỡ nợ, dẫn đến Lê Văn Hiến lại phải ra tòa, bị 6 tháng tù giam[5]. Từ đó, cửa hiệu phải di chuyển cơ sở, đổi tên thành Việt Quang và chuyển cho Nguyễn Sơn Trà làm chủ.

Đến thời kỳ Mặt trận Binh dân, năm 1936 Lê Văn Hiến mới được ra tù và theo chủ trương của tổ chức cách mạng, Lê Văn Hiến tham gia Đảng Xã hội của Pháp chi nhánh Đông Dương. Giống như ở ngoài Bắc, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp (với các bút danh Qua Ninh và Vân Đình) viết sách "Vấn đề Dân cày", thì ở miền Trung, Lê Văn Hiến và Nguyễn Sơn Trà cũng viết và xuất bản sách "Vấn đề Dân cày" và vì việc chung mà dấn thân vào hoạt động nghị trường trong cuộc Vận động Đông Dương Đại hội cũng như tham gia bầu cử Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Để hỗ trợ cho cuộc vận động dân chủ, năm 1938, Lê Văn Hiến nhận nhiệm vụ viết sách "Ngục Kontum" để tố cáo tội ác thực dân cùng lúc với cuốn sách của nhà báo cánh tả André Viollis "Indochine SOS" (Đông Dương cấp cứu) đang làm xúc động dư luận nước Pháp.

Hoạt động công khai và tham gia Đảng Xã hội (đang cầm quyền ở chính quốc) nhưng Lê Văn Hiến trong con mắt của chính quyền thuộc địa không chỉ là "kẻ phiến loạn" mà còn là "những tên cầm đầu cộng sản" như trong các văn bản của mật thám nêu đích danh. Và Lê Văn Hiến lại bị bắt vào tháng 2/1938, trước cả khi chính quyền thuộc địa có chủ trương đàn áp sau khi Mặt trận Bình dân đổ.

Tháng 5 năm 1940, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa hiệu sách Việt Quang, Lê Văn Hiến và Nguyễn Sơn Trà đều bị bắt. Lần bắt thứ ba này, ông lại bị giam giữ trong 5 năm, cho đến khi Nhật đảo chính Pháp mới được thả tự do.

Tháng 8 năm 1945, Lê Văn Hiến tham gia tổng khởi nghĩa tại Đà Nẵng, trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thành phố Đà Nẵng ngay sau khi Đà Nẵng giành chính quyền.

Tham gia Chính phủ và Quốc hội nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Văn Hiến đã được bầu vào Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, theo giới thiệu của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đại diện Trung Kỳ tham gia Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, và đựơc Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra thủ đô Hà nội để đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Lao động trong Chính phủ Lâm thời.

Từ đầu tháng 12, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm Đặc phái viên Chính phủ, có nhiệm vụ đi kiểm tra, chỉnh đốn các cơ quan chính quyền địa phương, kinh lý các mặt trận Trung Bộ và Nam Bộ.

Tháng 3 năm 1946, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ông giữ cương vị này trong suốt những năm kháng chiến.

Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, và một trong số 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp năm 1946 (thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL ngày 20 tháng 9 năm 1945)[6], đồng thời giữ vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Tối cao khóa đầu tiên (thành lập 19 tháng 8 năm 1948, cho đến 2 tháng 8 năm 1949 thì Phạm Văn Đồng lên thay ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng)[7].

Tháng 10 năm 1958, ông rời vị trí Bộ trưởng Bộ Tài chính sau 12 năm công tác.

Từ 1959-1962, ông đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (tiền thân của Bộ Kế hoach và Đầu tư Việt Nam[8], trong 3 năm tham gia gây dựng Uỷ ban Kế hoạch Quốc gia chuẩn bị cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội khởi đầu bằng Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965).

Ông là Đại biểu Quốc hội các khóa II, III,

Năm 1962 ông được bổ nhiệm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Vương quốc Lào (1962-1975)[9].

Năm 1976, ông về hưu, làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí Thăng Long.

Trong quá trình hoạt động cách mạng Lê Văn Hiến chưa từng tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng, tham gia thực hiện hơn 50 nhiệm vụ khác nhau trong bộ máy lãnh đạo, có 5 lần giữ hàm bộ trưởng, Đại sứ, phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Quốc gia. Ông cũng từng là Đại biểu dự một Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam khi đã về hưu.

