Côn Đảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Côn Đảo
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 8°40′57″B 106°36′26″Đ / 8,682374°B 106,607208°Đ / 8.682374; 106.607208 (Trụ sở Ủy ban Nhân dân huyện Côn Đảo)Tọa độ: 8°40′57″B 106°36′26″Đ / 8,682374°B 106,607208°Đ / 8.682374; 106.607208
Diện tích 76 km²
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 6.000 người
 Thành thị 79 người/km²
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Huyện lỵ Thị trấn Côn Đảo
 Chủ tịch UBND Bùi Văn Bình
 Chủ tịch HĐND Trương Hoàng Phục
 Bí thư Huyện ủy Trương Hoàng Phục

Côn Đảo là một quần đảo ở ngoài khơi bờ biển Nam Bộ (Việt Nam) và cũng là huyện trực thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Côn Đảo hay Côn Sơn cũng hay dùng cho tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Lịch sử Việt Nam trước thế kỷ 20 thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn hoặc Côn Nôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anhtiếng PhápPoulo Condor.

Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Địa lí tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Côn Đảo nằm cách Vũng Tàu 97 hải lí và cách cửa sông Hậu 45 hải lí, có cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′ Đông) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′ Bắc). Quần đảo gồm mười sáu hòn đảo với tổng diện tích đất nổi là 76 km², trong đó đảo lớn nhất là đảo Côn Sơn. Địa hình đảo này là vùng đồi núi, ưu thế bởi các dãy đá granit chạy từ phía tây nam đến đông bắc, che chở cho các vùng vịnh của đảo cả về hai phía khỏi những luồng gió mạnh.[1] Điểm cao nhất của quần đảo là đỉnh núi Thánh Giá trên đảo Côn Sơn (577 m). Địa chất quần đảo có tính đa dạng cao, từ đá mácma Mesozoi xâm nhập axít đến mácma phun trào axít và phun trào trung tính cùng các trầm tích Đệ tứ.[2]

