Dân quân tự vệ (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huy hiệu của lực lượng Dân quân tự vệ Việt Nam

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận cấu thành của lực lượng vũ trang tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Chính phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương có trách nhiệm bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước ở cấp xã, cơ quan, tổ chức.

Theo Luật Dân quân tự vệ số 43/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội Việt Nam khóa XII, dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác. Lực lượng này được tổ chức ở , phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan, tổ chức gọi là tự vệ.

Nghĩa vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Công dân Việt Nam, nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt, đều có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ. Thời gian thực hiện nghĩa vụ dân quân tự vệ nói chung là 4 năm.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Dân quân tự vệ có nhiệm vụ:

  • Đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở
  • Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
  • Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch họa và các sự cố nghiêm trọng khác
  • Các nhiệm vụ khác quy định trong Pháp lệnh Dân quân tự vệ.
  • Để mắt tới những gì người dân làm để tìm kiếm dấu hiệu lật đổ chế độ và sẽ báo cáo điều này cho Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an[1].

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Phân theo mức độ sử dụng, dân quân tự vệ chia làm dân quân tự vệ nòng cốt và dân quân tự vệ rộng rãi. Dân quân tự vệ nòng cốt gồm những người đang thực hiện nghĩa vụ dân quân tự vệ. Dân quân tự vệ rộng rãi gồm những thành viên dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và công dân trong độ tuổi nói trên

Phân theo mức độ cơ động, dân quân tự vệ nòng cốt chia làm 3 loại: dân quân cơ động, dân quân tại chỗ và dân quân thường trực.

Phân theo biên chế, dân quân tự vệ nòng cốt chia làm 3 loại: dân quân tự vệ bộ binh, dân quân tự vệ binh chủng, và dân quân tự vệ biển.

Dân quân tự vệ được biên chế thành đơn vị gồm các cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, thôn đội, xã đội.

Lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư đảng ủy ban chỉ huy quân sự hoặc chính trị viên của lực lượng tự vệ là bí thư đảng bộ hoặc phó bí thư thường trực của các cấp chính quyền, đơn vị.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Luật Dân quân tự vệ số 43/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội Việt Nam khóa XII.