Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác
Hoạt động 25/4/1991 (&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000216.000000216 ngày)
Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phân loại Bệnh viện (Nhóm 5)
Chức năng Là viện thực hành của Học viện Quân y
Quy mô 1.500 người
  • 05 Phòng Ban cơ quan
  • 15 Khoa khám chữa bệnh
Bộ phận của Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Bộ chỉ huy 263, đường Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội
Tên khác Viện Bỏng Quốc Gia
Các tư lệnh
Giám đốc PGS.TS Nguyễn Gia Tiến
Chính ủy TS. Nguyễn Việt Lượng

Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác [1] là một trong 2 bệnh viện thực hành của Học viện Quân y thuộc Bộ Quốc phòng được thành lập theo quyết định số 142-CT của Hội đồng Bộ trưởng ký ngày 25/4/1991 trên cơ sở Khoa Bỏng (B3), Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thuộc Viện Quân y 103 - Học Viện Quân y.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 01 tháng 12 năm 1964, thành lập Khoa Bỏng trên cơ sở Khoa Ngoại dã chiến - Viện Quân y 103 do Bác sĩ Lê Thế Trung làm Chủ nhiệm khoa. Biên chế lúc đó gồm 18 người, trong đó có 03 bác sĩ, 02 y sĩ, 09 y tá và 04 công vụ. 

Nhiệm vụ của khoa bỏng: điều trị, huấn luyện và nghiên cứu khoa học về bỏng, đặc biệt là bỏng chiến tranh.

  • Ngày 25 tháng 04 năm 1991, Phó Chủ Tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Khánh đã ký Quyết định số 142/CT, thành lập Viện Bỏng Quốc gia mang tên Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê hữu Trác, gọi tắt là Viện Bỏng Lê Hữu Trác trên cở sở phát triển từ khoa Bỏng (BM3), Viện Quân y 103. Viện Bỏng được đặt tại 263 đường Phùng Hưng, phường Phú La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội .
  • Là viện đầu ngành Bỏng của quân và dân trong cả n­ước.
  • Là một trong hai Bệnh viện thực hành của Học viện Quân y

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nghiên cứu các phương pháp phòng và chống bỏng, xử lý bước đầu tại tuyến cơ sở.
  • Theo dõi, hướng dẫn về chuyên môn, kỹ thuật chuyên khoa bỏng trong cả nước.
  • Khám và điều trị bỏng cho nhân dân và quân đội, cũng như các di chứng bỏng do các bệnh viện tuyến gửi lên.
  • Cùng với các Trường đại học y đào tạo, bổ túc cán bộ chuyên khoa bỏng.
  • Hợp tác về khoa học thuộc lĩnh vực chuyên khoa bỏng với các bệnh viện, các viện nghiên cứu trong nước, ngoài nước và các tổ chức y tế thế giới theo sự chỉ đạo của Bộ Y tế.

Ban Giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc: Thiếu tướng PGS.TS Nguyễn Gia Tiến
  • Chính ủy: Đại tá TS Nguyễn Việt Lượng
  • Phó Giám đốc: Đại tá PGS.TS Nguyễn Ngọc Tuấn
  • Phó Giám đốc: Đại tá PGS.TS Nguyễn Như Lâm

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Kế hoạch Tổng hợp
  • Phòng Tham mưu Hành chính Hậu cần
  • Phòng Chính trị
  • Phòng Y tá điều dưỡng
  • Ban Tài chính

Khoa và Bộ môn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bộ môn Bỏng và Thảm họa(Học viện Quân y).
  • Khoa Cận Lâm sàng
  • Khoa Chẩn đoán Hình ảnh
  • Khoa Dược
  • Khoa Trang bị
  • Khoa Dinh dưỡng
  • Khoang Chống nhiễm khuẩn
  • Phòng Khám bệnh
  • Khoa Hồi sức cấp cứu
  • Khoa Bỏng trẻ em
  • Khoa Bỏng người lớn
  • Khoa Vật lý trị liệu tạo hình thẩm mỹ
  • Khoa Liền vết thương
  • Khoa Gây mê
  • Labo nghiên cứu ứng dụng trong điều trị bỏng

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. - Điều trị: trong 10 nǎm (1991-2001), Viện đã cấp cứu điều trị trên 18000 lượt bệnh nhân đã điều trị thành công bệnh nhân bỏng chung 85% diện tích cơ thể trong đó 50% diện tích bỏng sâu. Tham gia cấp cứu điều trị các nạn nhân bỏng trong các vụ cháy lớn trong toàn quốc.
  2. - Công tác đào tạo: giảng dạy về bỏng cho 500 bác sĩ cơ sở, 300 bác sĩ dài hạn, 45 bác sĩ chuyên khoa sơ bộ, chuyên khoa I, 8 bác sĩ chuyên khoa II, 22 thạc sỹ, 8 tiến sỹ.
  3. - Nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các loại thuốc chữa bỏng: B76, Maduxin, AT 04, SH 91, Eopolin, Đampomade. Hoàn thành 5 đề tài nhánh cấp nhà nước, nhiều đề tài cấp Bộ, cấp Viện. Triển khai và hợp tác nghiên cứu nuôi cấy tế bào sừng, bǎng dính công nghệ Nano;bǎng sinh học trung bì làm từ da lợn, da ếch.

Khen thưởng[2][sửa | sửa mã nguồn]

  • Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 1989 (Bộ môn Bỏng - Khoa Bỏng, Bệnh viện 103)
  • Anh hùng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới năm 2007 (Viện Bỏng Lê Hữu Trác).
  • Huân chương Quân công Hạng Ba  năm 1995
  • Huân chương Chiến công Hạng Nhất năm 1979 
  • Huân chương Chiến công Hạng Nhất năm 1996
  • Huân chương Chiến công Hạng Nhì năm 1979
  • Huân chương Chiến công Hạng Nhì  năm1981
  • Huân chương Chiến công Hạng Ba   năm 2002
  • Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2004
  • Cờ thưởng của Thủ tướng Chính phủ năm 2004
  • Bằng khen của Chính phủ về thực hiện ca ghép gan đầu tiên năm 2004
  • Bằng khen của Bộ Quốc phòng: 2003,  2004, 2007
  • Bằng khen của Bộ Y tế1992, 1994, 1995, 1997, 2004, 2005
  • Cờ thưởng của Công đoàn Y tế Việt Nam: 2004, 2005, 2006, 2007
  • Bằng khen của Bộ Đại học và THCN năm 1984
  • Bệnh viện Xuất sắc toàn diện: 2006, 2007, 2008; 2009
  • Cờ th­ưởng Chính phủ: 2009 

Giám đốc qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Việt Lượng, Đại tá

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]