Danh sách đảo[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên gọi Tên khác Toạ độ Diện tích
(km²)
Ghi chú
1 Đảo Côn Sơn Côn Đảo; đảo/hòn Côn Lôn; Phú Hải 8°40′57″B 106°36′26″Đ / 8,6825°B 106,60722°Đ / 8.68250; 106.60722 (đảo Côn Sơn) 51,52 đảo lớn nhất
2 Hòn Bà Hòn Côn Lôn Nhỏ; Phú Sơn 8°38′51″B 106°33′37″Đ / 8,6475°B 106,56028°Đ / 8.64750; 106.56028 (hòn Bà) 5,45 cách đảo Côn Sơn bởi khe nước Họng Đầm rộng không quá 20 m[3]; trên đảo có đỉnh núi cao 321 m[4]
3 Hòn Bảy Cạnh Phú Tường 8°40′14″B 106°40′20″Đ / 8,67056°B 106,67222°Đ / 8.67056; 106.67222 (hòn Bảy Cạnh) 5,5 là điểm A5 trên đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam[5]
4 Hòn Bông Lan Hòn Bông Lang; hòn Bông Lau; Phú Phong 8°39′4″B 106°40′31″Đ / 8,65111°B 106,67528°Đ / 8.65111; 106.67528 (hòn Bông Lan) 0,2 là điểm A4 trên đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam[5]
5 Hòn Cau Phú Lệ 8°41′34″B 106°44′20″Đ / 8,69278°B 106,73889°Đ / 8.69278; 106.73889 (hòn Cau) 1,8 nằm về phía đông bắc đảo Côn Sơn, đất đai màu mỡ; thuở xưa đảo có loại cau to, ngon và rất được người Gia Định ưa chuộng[3]
6 Hòn Tài Lớn Phú Bình 8°38′15″B 106°37′52″Đ / 8,6375°B 106,63111°Đ / 8.63750; 106.63111 (hòn Tài Lớn) 0,38 là điểm A3 trên đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam[5]
7 Hòn Tài Nhỏ Hòn Thỏ; Phú An 8°38′14″B 106°38′11″Đ / 8,63722°B 106,63639°Đ / 8.63722; 106.63639 (hòn Tài Nhỏ) 0,1 -
8 Hòn Trác Lớn Phú Hưng 8°38′14″B 106°37′8″Đ / 8,63722°B 106,61889°Đ / 8.63722; 106.61889 (hòn Trác Lớn) 0,25 -
9 Hòn Trác Nhỏ Phú Thịnh 8°38′19″B 106°37′22″Đ / 8,63861°B 106,62278°Đ / 8.63861; 106.62278 (hòn Trác Nhỏ) 0,1 -
10 Hòn Tre Lớn Phú Hoà 8°42′27″B 106°32′34″Đ / 8,7075°B 106,54278°Đ / 8.70750; 106.54278 (hòn Tre Lớn) 0,75 -
11 Hòn Tre Nhỏ Phú Hội 8°44′13″B 106°35′14″Đ / 8,73694°B 106,58722°Đ / 8.73694; 106.58722 (hòn Tre Nhỏ) 0,25 -
12 Hòn Trọc Hòn Trai; Phú Nghĩa 8°41′18″B 106°33′28″Đ / 8,68833°B 106,55778°Đ / 8.68833; 106.55778 (hòn Trọc) 0,4 còn gọi là hòn Trai vì có nhiều trai ốc biển[6]
13 Hòn Trứng Hòn Đá Bạc; hòn Đá Trắng; Phú Thọ 8°46′45″B 106°43′12″Đ / 8,77917°B 106,72°Đ / 8.77917; 106.72000 (hòn Trứng) 0,1 trơ trụi nhưng có nhiều chim[6]
14 Hòn Vung Phú Vinh 8°37′46″B 106°33′27″Đ / 8,62944°B 106,5575°Đ / 8.62944; 106.55750 (hòn Vung) 0,15 nằm ngay phía nam của hòn Bà
15 Hòn Trứng Lớn Hòn Anh 8°36′13″B 106°08′29″Đ / 8,60361°B 106,14139°Đ / 8.60361; 106.14139 (hòn Trứng Lớn) - đảo không người, chủ yếu núi đá[6]
16 Hòn Trứng Nhỏ Hòn Em 8°34′40″B 106°05′25″Đ / 8,57778°B 106,09028°Đ / 8.57778; 106.09028 (hòn Trứng Nhỏ) - đảo không người, chủ yếu núi đá[6]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Côn Đảo mang đặc điểm á xích đạo - hải dương nóng ẩm,[7] chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 26,9 °C.[8] Tháng 5 oi bức, có lúc nhiệt độ lên đến 34 °C. Lượng mưa bình quân trong năm đạt 2.200 mm; mưa ít nhất vào tháng 1.[8] Quần đảo Côn Đảo nằm ở vùng giao nhau giữa luồng hải lưu ấm từ phía nam và luồng hải lưu lạnh từ phía bắc.[1] Nhiệt độ nước biển từ 25,7 °C đến 29,2 °C.[7]

Thị trấn Côn Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt ở tọa độ 106°36′10″ kinh độ đông và 8°40′57″ vĩ độ bắc. Thung lũng có chiều dài từ 8 đến 10 km, chiều rộng từ 2 đến 3 km và có cao độ trung bình khoảng 3 m so với mặt nước biển. Một mặt trông ra vịnh Đông Nam trong khi ba mặt còn lại vây quanh là núi. Thị trấn Côn Đảo nằm ở khoảng giữa của sân bay Cỏ Ống và cảng Bến Đầm (khoảng cách ước chừng là 12 km). Thị trấn là nơi tập trung toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quần đảo.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn quốc gia Côn Đảo được thành lập từ năm 1993 trên cơ sở chuyển từ Khu rừng cấm Côn Đảo với diện tích 6.000 ha trên cạn và 14.000 ha vùng nước, bao trùm 14 hòn đảo.[9][Ghi chú 1]

Về thực vật, người ta thống kê được 882 loài thực vật rừng bậc cao thuộc 562 chi, 161 họ, trong đó có 371 loài thân gỗ, 30 loài phong lan, 103 loài dây leo, 202 loài thảo mộc,.... Về động vật rừng, hiện đã biết 144 loài bao gồm 28 loài thú, 69 loài chim, 39 loài bò sát,...[9] Côn Đảo có loài thạch sùng Côn Đảo đặc hữu.

