Lê Thế Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Thế Trung
Chức vụ
Nhiệm kỳ 1986 – 1995
Tiền nhiệm Thiếu tướng GS.TS Phạm Thúc Mậu
Kế nhiệm Trung tướng GS.TS Phạm Gia Khánh
Khu vực Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Viện trưởng Viện Quân y 103
Nhiệm kỳ 1983 – 1984
Tiền nhiệm PGS. Lê Cao Đài
Kế nhiệm GS. Bùi Xuân Tám
Giám đốc sáng lập Viện bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác
Nhiệm kỳ 1991 – 1995
Kế nhiệm Thiếu tướng GS.TS Lê Năm
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 5 tháng 4, 1928 (86 tuổi)
Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội
Nơi ở Hà Nội
Tôn giáo Không
Lê Thế Trung
Tiểu sử
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

5 tháng 4, 1928 (86 tuổi)

Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1945 - nay
Cấp bậc Vietnam People's Army Major General.jpgThiếu tướng
Chỉ huy
  • Quân y Trung đoàn 209
  • Quân y Trung đoàn 254
  • Quân y Quân khu Tây Bắc
  • Bệnh viện quân y 6
  • Bệnh viện quân y 103
  • Viện Bỏng quốc gia
  • Học viện Quân y
Tham chiến Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh chống Mỹ
Khen thưởng
  • Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dânAnhhunglucluongvutrang2.png
  • Huân chương Quân công hạng Nhì
  • Huân chương Chiến công hạng nhấtFeat Order.png
  • Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất
  • Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhấtGlorious Fighter Medal.png
  • Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhất
  • Huy chương Quân kỳ Quyết thắngDetermined to Win Military Flag Medal.png
  • Huy hiệu Bác Hồ
  • Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng
Công việc khác
  • Chủ tịch danh dự Hội bỏng Việt Nam
  • Chủ tịch Hội đồng chuyên môn ghép tạng Việt Nam
  • Chủ tịch Hội đồng tư vấn y học thảm họa và bỏng Việt Nam
  • Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội
  • Phó Chủ tịch Hội Ngoại khoa Việt Nam
  • Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam
  • Uỷ viên Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia

Lê Thế Trung (sinh năm 1928), là tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học, Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân, Thầy thuốc Nhân dân, nguyên là Giám đốc Học viện Quân y, Giám đốc sáng lập Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác, Viện trưởng Viện Quân y 103, Viện trưởng đầu tiên Viện Quân y 6.[1]

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê ở xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, tham gia cách mạng ngày 15 tháng 8 năm 1945, tham gia khởi nghĩa cướp Chính quyền tại Hà Nội.

Tháng 4 năm 1946, ông nhập ngũ học lớp Y tá của Cục Quân y.

Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 2 năm 1949, ông là Y tá Đại đội thuộc Trung đoàn 148 Sơn La.

Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông học Trường Quân Y sỹ Việt Bắc.

Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 10 năm 1954, ông là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. 

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956, ông là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 254, 53, Sư đoàn 350.

Từ tháng 3 năm 1956 đến tháng 4 năm 1957, ông học lớp  Y sỹ cao cấp Trường Sỹ quan Quân y.

Từ tháng 5 năm 1957 đến tháng 11 năm 1958, ông là Phó Chủ nhiệm Quân y Quân khu Tây Bắc, Viện trưởng Viện Quân y 6.

Từ tháng 12 năm 1958 đến tháng 7 năm 1961, ông là bác sỹ khoa ngoại giã chiến Viện Quân y 103

Từ tháng 8 năm 1961 đến tháng 8 năm 1964, ông thực tập sinh tại Liên Xô.

Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 7 năm 1965, ông là Chủ nhiệm Khoa ngoại Viện Quân y 103

Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 2 năm 1966, ông công tác tại chiến trường Quân khu 5.

Từ tháng 3 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967, ông là Viện phó Viện Quân y 103

Từ tháng 1 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968, ông là Trưởng đoàn Quân y đi phục vụ chiến dịch Khe Sanh.

Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103.

Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 6 năm 1975, ông làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô.

Từ tháng 7 năm 1975 đến tháng 6 năm 1978, ông là Phó Viện trưởng Viện Quân y 103.

Từ tháng 7 năm 1978 đến tháng 5 năm 1979, ông học tại Trường Nguyễn Ái Quốc

Từ tháng 6 năm 1979 đến tháng 11 năm 1982, ông là Phó Viện trưởng Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Quân y 103

Từ tháng 11 năm 1984 đến tháng 2 năm 1986, ông thực tập sinh, làm tiến sỹ ở Liên Xô.

Từ tháng 3 năm 1986 đến tháng 7 năm 1986, ông là  Phó Viện trưởng Học viện Quân y

Từ tháng 8 năm 1986 đến tháng 5 năm 1988, ông là  Viện trưởng Học viện Quân y

Từ tháng 8 năm 1991 đến năm 1995, ông là Giám đốc Học viện Quân y, kiêm Viện trưởng Viện Bỏng lê Hữu Trác, là người sáng lập Viện Bỏng Quốc gia

Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 5 năm 2003, ông là Chuyên viên Học viện Quân y, Viện Bỏng lê Hữu Trác. Ông là chuyên viên, Chủ tịch Hội đồng ghép tạng, Hội đồng Y học thảm họa bỏng

Tháng 6 năm 2003, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu

Thiếu tướng (1988).

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Giáo sư (1981), Giáo sư (1984), Tiến sĩ (1975 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học (1986 tại Liên Xô), Tiến sĩ Khoa học các nền Y học cổ truyền (Côlômbô) năm 1995. Ông được phong Thầy thuốc Nhân dân.

Chủ tịch danh dự Hội Bỏng Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng chuyên môn ghép tạng Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng tư vấn y học thảm họa và bỏng Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Ngoại khoa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia.[2]

Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1978)

Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ.

Huân chương Quân công hạng nhì

Huân chương Chiến thắng hạng hai

Hai Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì

Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất

Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba

Huy chương Quân kỳ Quyết thắng

Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai cả là Lê Trung Hải, Thiếu tướng GS.TS.BSCC, Nhà giáo ưu tú, Phó Cục trưởng Cục Quân y, Bộ Quốc phòng.

Gia đình của ông đã có 3 đời cùng học tập và cống hiến trong ngành Y.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đức Trung (3 tháng 2 năm 2010). “GS.TSKH Lê Thế Trung: Nghề y phải lấy tâm, đức làm đầu”. Hà Nội Mới. 
  2. ^ Trần Duy Hiển (1 tháng 3 năm 2010). “Giáo sư Lê Thế Trung - Vị tướng lương y”. báo Công an Nhân dân. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]