Thanh Trì

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh Trì
Địa lý
Huyện lỵ Văn Điển
Vị trí: Đông nam Hà Nội
Diện tích: 63,17 km²
Số xã, thị trấn: 15 xã, 1 thị trấn
Dân số
Số dân: 198.706 (2009)
Mật độ: 3.145 người/km²
Thành phần dân tộc: {{{Dân tộc}}}
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Trần Văn Khương
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Vũ Văn Nhàn
Bí thư Huyện ủy: Trần Văn Khương

Dân tộc = Kinh

Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: (84) (04)
Số fax trụ sở: (84) (04)
Website: http://www.hanoi.gov.vn/


Thanh Trì là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Thanh Trì gồm thị trấn Văn Điển và 15 xã: Thanh Liệt, Đông Mỹ, Yên Mỹ, Duyên Hà, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Ngọc Hồi, Vĩnh Quỳnh, Tả Thanh Oai, Đại Áng, Vạn Phúc, Liên Ninh, Hữu Hòa, Tân Triều.

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Thanh Trì nằm ven phía NamĐông Nam Hà Nội, giáp các quận: Thanh Xuân (phía Tây Bắc), Hoàng Mai (phía Bắc), Hà Đông (phía Tây), huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên với Sông Hồng là ranh giới tự nhiên (phía Đông), huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín (phía Nam).

Huyện Thanh Trì nằm ở hữu ngạn sông Hồng, địa thế thấp dần về phía Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng, trên địa bàn huyện có đoạn cuối của sông Tô Lịch chảy qua nối với sông Nhuệ ở phía Tây Nam.

Địa hình của huyện Thanh Trì thấp với nhiều điểm trũng nhất là khu Đồng Trì. Sông Hồng nhiều lần chuyển dòng để lại vết tích những điểm trũng này là các ao, hồ, đầm. Tên huyện Thanh Trì (chữ Hán: 青池) và tên cổ Thanh Đàm (青潭) có nghĩa "ao xanh" và "đầm xanh" chính là dựa vào đặc điểm địa hình của huyện. Do kỵ húy vua Lê Thế Tông nên đổi thành Thanh Trì.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1945, huyện Thanh Trì thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Ngày 20 tháng 4 năm 1961, huyện Thanh Trì được sáp nhập vào Hà Nội (trừ 4 xã: Liên Ninh, Việt Hưng (Ngọc Hồi), Đại Thanh (Tả Thanh Oai), Thanh Hưng (Đại Áng) nhập vào huyện Thường Tín; 4: xã Hữu Hòa, Kiến Hưng, Cự Khê, Mỹ Hưng nhập vào huyện Thanh Oai)[1]. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, lập huyện Thanh Trì mới trên cơ sở hợp nhất huyện Thanh Trì cũ và quận VII cũ[2], gồm thị trấn Văn Điển và 21 xã: Đại Kim, Định Công, Đông Mỹ, Duyên Hà, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Khương Đình, Lĩnh Nam, Ngũ Hiệp, Tam Hiệp, Tân Triều, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Vĩnh Tuy, Yên Mỹ, Yên Sở.

Ngày 9 tháng 8 năm 1973, tách một phần 2 xã Hoàng Văn Thụ, Thịnh Liệt về khu phố Hai Bà Trưng quản lý để thành lập 2 tiểu khu Giáp Bát, Tương Mai.

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, 4 xã: Liên Ninh, Ngọc Hồi, Đại Áng, Tả Thanh Oai của huyện Thường Tín và xã Hữu Hòa của huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình sáp nhập vào huyện Thanh Trì[3]. Từ đó, huyện Thanh Trì có thị trấn Văn Điển và 26 xã: Đại Áng, Đại Kim, Định Công, Đông Mỹ, Duyên Hà, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Hữu Hòa, Khương Đình, Liên Ninh, Lĩnh Nam, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Vĩnh Tuy, Yên Mỹ, Yên Sở.

Ngày 13 tháng 10 năm 1982, cắt thôn Mai Động của xã Hoàng Văn Thụ về quận Hai Bà Trưng quản lý để thành lập phường Mai Động.[4]

Ngày 26 tháng 10 năm 1990, chuyển xã Hoàng Văn Thụ về quận Hai Bà Trưng quản lý để thành lập phường Hoàng Văn Thụ.