Vùng biển của vườn quốc gia sở hữu 1.383 loài sinh vật biển, trong đó có 127 loài rong biển, 11 loài cỏ biển, 157 loài thực vật phù du, 115 loài động vật phù du, 202 loài cá, 8 loài thú và bò sát biển,... Các rạn san hô nơi đây do 219 loài hợp thành; độ phủ trung bình là 42,6 %.[9] Côn Đảo không chỉ là vùng có nhiều rùa biển nhất nước Việt Nam mà còn là nơi duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại một quần thể bò biển có cuộc sống không tách rời các thảm cỏ biển.[10]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ bà Phi Yến, vợ thứ chúa Nguyễn Ánh

Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai, bắt nguồn từ danh xưng "Pulau Kundur" (nghĩa là "hòn Bí"). Người châu Âu phiên âm là "Poulo Condor". Sách sử Việt Nam thì gọi là "đảo Côn Lôn". Riêng tên tiếng Khmer của đảo là "Koh Tralach".[11]

Thuở xưa, lúc bị quân Tây Sơn tấn công thì Nguyễn Ánh từng trốn ra Côn Đảo để tính kế phục thù. Tương truyền khi biết Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) khuyên Nguyễn Ánh cầu viện sự giúp đỡ từ Pháp thì một vị thứ phi đã lên tiếng phản đối. Nguyễn Ánh đày bà ra đảo Côn Lôn Nhỏ, từ đó đảo này có tên gọi là hòn Bà.[12]

Về các địa danh hòn Tráchòn Tài, có nguồn giải thích rằng chúng bắt nguồn từ tên của hai anh em sinh đôi là Đặng Phong Tài và Đặng Trác Vân.[13] Cả hai đều là tuỳ tùng phò vua Hàm Nghi chống thực dân. Năm 1899, Pháp đày Đặng Phong Tài ra Côn Đảo - nơi ông kết duyên cùng người con gái tên Đào Minh Nguyệt. Về sau, người em Đặng Trác Vân cũng bị đày ra đây. Người chị dâu nảy sinh tình ý với em chồng, khiến Vân dần cảm thấy lo ngại và bèn quyết định bỏ sang hòn đảo khác. Khi Tài lần sang đảo tìm em thì Vân lại bỏ đi đảo khác.[13]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Côn Đảo nằm ở vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu-Á nên sớm được người phương Tây biết đến.

