Lê Thế Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lê Thế Trung là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, GS.TSKH, Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nguyên là Giám đốc Học viện Quân y, Giám đốc sáng lập Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác, Viện trưởng Viện Quân Y 103, Viện trưởng đầu tiên Viện Quân Y 6, Chủ tịch danh dự Hội Bỏng Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng chuyên môn ghép tạng Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng tư vấn y học thảm họa và bỏng Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Ngoại khoa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ.

Cuộc đời & sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng chí tham gia cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa cướp Chính quyền tại Hà Nội. Tháng 4 năm 1946, đồng chí nhập ngũ học lớp Y tá của Cục Quân y.

Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 2 năm 1949, đồng chí là Y tá Đại đội thuộc Trung đoàn 148 Sơn La. Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, đồng chí học Trường Quân Y sỹ Việt Bắc.

Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 10 năm 1954, đồng chí là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. 

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, đồng chí là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350.

Từ tháng 3 năm 1956 đến tháng 4 năm 1957, đồng chí học lớp Y sỹ cao cấp Trường Sỹ quan Quân y. Từ tháng 5 năm 1957 đến tháng 11 năm 1958, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6. Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 7 năm 1961, đồng chí là bác sỹ khoa ngoại giã chiến Viện Quân y 103. 

Từ tháng 8 năm 1961 đến tháng 8 năm 1964, đồng chí thực tập sinh tại Liên Xô.

Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 7 năm 1965, đồng chí là Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103. Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 2 năm 1966, đồng chí công tác tại chiến trường Quân khu 5.

Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967, đồng chí là Viện phó Viện Quân y 103. Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968, đồng chí là Trưởng đoàn Quân y đi phục vụ chiến dịch Khe Sanh.

Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, đồng chí là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 6 năm 1975, đồng chí làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.

Từ tháng 7 năm 1975 đến tháng 6 năm 1978, đồng chí là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103. Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979, đồng chí học tại Trường Nguyễn Ái Quốc.

Từ tháng 6 năm 1979 đến tháng 11 năm 1982, đồng chí là Phó Viện trưởng Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Quân y 103.

Từ tháng 11 năm 1984 đến tháng 2 năm 1986, đồng chí thực tập sinh, làm tiến sỹ ở Liên Xô.

Từ tháng 3 năm 1986 đến tháng 7 năm 1986, đồng chí là Phó Viện trưởng Học viện Quân y.

Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 5 năm 1988, đồng chí là Viện trưởng Học viện Quân y.

Từ tháng 8 năm 1991 đến năm 1995, đồng chí là Giám đốc Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Bỏng lê Hữu Trác, là người sáng lập Viện Bỏng Quốc gia.

Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 5 năm 2003, đồng chí là Chuyên viên Học Viện Quân y, Viện Bỏng Lương Hữu Trác. Đồng chí là chuyên viên, Chủ tịch Hội đồng ghép tạng, Hội đồng Y học thảm họa bỏng. Tháng 6 năm 2003, đồng chí được Nhà nước cho nghỉ hưu. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều lần đồng chí đi chiến trường mổ cứu sống hàng trăm trường hợp vết thương hiểm nghèo, hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị cứu chữa thành công cho 80 thương binh bị suy mòn do bỏng gây ra.

Đồng chí là tác giả hơn 50 đề tài nghiên cứu y học có giá trị, phổ biến kịp thời phục vụ chiến đấu, giảm tỷ lệ tử vong. 

Đồng chí đào tạo và bồi dưỡng 32 bác sỹ có trình độ chuyên sâu về bỏng và xây dựng chuyên khoa bỏng ở tuyến điều trị cao nhất của quân đội.

Đồng chí đã nghiên cứu 50 loại cây thuốc chữa bỏng có giá trị, đặc biệt là thuốc chữa bỏng B76, được tặng thưởng huy chương trong nước và  quốc tế.

Đồng chí đã hướng dẫn trên 20 luận án tiến sỹ, là Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sỹ.

Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu các công trình khoa học và  là tác giả của 40 đầu sách chuyên khoa và giáo khoa (có 2 đầu sách xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp)

Là đồng tác giả của 110 đầu sách khoa học, là tác giả của 75 báo cáo khoa học đã được đăng trong các tạp chí trong nước và nước ngoài.

Là Chủ nhiệm 6 đề tài khoa học cấp bộ, 3 đề tài khoa học cấp nhà nước, được bằng sáng chế độc quyền 15 năm về công trình thuốc Phêlamin, đã báo cáo khoa học 12 lần ở nước ngoài và 6 lần ở Hội nghị quốc tế và trong nước.

Đã 7 lần là Chủ trì Tổ chức Hội nghị quốc tế trong nước. Được Hội đồng quốc tế công nhận là chuyên viên quốc tế; được tổ chức Y tế thế giới và khu vực mời 3 lần làm tư vấn khoa học trong các hội thảo quốc tế; Tổ chức và chỉ đạo thực hiện những ca ghép thận đầu tiên và trong 10 năm từ năm 1992 đến năm 2003, đã tham gia hàng trăm ca ghép thận và mới đay tham gia ghép gan thành công.

12. Học vị: Phó tiến sỹ Y học năm 1975 (tại Liên Xô), Tiến sỹ Khoa học năm 1986 (Liên Xô); Tiến sỹ khoa học Các nền Y học Cổ truyền (Côlômbô), năm 1995.

13. Học hàm: Phó giáo sư, năm 1981; Giáo sư năm 1984.        

14.Danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978, Thày thuốc nhân dân.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai cả của ông là GS.TS.BS, Nhà giáo ưu tú Lê Trung Hải, Phó Cục trưởng Cục Quân Y, Bộ Quốc Phòng Việt Nam.

Phu nhân GS. Hải là PGS.TS.BS, Thầy thuốc ưu tú Phan Việt Nga hiện là Trưởng khoa Nội thần kinh - Bệnh viện 103.

Gia đình của ông đã có 3 đời cùng học tập và cống hiến trong ngành Y.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ.

Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Thầy thuốc nhân dân.

Huân chương Quân công hạng Nhì.

Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Hai Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Huy hiệu Bác Hồ (1969).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]