Ngày 22 tháng 11 năm 1996, xã Khương Đình thuộc huyện Thanh Trì được cắt ra để thành lập quận Thanh Xuân[5], khi đó diện tích tự nhiên của huyện Thanh Trì là 9.791 ha (97,91 km²), gồm 24 xã: Tân Triều, Thanh Liệt, Đại Kim, Định Công, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Yên Sở, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Hữu Hòa, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Vĩnh Quỳnh, Tứ Hiệp, Yên Mỹ, Ngũ Hiệp, Duyên Hà, Đông Mỹ, Yên Mỹ, Đại Áng, Ngọc Hồi, Liên Ninh và 1 thị trấn Văn Điển.

Ngày 6 tháng 11 năm 2003, 9 xã thuộc huyện Thanh Trì là: Đại Kim, Định Công, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Yên Sở, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú và 55ha diện tích tự nhiên của xã Tứ Hiệp được cắt ra để hợp với 5 phường của quận Hai Bà Trưng là: Tương Mai, Tân Mai, Mai Động, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thành quận Hoàng Mai[6]. Sau khi chia tách, diện tích huyện Thanh Trì chỉ còn 6.317,27 ha với dân số 147.788 người (2003), xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì còn lại 412,20 ha và 9.584 người.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh Trì là huyện sản xuất nông nghiệp. Các sản phẩm chính là lúa, ngô, đậu đỗ, rau xanh.
  • Về công nghiệp có: nhà máy phân lân Văn Điển, nhà máy pin Văn Điển, nhà máy đệm Hanvico, nhà máy lắp ráp ô tô GM, khu công nghiệp Ngọc Hồi.

Cơ sở giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đại học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường THPT Ngọc Hồi
  • Trường THPT Ngô Thì Nhậm
  • Trường THPT Việt Nam - Ba Lan
  • Trung tâm giáo dục thường xuyên Đông Mỹ

Các trường đại học, cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Công trình thủy[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đập điều tiết Thanh Liệt, nằm trên sông Tô Lịch;
  • Hồ điều hòa Yên Sở và trạm bơm Yên Sở (thuộc địa phận huyện cũ);

Hai công trình trên là hai công trình đầu mối của hệ thống thoát nước của thành phố Hà Nội ra sông Nhuệ, sông Đáysông Hồng.

  • Trạm bơm tiêu Đông Mỹ nằm ở phía Nam của huyện nhưng ít được sử dụng.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc lộ 1A và đường quốc lộ 1A mới (Pháp Vân - Cầu Giẽ) chạy qua;
  • Sông Hồng chảy men theo phía Đông huyện, điểm cuối qua xã Yên Mỹ, Duyên Hà và Vạn Phúc.
  • Đường sắt Thống Nhất, chạy dọc theo quốc lộ 1A;

Ảnh di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Tu, quê xã Thanh Liệt; danh tướng triều Lý Nam Đế.
  • Chu Văn An, quê xã Thanh Liệt;
  • Nguyễn Như Đổ, quê xã Duyên Hà;
  • Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm và các cá nhân trong Ngô gia văn phái, quê xã Tả Thanh Oai;
  • Bạch Thái Bưởi, quê làng An Phúc, xã Liên Ninh; nhà tư sản dân tộc nổi tiếng trong lĩnh vực vận tải và khai mỏ trước Cách mạng Tháng Tám.
  • Đỗ Ngọc Du, quê làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai; Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
  • Đỗ Mười, quê xã Đông Mỹ; Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ.
  • Nguyễn Thọ Chân, quê xã Đông Mỹ; Phó bí thư Thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Lao động, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô và Thụy điển.
  • Vương Thừa Vũ, quê làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh; Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Hà Nội năm 1954.
  • Vũ Lăng, quê xã Ngũ Hiệp, Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Lê Khắc, quê làng Đông Phù, xã Đông Mỹ; Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương
  • Phạm Minh Hạc, quê làng Đông Phù, xã Đông Mỹ; Tiến sĩ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Trưởng ban Khoa giáo Trung ương.
  • Tạ Hoàng Cơ quê xã Liên Ninh, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Trần Tấn (chính khách), quê xã Hữu Hòa; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Nội thương.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]