  • Năm 1294, đoàn thuyền 14 chiếc của nhà thám hiểm người Ý Marco Polo trên đường từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão nhấn chìm mất 8 chiếc; số còn lại đã dạt vào trú tại Côn Đảo.[14]
  • Giai đoạn thế kỷ 15-thế kỷ 16: có rất nhiều đoàn du hành của châu Âu ghé qua thăm Côn Đảo.
  • Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18: các nhà tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu để ý đến các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với dụng ý chiếm Côn Đảo.
  • Năm 1702, tức năm thứ 12 đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, đích thân giám đốc Công ty Đông Ấn của Anh chỉ huy quân đổ bộ lên Côn Đảo, xây dựng pháo đài[15] và cột cờ.
  • Sau 3 năm, vào ngày 3 tháng 2 năm 1705 thì xảy ra cuộc nổi dậy của lính Macassar (lính người Sulawesi[15]). Đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo.
  • Ngày 28 tháng 11 năm 1783, trong chuyến đem hoàng tử Cảnh và vương ấn của Chúa Nguyễn Ánh về Pháp, Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) tự đứng ra đại diện cho Nguyễn Ánh để ký với Bá tước De Mantmarin (đại diện cho vua Louis XVI của Pháp) một hiệp ước tên gọi là Hiệp ước Versailles. Đây là văn kiện đầu tiên nhượng cho Pháp chủ quyền cửa biển Touron[Ghi chú 2] và quần đảo Côn Lôn. Đổi lại, Pháp sẽ giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1200 lính, 200 pháo thủ, 250 người lính Phi để chống lại nhà Tây Sơn. Cách mạng Pháp nổ ra khiến nước này không thực hiện được cam kết trên.[16]
  • Tương truyền trong đợt thứ 3 bị Tây Sơn truy sát thì Nguyễn Ánh và thuộc hạ đã trốn ra Côn Lôn. Ông sống ẩn dật mấy tháng trời ở đây. Vì thế, hiện nay ở đảo Côn Sơn có một ngọn núi cao gọi là núi Chúa; ở làng An Hải có đền thờ thứ phi của Nguyễn Ánh là Hoàng Phi Yến và ở làng Cỏ Ống có Miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải con của thứ phi Hoàng Phi Yến.
  • Vào thời Gia Long, theo Đại Nam nhất thống chí thì Côn Đảo thuộc quyền quản hạt của đạo Cần Giờ, trấn Phiên An, tổng trấn Gia Định (Gia Định thành); đến năm Minh Mạng 20 (1839) thì Côn Đảo được chuyển sang thuộc tỉnh Vĩnh Long của Nam Kỳ Lục tỉnh.[17]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, chiếm đóng bán đảo Sơn Trà và chuẩn bị đánh Huế.
  • Tháng 4 năm 1861, Pháp đánh chiếm Định Tường. Chính trong thời gian này, Pháp khẩn cấp đặt vấn đề chiếm đóng Côn Đảo vì sợ Anh chiếm mất vị trí chiến lược quan trọng này.
  • 10 giờ sáng ngày 28 tháng 11 năm 1861, thủy sư đô đốc Pháp là Bonard hạ lệnh cho tàu thông báo Norzagaray đến chiếm Côn Đảo kéo cờ Pháp.
  • Trung úy Hải quân Pháp Lespès Sebastien Nicolas Joachim lập biên bản "Tuyên cáo chủ quyền" của Pháp tại Côn Đảo.
  • Ngày 14 tháng 1 năm 1862, chiếc tàu chở hàng Nievre đưa một số nhân viên ra đảo. Những người này có nhiệm vụ tìm vị trí thuận lợi dựng tạm hải đăng Côn Đảo nhằm chống chế nếu có nước nào phản kháng hành động tuyên bố chủ quyền.
  • Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế kí Hòa ước Nhâm Tuất với Pháp. Khoản 3 của Hoà ước ghi rõ rằng nhà Nguyễn phải nhượng hoàn toàn chủ quyền Côn Lôn cho hoàng đế Pháp. Nguyễn (2012) cho rằng sở dĩ Pháp phải ép triều đình Huế làm như vậy là vì hành động chiếm Côn Lôn năm 1861 đã bị Anh phản đối, bởi phía Anh cho rằng Pháp chiếm đảo dựa theo một Hiệp ước không được thi hành (tức Hiệp ước Versailles năm 1783).[18]

Thời Việt Nam Cộng hoà[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 143-NV công bố danh sách các đơn vị hành chính Nam Việt, trong đó có tỉnh Côn Sơn.
  • Ngày 24 tháng 4 năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tỉnh Côn Sơn thành Cơ sở Hành chính Côn Sơn trực thuộc Bộ Nội vụ. Chức "tỉnh trưởng" được đổi thành "đặc phái viên hành chính".
  • Ngày 1 tháng 5 năm 1975, quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp quản Côn Đảo.

