Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam, được lập ra theo điều 104 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992, có nhiệm vụ động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Hội đồng gồm một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch, và 4 ủy viên.
Chủ tịch của Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam là Chủ tịch nước Việt Nam. Phó chủ tịch của Hội đồng là Thủ tướng Việt Nam.
Chủ tịch đề nghị danh sách thành viên của hội đồng để Quốc hội Việt Nam phê chuẩn. Thành viên của Hội đồng Quốc phòng và An ninh không nhất thiết là đại biểu Quốc hội của Việt Nam.
Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng Quốc phòng và An ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt, quyết định những vấn đề sống còn của một quốc gia như tuyên bố các tình trạng khẩn cấp, ra quyết định hành động cho chính phủ, quân đội, công an, ngoại giao để bảo vệ tổ quốc[cần dẫn nguồn]. Lúc đó chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh có thể kiêm luôn Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang hoặc giao cho Bộ trưởng Quốc phòng[cần dẫn nguồn]. Hội đồng Quốc phòng và An ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Trước đó cơ quan này có tên gọi là Hội đồng Quốc phòng Tối cao (1948-1959), rồi Hội đồng Quốc phòng (1960-1992).
Hội đồng Quốc phòng Tối cao [sửa]
Hội đồng Quốc phòng Tối cao được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1948, gồm có 6 thành viên:
- Chủ tịch Hội đồng: Hồ Chí Minh (Chủ tịch Chính phủ)
- Phó Chủ tịch Hội đồng: Lê Văn Hiến (Bộ trưởng Bộ Tài chính)
- Các ủy viên: Phan Kế Toại (Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Võ Nguyên Giáp (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ), Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Kinh tế), Tạ Quang Bửu (Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).
Ngày 2 tháng 8 năm 1949, có thay đổi nhỏ về nhân sự Hội đồng Quốc phòng Tối cao: Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng mới được bổ nhiệm tham gia Hội đồng và làm Phó Chủ tịch Hội đồng thay Lê Văn Hiến. Như vậy Hội đồng có 7 thành viên, ngoài Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng, các thành viên còn lại là: Lê Văn Hiến, Phan Kế Toại, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Tạ Quang Bửu.
Hội đồng Quốc phòng [sửa]
Hội đồng Quốc phòng, theo Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng. Theo đề nghị của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Quốc hội quyết định cử Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quốc phòng. Hội đồng quốc phòng động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc.
Hiến pháp 1980 có ghi: Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước có thể giao cho Hội đồng quốc phòng những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt.
Danh sách Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà [sửa]
1960-1964 [sửa]
- Chủ tịch: Hồ Chí Minh
- Phó chủ tịch: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp
- Uỷ viên: Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Chu Văn Tấn
1964-1971 [sửa]
- Chủ tịch: Hồ Chí Minh (đến năm 1969); Tôn Đức Thắng (từ năm 1969)
- Phó chủ tịch: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp
- Uỷ viên: Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Chu Văn Tấn, Song Hào
1971-1975 [sửa]
- Chủ tịch: Tôn Đức Thắng
- Phó chủ tịch: Phạm Văn Đồng
- Uỷ viên: Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Côn, Chu Văn Tấn, Song Hào, Trần Hữu Dực
1975-1976 [sửa]
- Chủ tịch: Tôn Đức Thắng
- Phó chủ tịch: Phạm Văn Đồng
- Uỷ viên: Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Song Hào
Danh sách Hội đồng Quốc phòng và An ninh [sửa]
Hiện nay, cơ cấu Hội đồng Quốc phòng và An ninh gồm :
- Chủ tịch: Chủ tịch nước
- Phó chủ tịch:Thủ tướng
- Ủy viên: Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an , Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao , Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
2002-2006 [sửa]
- Chủ tịch :Trần Đức Lương
- Phó chủ tịch :Phan Văn Khải
- Ủy viên: Nguyễn Văn An, Lê Hồng Anh, Nguyễn Dy Niên, Phạm Văn Trà.
2006-2011[1] [sửa]
- Chủ tịch : Nguyễn Minh Triết
- Phó chủ tịch : Nguyễn Tấn Dũng
- Ủy viên: Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh, Phạm Gia Khiêm, Phùng Quang Thanh.
2011- nay[2] [sửa]
- Chủ tịch :Trương Tấn Sang
- Phó Chủ tịch : Nguyễn Tấn Dũng
- Ủy viên : Nguyễn Sinh Hùng ,Trần Đại Quang, Phạm Bình Minh, Phùng Quang Thanh.