Nguyễn Phúc Chu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Hiển Tông
阮顯宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1691 - 1725
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Thái
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Chú
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Chu (阮福淍)
Tước vị
Thụy hiệu Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế
英謨雄略聖文宣達寬慈仁恕孝明皇帝
Ngắn: Hiếu Minh hoàng đế
(孝明皇帝)
Miếu hiệu Hiển Tông (顯宗)
Hoàng tộc Chúa Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Thái
Thân mẫu Tống Thị Đôi
Sinh 11 tháng 6, năm 1675[1]
Mất 1 tháng 6, năm 1725[1]
An táng Trường Thanh lăng (長清陵)
Tôn giáo Phật giáo

Nguyễn Phúc Chu (chữ Hán: 阮福淍, 11 tháng 6, năm 1675 - 1 tháng 6, năm 1725), còn gọi là Nguyển Hiển Tông (阮顯宗), là vị chúa Nguyễn thứ 6 của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1691 đến năm 1725, tổng cộng 34 năm.

Đương thời ông nhận sắc phong Tộ Quốc công (祚國公), dân chúng trong lãnh thổ gọi ông là Chúa Minh (主明) hay Quốc Chúa (國主).

Chúa Minh là một vị chúa hiền và có tài. Khi mới lên ngôi, ngài quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má lao dịch, bớt hình ngục. Ông còn cho xây dựng một loạt chùa miếu, mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am. Bản thân chúa cũng ăn chay ở vường Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người nghèo. Bờ cõi yên ổn do chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm ngừng 30 năm.

Năm 1806, Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế dâng miếu hiệu cho ông là Hiển Tông (顯宗), thụy hiệuAnh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế (英謨雄略聖文宣達寬慈仁恕孝明皇帝).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Chu là con trai cả của Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái. Mẹ ông là Tống phu nhân ở huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, con gái của Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh. Thuở thiếu thời, ngài rất chăm học chữ tốt, văn hay, võ giỏi. Ông được phong là Tả binh đinh Phó Tướng Tộ Trường hầu, làm phủ đệ ở cơ Tả Binh.

Năm 1691, Chúa Nghĩa qua đời sau 4 năm trị vì, Nguyễn Phúc Chu là con trưởng nên kế thừa ngôi vị. Quân thần vâng di mệnh, tôn ông là Tiết Chế Thủy Bộ chư Dinh Kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Bảo Tộ Quốc công. Bấy giờ, khi nối ngôi chúa mới có 17 tuổi.

Điều hành Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu, năm 1699, Chúa Minh cho tra xét bắt đạo Thiên Chúa, phàm nhân dân ta ai có đạo thì phải bỏ để trở lại làm dân bình thường, lấy nhà tu làm nhà ở, lại còn đốt sách vở của đạo ấy, còn người phương Tây thì buộc họ phải về nước.

Về mặt phương Bắc, tuy đã thôi đánh nhau với quân Trịnh, nhưng chúa vẫn lo phòng ngự cẩn thận. Năm 1701, Chúa sai Chưởng dinh Nguyễn Phúc Diệu, cùng Tống Phúc Tài, Nguyễn Khoa Chiêm sửa sang các chính lũy từ núi Đầu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ. Chúa sai vẽ bản đồ những nơi hiểm yếu và cho quân lính thao dượt thường xuyên.

Bấy giờ, phía Nam đất đai được khẩn hoang đến tận biên giới Chân Lạp. Trong nước việc nội trị, võ bị, giáo dục được phát triển có quy mô. Bắc Hà tuy có Lê đế nhưng quyền bính ở trong tay Chúa Trịnh. Chúa muốn tách riêng miền Nam thành một quốc gia độc lập.

Chúa sai Hoàng ThầnHưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm sang Trung Hoa cầu phong nhà Thanh. Hoàng đế nhà Thanh cũng có ý muốn phong nhưng triều thần can rằng:

Nước Quảng Nam hùng trị một phương, Chiêm Thành, Chân Lạp đều bị thôn tính, sau tất sẽ lớn. Tuy nhiên nước An Nam còn có nhà Lê ở đó, chưa có thể phong riêng được

Vì vậy, việc cầu phong không có kết quả.

Năm 1702, ở biển phía Nam có giặc biển người Anh đến cướp phá, chiếm cứ đảo Côn Lôn. Đồ đảng hơn 200 người và 8 chiến thuyền, xây dựng sào huyệt kiên cố. Chúa sai Chương dinh Trấn Biên Trương Phúc Phan tìm cách trừ khử bọn cướp. Sau nhờ mộ được 15 người Chà Và (người Mã Lai) làm kế nội ứng, đốt tan được sào huyệt của giặc, tịch thu của cải đem về.