Nhà tù Côn Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng người tù Côn Đảo

Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, từ đó biến Côn Lôn thành nơi giam giữ những người tù chính trị Việt Nam với hệ thống chuồng cọp nổi tiếng. Dưới thời Pháp thuộc đã có câu rằng:

"Côn Lôn đi dễ khó về
Già đi bỏ xác, trai về nắm xương."
Danh sách quản đốc Pháp ở Côn Đảo:
  1. Felix Roussel (1862-1863)
  2. Bizot (1863-1864)
  3. Benoist (1864-1866)
  4. Boubé (1866-1869)
  5. Stiedel (1869-1870)
  6. Claudot (1870-1871)
  7. Gaudot (1871-1872)
  8. Chevillet (1872-1874)
  9. Symphor (1874-1875)
  10. Morin (1875-1876)
  11. Pasquet de la Broue (1876-1877)
  12. Disnematin Dorat (1877-1878)
  13. Pasquet de la Broue (1878-1882)
  14. Bosquet (1882-1884)
15. Caffort (1884-1887)
16. Sellier (1887-1890)
17. René (1890-1892)
18. Jacquet (1892-1896)
19. De Colbert (1896-1898)
20. Morizet (1898-1908)
21. Melaye (1908-1909)
22. Cudenet (1909-1913)
23. De Gailland (1913-1914)
24. Joseph O'Connell (1914-1916)
25. Royer (1916-1917)
26. Andouard (1917-1919)
27. Lambert (1919-1927)
28. Bouvier (1927-1934)
29. Cremanzy (1934-1935)
30. Bouvier (1935-1942)
31. Brouillonet (1942-1943)
32. Tisseyre (1943-1945)
33. Hilaire (1945)
34. Lê Văn Trà (1945)
35. Gimbert (1946)
36. Honecker (1946-1947)
37. Jacques Brulé (1947-1948)
38. Henri Lafosse (1948-1951)
39. H. Jarty (1951-1953)
40. Aloise Blanck (1953-1955)

Dưới chế độ nhà tù Côn Đảo, khoảng 20.000 người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã chết và được chôn cất tại Nghĩa trang Hàng Dương.[19]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà khách Côn Đảo
  • Quần đảo Côn Lôn trước khi thuộc Pháp, thuộc tỉnh Hà Tiên, sau đổi cho tỉnh Vĩnh Long quản lý.
  • Ngày 16 tháng 5 năm 1882, tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh công nhận quần đảo Côn Lôn là một quận của Nam Kỳ.
  • Tháng 9 năm 1954 dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ nhà tù của Pháp và đổi tên quần đảo Côn Lôn thành hải đảo Côn Sơn.
  • Ngày 22 tháng 10 năm 1956, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập tỉnh Côn Sơn.
  • Ngày 24 tháng 4 năm 1965, tỉnh Côn Sơn đổi thành cơ sở hành chính Côn Sơn, trực thuộc Bộ Nội vụ. Chức tỉnh trưởng được đổi thành Đặc phái viên hành chính.
  • Sau Hiệp định Paris (1973), chính quyền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại đổi tên quần đảo này một lần nữa là Phú Hải.[cần dẫn nguồn] Các trại tù đều được ghép thêm chữ Phú. Giai đoạn này số tù nhân lên đến 8.000 người.
  • Tháng 5 năm 1975, Côn Đảo được gọi là tỉnh Côn Đảo
  • Tháng 9 năm 1976, tỉnh Côn Đảo giải thể và chuyển thành huyện Côn Đảo thuộc thành phố Hồ Chí Minh
  • Tháng 1 năm 1977, trở thành huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang
  • Tháng 5 năm 1979, trở thành quận Côn Đảo thuộc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo
  • Từ tháng 10 năm 1991, Côn Đảo là huyện thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hiện nay Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn.

