Thanh Liệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thanh Liệt là một thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thanh Liệt nằm ở phía tây bắc huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Liệt là một làng cổ, chạy dọc sông Tô Lịch trên chiều dài chừng hơn 1 km, bên sông này có chiếc cầu Quang Bình bắc qua, nối làng với làng Bằng Liệt; lại có Cầu Bươu bắc song song trên đường 70 Văn Điển - Hà Đông, không chỉ thuận tiện cho đi lại mà còn tạo ra cảnh quan đẹp. Theo bia "Quang Bình kiều bi ký" thì vào năm Long Đức thứ ba (1734), cầu bị hỏng, mẹ chúa Trịnh Doanh đã bỏ ra 200 quan tiền để sửa cầu; em chúa Trịnh Doanh cũng góp 5 quan[1].

Đầu thế kỷ 19, làng Thanh Liệt là một xã có tên là Quang Liệt, thuộc tổng Quang Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 là tỉnh Hà Nội, năm 1902 là tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông). Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), tên làng và tên tổng lại đổi là "Thanh Liệt"[1].

Ngày 20/4/1961, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá II thông qua Nghị quyết phê chuẩn mở rộng thành phố Hà Nội. Trong đó xã Thanh Liệt thuộc huyện Thanh Trì cùng với một số xã khác được chuyển từ tỉnh Hà Đông về thành phố Hà Nội[2].

Thanh Liệt là vùng đất cổ, sớm được người Việt đến tụ cư, khai phá. Năm 1926, làng có đến 2091 nhân khẩu. Cư dân sống bằng nông nghiệp, làm vườn, trồng nhiều loại cây mang tính đặc sản như vải và nhãn lồng. Vải của Thanh Liệt được Nguyễn Trãi nhắc đến trong sách Dư địa chí; còn nhãn lồng được ví ngang ổi làng Định Công ("ổi Định Công, nhãn lồng Kẻ Quang"). Làng có chợ Quang Liệt họp đầu cầu khá sầm uất[1].

Trước đây xã Thanh Liệt có 9 xóm: Thượng, Chùa Nhĩ, Bơ, Nội, Cầu, Giữa, Tràng, Vực, Văn; nay gồm các thôn: thôn Thượng, thôn Chùa Nhĩ, thôn Trung (xóm Bơ, xóm Nội, xóm Cầu, xóm Giữa, xóm Tràng), thôn Vực, thôn Văn.

Danh nhân và khoa cử[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ thứ VI, làng Thanh Liệt sản sinh một người con trở thành vị tướng tài là Phạm Tu (476 - 548).Ông có công lớn giúp Lý Bí (Lý Nam Đế) đánh đuổi giặc Lương, lập ra nước Vạn Xuân độc lập (năm 544), sau lại đánh đuổi giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi đất nước. Về sau ông hy sinh trong khi đánh nhau với tướng giặc là Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch. Dân làng lập đền thờ ông ở cánh đồng thôn Trung, gọi là Đình Ngoài[1].

Làng Thanh Liệt nổi tiếng về truyền thống học hành thành đạt. Đây là quê hương của Chu Văn An (1292 - 1370) - vị Nho thần nổi tiếng cương trực, đào tạo được nhiều học trò giỏi cho đất nước vào cuối thời Trần, trở thành vị "Thánh sư" cho nền giáo dục Nho học Việt Nam. Dân làng đã tôn ông làm Thành hoàng, thờ ông tại ngôi đình nằm trên trục đường chính ngay bên bờ sông Tô và hồ Thủy đình, gọi là Đình Trong. Cháu bốn đời của Chu Văn An là Chu Đình Báo đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức đời Vua Lê Thánh Tông (1484). Theo bia "Hoàng triều Ất Sửu" do Tiến sĩ Hoàng Đình Chuyên (1812 - ?) - người làng Linh Đàm (nay thuộc quận Hoàng Mai soạn thì làng còn có một vị Tiến sĩ nữa là Trần Thản, song các sách Đăng khoa lục không chép vị Tiến sĩ này[1].

Ghi tạc công lao của Chu Văn An và để khích lệ tinh thần học tập của người làng, dân làng đã dựng Văn chỉ tại thôn Trung vào năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765). Lúc đầu Văn chỉ ở cánh đồng xứ Đầm Tròn. Đến năm Giáp Tý đời Tự Đức (1864), Tú tài Vũ Huy Diệu cho chuyển lên khu đất cao. Văn chỉ gồm 3 gian chính cung lợp ngói, có Tả vu, Hữu vu[1].

Đầu thế kỷ XX, làng Thanh Liệt có ông Vũ Hoành (1873 - 1946) tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thụcvụ Hà Thành đầu độc, bị đày ra Côn Đảo. Về sau, bị đưa về an trí tại Sa Đéc, ông thể hiện tính khẳng khái: không nhận trợ cấp của Pháp mà tự sống bằng nghề làm thuốc chữa bệnh cho nhân dân và dạy học cho con em trong vùng. Khi giặc Pháp trở lại gây hấn, ông vào Bưng biền tham gia chiến đấu và hy sinh ngày 29 - 11 - 1946[1].

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Làng Thanh Liệt có chùa Quang Ân ở thôn Trung, theo bia "Quang Ân thạch trụ thạch kiều quán bi ký " thì cầu có từ lâu, đến năm Đinh Mùi niên hiệu Bảo Thái (1727), Nhà sư Tịnh Tuyên trụ trì chùa đứng ra quyên tiền để dựng hậu đường, tháp đá; lại cho xây cầu đá và 3 gian quán bằng đá để dân đi lại thuận tiện[1].
  • Khu tưởng niệm Chu Văn An hiện đang được quy hoạch để xây dựng với diện tích gần 50 Ha. Khu tưởng niệm sẽ nằm trên cánh đồng Thanh Liệt trước đây từ khu sân bóng bộ công an tới khu chùa Quang Ân.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e TS. Bùi Xuân Đính. “Làng Thanh Liệt”. Báo Hà Nội Mới điện tử. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010. 
  2. ^ “Địa giới thành phố Hà Nội mở rộng lần thứ nhất”. Báo điện tử VietnamPlus, Thông tấn xã Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.