Lê Văn Hiến mất vào ngày 15 tháng 11 năm 1997, hưởng thọ 94 tuổi.

Tác phẩm xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bạc tín phiếu (trong kháng chiến chống Pháp)
  • Ngục Kontum (1938)
  • Nhật kí của một bộ trưởng (1996)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã kết hôn hai lần, có hai đời vợ:

  • Người vợ đầu là bà Thái Thị Bôi (1911-1938), cũng là một nhà cách mạng, hoạt động cùng ông trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Đảng Cộng sản Đông Dương. Bà kết hôn với ông vào cuối năm 1929, cùng chồng bị bắt năm 1930, sau một thời gian được thả ra. Ra khỏi khám Sài Gòn, bà sinh con trai đầu lòng, tuy nhiên do bà bị tra tấn và điều kiện khắc nghiệt trong tù trước đó, nên đứa trẻ được một tháng thì mắc bệnh rồi chết. Sau khi Lê Văn Hiến được trả tự do, bà cùng chồng hoạt động tại thành phố Đà Nẵng. Do làm việc quá sức, bà lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 23 tháng 2 năm 1938[10]. Hai ông bà có một con gái Lê Ngọc Ái [11].
  • Người vợ hai là bà Lê Thị Xuyến (1909-1996), Chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Trước đấy, bà Xuyến đã kết hôn với Phan Thanh năm 1928 và có hai con. Gia đình Phan Thanh-Lê Thị Xuyến và Lê Văn Hiến-Thái Thị Bôi là hai gia đình thân thiết. Về sau Phan Thanh mất năm 1939, Thái Thị Bôi cũng qua đời năm 1938. Tháng 6 năm 1949, Lê Văn Hiến và Lê Thị Xuyến tục huyền với nhau. Bà Xuyến mất năm 1996 [11].

Tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông đã được đặt cho một con đường ở quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, hai trường tiểu học và THCS ở huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang và quận Ngũ Hành Sơn. Ngoài ra tên của ông cũng được đặt cho một con đường chạy qua trường Học Viện Tài Chính thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Năm 2008, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng, đặc biệt vì những đóng góp của ông cho ngành ngoại giao[12].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kim Thơm, "Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cụ Lê Văn Hiến", trang của Bộ Tài chính. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  2. ^ Công ty Lạc Việt, "Lê Văn Hiến", Vietgle.vn. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  3. ^ "Lịch sử đấu tranh cách mạng thành phố Đà Nẵng", trang tỉnh Đà Nẵng. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  4. ^ Trần Tuấn, "Nhà báo lão thành... '9X' và bộ sưu tập báo khổng lồ", Báo Tiền Phong. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  5. ^ Nguyễn Phước Tương, "Hiệu sách Việt Quảng", Báo Đà Nẵng. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  6. ^ "Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6-1-1946)", trang của Quốc hội Việt Nam. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  7. ^ "Quốc hội trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (12/1946 - 7/1954)", trang của Quốc hội Việt Nam. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  8. ^ http://clv-triangle.vn/portal/page/portal/bkhdt/gtcbkhdt/ldqctk/cdcbtpchubkhnn
  9. ^ Về Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Lào
  10. ^ Thu Thủy, "Người con gái quang vinh của đất Quảng Nam", trang của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  11. ^ a ă "Chuyện tình của Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Lê Thị Xuyến", trang của Hội Liên hiệp Phụ nữ. Theo cuốn Chuyện tình các chính khách Việt Nam. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.
  12. ^ "Truy tặng huân chương cho lãnh đạo ngành ngoại giao", Vietnamnet. Truy cập 27 tháng 10 năm 2008.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
không có
Bộ trưởng Bộ Lao động
2 tháng 9 năm 1945Tháng 3 năm 1946
Kế nhiệm:
Trương Đình Tri
Tiền nhiệm:
Phạm Văn Đồng
Bộ trưởng Bộ Tài chính
Tháng 3 năm 1946-Tháng 10 năm 1958
Kế nhiệm:
Hoàng Anh