Dân sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Côn Đảo tính đến cuối năm 2012 khoảng 7.500 người thuộc mười khu dân cư. Thị trấn Côn Đảo là nơi tập trung dân cư, khu nghỉ dưỡng phục vụ du khách và các đơn vị hành chính của huyện Côn Đảo.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của Côn Đảo có tỉ trọng dịch vụ chiếm cao nhất (71,63%), kế đó là công nghiệp (20,20%) và cuối cùng là nông nghiệp (8,27%). GDP bình quân đầu người là 965 đô la Mỹ. Hàng năm ngành dịch vụ tăng trưởng với nhịp độ khoảng 33,7%; số khách du lịch đến Côn Đảo đạt khoảng 200.000 đến 250.000 người/năm.[4]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Côn Đảo đã được phủ sóng điện thoại và chất lượng sử dụng rất tốt. Hiện có bốn mạng điện thoại di động phủ sóng là Vinaphone, Mobifone, Viettel TelecomVietnamobile. Ngoài ra còn có mạng điện thoại cố định không dây của Viettel. Cuối tháng 8 năm 2007, Côn Đảo đã có kết nối Internet tốc độ cao ADSL, đảm bảo thông tin liên lạc. Côn Đảo có đài phát thanh và truyền hình.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường biển

Từ Cảng Cát Lỡ - Vũng Tàu, có thể đi đến Côn Đảo bằng tàu Côn Đảo 9 và Côn Đảo 10. Lịch tàu chạy được cập nhật theo tháng và không thông báo hủy chuyến (tùy thuộc vào điều kiện thời tiết). Thời gian đi từ Vũng tàu đến Côn Đảo khoảng 12 tiếng với quãng đường 97 hải lý. Hiện tại chưa có tàu cao tốc khai thác tuyến này.

Cuộc sống người dân đảo phụ thuộc nhiều vào những chuyến tàu, nhất là trong những ngày gió bão tàu không chạy được. Hàng hóa không ra được đảo sẽ có thể khiến Côn Đảo rơi vào tình trạng thiếu lương thực và mọi sinh hoạt đều bị ảnh hưởng.

Trên hòn Bảy Cạnh có ngọn hải đăng lâu đời được dựng bằng công sức lao động khổ sai của các tù nhân. Lịch sử kể lại rằng vào ngày 27 tháng 8 năm 1883, Pháp cho dời hải đăng dựng tạm ở ngọn đồi phía bắc thung lũng Cỏ Ống (đảo Côn Sơn) về mỏm núi ở phía đông hòn Bảy Cạnh với độ cao và tầm chiếu sáng ưu thế hơn.[20] Hải đăng có chiều cao tâm sáng 212 m; ánh sáng trắng, chớp nhóm 2, chu kì 10 giây. Tầm hiệu lực ban ngày là 35 hải lí còn ban đêm là 26,7 hải lí.[21]

Đường hàng không

Năm 2011 đánh dấu sự phát triển của đường bay Côn Đảo khi hãng không Air Mekong thông báo mở đường bay từ thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo. VASCO cũng mở thêm đường bay từ Cần Thơ đi Côn Đảo và tăng thêm một chuyến từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Côn Đảo lên thành bốn chuyến/ngày. Từ ngày 6 tháng 9 năm 2011, Air Mekong đã mở thêm tuyến bay Côn Đảo - Hà Nội với tần suất ba chuyến/tuần.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Côn Đảo nhìn từ Nhà khách ra biển

Côn Đảo là một trong 21 khu du lịch quốc gia của Việt Nam. Nơi đây được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên (rừng và biển). Côn Đảo được xem là hòn đảo du lịch với những bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, làn nước trong xanh mát lạnh, bãi cát dài phẳng mịn. Không khí trên đảo thật trong lành, được ví như thiên đường nghỉ dưỡng. Sở hữu rừng nguyên sinh và biển được bảo tồn đa dạng sinh học, Côn Đảo không chỉ là nơi nghiên cứu của các nhà khoa học mà còn là nơi để du khách đến du lịch khám phá, với các chương trình du lịch sinh thái.

Tháng 5 năm 2011, tạp chí Travel + Leisure gọi Côn Đảo - nơi có "những vách đá dốc đứng bênh cạnh những bãi biển hoang sơ và làn nước xanh trong vắt" - là một trong những đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới.[22] Tương tự, Lonely Planet cũng xếp Côn Đảo vào danh sách những đảo bí ẩn và tốt nhất thế giới, đồng thời ca ngợi Côn Đảo là "thiên đường thiên nhiên với những cánh rừng rậm rạp, làn nước màu ngọc bích, những bãi cát trắng và là ngôi nhà của bò biển, cá heo, rùa biển và những rạn san hô ngoạn mục".[23]

Ngày 5 tháng 9 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam kí Quyết định số 1518/QĐ-TTG phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2030, theo đó định hướng sẽ phát triển Côn Đảo thành khu kinh tế du lịch hiện đại, tầm cỡ khu vực và quốc tế.[24]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trước năm 1995 thì huyện Côn Đảo chỉ quản lí 14 hòn đảo. Năm 1995, chính quyền Việt Nam giao cho huyện quản lí thêm hai đảo nữa là hòn Trứng Lớn và hòn Trứng Nhỏ (Nguyễn 2012, tr. 21).
  2. ^ Dường như Hiệp ước này có sự nhầm lẫn giữa Touron (Đà Nẵng) với Hội An (Lưu Anh Rô (2005), Đà Nẵng buổi đầu đánh Pháp (1858-1860), Đà Nẵng: Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 59).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Vườn quốc gia Côn Đảo”. BirdLife International - Chương trình Đông Dương. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ Trần & ctg 2012, tr. 89
  3. ^ a ă Nguyễn 2012, tr. 22
  4. ^ a ă “Côn Đảo – tiềm năng và định hướng phát triển”. Trang web của Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương (Việt Nam). 15 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. 
  5. ^ a ă â “Toạ độ các điểm chuẩn đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam (đính theo Tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 của Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)”. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  6. ^ a ă â b Nguyễn 2012, tr. 23
  7. ^ a ă Trần & ctg 2012, tr. 213
  8. ^ a ă Nguyễn 2012, tr. 24
  9. ^ a ă â Châu Minh (14 tháng 11 năm 2012). “Triển khai các chương trình quản lý, bảo tồn Vườn Quốc gia Côn Đảo”. Trang web của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  10. ^ “Giới thiệu Vườn quốc gia Côn Đảo”. Trang chủ của Vườn quốc gia Côn Đảo. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  11. ^ Cordier 1920, tr. 104
  12. ^ Nguyễn 2012, tr. 30
  13. ^ a ă Nguyễn 2012, tr. 75
  14. ^ Nguyễn 2012, tr. 27
  15. ^ a ă Nguyễn 2012, tr. 28
  16. ^ Nguyễn 2012, tr. 30-31
  17. ^ Đại Nam nhất thống chí (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo), Nam Kỳ lục tỉnh, quyển hạ, tỉnh Vĩnh Long, trang 10.
  18. ^ Nguyễn 2012, tr. 32
  19. ^ Nguyễn 2004, tr. 860
  20. ^ Nhiều tác giả (2012). Hải đăng Việt Nam: Mắt thần canh biển. Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên. tr. 110. 
  21. ^ “Bảy Cạnh”. Trang web của Tổng công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải Miền Nam, Bộ Giao thông Vận tải (Việt Nam). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. 
  22. ^ “Best Secret Islands on Earth” (bằng tiếng Anh). Travel + Leisure. Tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  23. ^ “The world’s best secret islands” (bằng tiếng Anh). Lonely Planet. 12 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ “Quyết định số 1518/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến năm 2030”. Cổng thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn, Đình Thống (2012), Côn Đảo: Từ góc nhìn lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ISBN 978-604-58-0429-2 
  • Nguyễn, Quang Thái (2004), Toàn cảnh kinh tế Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 
  • Trần Đức Thạnh (chủ biên); Lê Đức An; Nguyễn Hữu Cử; Trần Đình Lân; Nguyễn Văn Quân; Tạ Hoà Phương (2012), Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kì quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, ISBN 978-604-913-063-2 
  • Cordier, Henri (1920), Ser Marco Polo: Notes and Addenda to Sir Henry Yule's Edition, Containing the Results of Recent Research and Discovery, Luân Đôn: John Murray . Xem nội dung (tiếng Anh)