Tháng 8, năm 1708, Mạc Cửu người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, trước đó đến khai thác vùng đất Hà Tiên, dâng thư lên triều đình xin đem đất Hà Tiên quy thuộc miền Nam. Chúa nhận lời và phong cho Mạc Cửu làm làm Thống binh trấn giữ đất Hà Tiên.

Tháng 1 năm 1709, phò mã Tống Phúc Thiệu cùng cai đội Nguyễn Cửu Khâm mưu phản, ngầm liên kết vây cánh, mưu đồ chiếm Bình Khang, Phú Yên xong quay về lấy Quảng Nam rồi thẳng đến Chính dinh phóng lửa nổi loạn. Âm mưu bại lộ, các kẻ chủ mưu đều bị xử tử. Tống Phúc Thiệu bị bãi làm thứ dân và bị tù ở vườn Bát Khải.

Tháng 12 năm 1709, Chúa cho đúc Quốc bảo. Ấn khắc chữ: Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo, để dùng và truyền đời này sang đời khác. Thấy nước giàu binh mạnh, Chúa định có ý muốn Bắc phạt. Chúa cho thám tử ra thăm dò tình hình miền Bắc, sau được tin báo về là Bắc Hà chưa thể đánh được, Chúa mới không nhắc đến chuyện này nữa.

Trong thời gian trị vì, Chúa đóng góp nhiều công lao trong việc xây dựng kỷ cương Phật giáo, trùng tu chùa chiền và quảng bá đạo Phật khắp nước. Năm 1694, Chúa sai người sang Quảng Đông mời hòa thượng Thích Đại Sán (Thạch Liêm Hòa thượng) sang thuyết pháp về đạo Phật cho quan lại và dân chúng nghe. Hòa thượng đã tổ chức giới đàn để truyền giới bồ tát cho Chúa và quyến thuộc, quân lại và 1400 tăng ni ở Phú Xuân. Chúa được ban pháp danh là Hưng Long, hiệu là Thiên Túng đạo nhân.

Năm 1710, nhân ngày Phật đản, Chúa cho đúc chuông chùa Thiên Mụ nặng 2,021 kg, cao 2,5 m, đường kính 1,2 m. Tiếng vang của Đại hồng chung bao trùm cả kinh thành.

Năm 1714, Chúa giao cho Chưởng cơ Tống Đức Đạt sửa sang chùa Thiên Mụ. Tất cả thợ khéo các nơi đều được huy động, chùa trở nên nguy nga hơn trước. Lễ khánh thành là ngày hội của dân chúng, những kho lúa của nhà nước được mở rộng để chẩn cấp cho dân nghèo.

Chúa còn cho sửa sang Văn Miếu ở làng Triều Sơn. Văn học thi cử được chú trọng, Chúa đã cho tổ chức các khoa thi trong phủ Chúa. Trong các vị chúa, Chúa Phúc Chu là người chuộng thơ văn hơn cả. Năm 1712, chúa cho lập phủ mới ở làng Bát Vọng, huyện Quảng Điền.

Nguyễn Phúc Chu làm rất nhiều thơ, ông có nhiều bài thơ khóc vợ với tình ý tha thiết. Ông là người rất đông con: 146 người con gồm 38 người con trai.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm Nhâm Thân (1692), Quốc vương Chiêm Thành là Bà Tranh (Po Thot) hợp quân, đắp lũy, cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh[2]. Sự việc được báo lên Chúa, Chúa Phúc Chu đã sai Nguyễn Hữu Cảnh suất lãnh quân Chính Dinh cùng quân Quảng Nam và Bình Khang đi đánh[3].

Đầu năm 1693 bắt được Bà Tranh, Kế Bà Tử (em trai Bà Tranh) cùng thân thuộc là Nàng Mi Bà Ân đem về Phú Xuân. Đổi đất Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành (đất Panduranga) và lập ra phủ Bình Thuận.

Sau khi Chúa Bà Tranh chết tại Huế, Kế Bà Tử đã nổi dậy. Quý tộc Chăm tên Ốc Nha Đạt và người Mãn Thanh tên A Ban chỉ huy quân Chăm. Lúc đó Nguyễn Hữu Cảnh đang đi Tây Chính, và quân Nguyễn ở lại đã bị quân Chăm tiêu diệt hoàn toàn.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh trở lại, Kế Bà Tử đã ký hòa ước với chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Phúc Chu đã đồng ý khôi phục vương quốc Chăm Pa với hình thức là một khu tự trị với tên là Thuận Thành Trấn, và chúa Chăm được gọi là Trấn Vương (khâm lý), con của Bà Ân làm đề đốc để xếp đặt mọi việc trong phủ hạt, là thần hạ của chúa Nguyễn, buộc người dân ăn mặc theo phong tục nước Việt[4][5].

Theo bộ văn bản hoàng gia Chăm (bản chữ Hán), mối quan hệ phiên thuộc giữa vùng đất cai quản bởi các chúa Chăm và chính quyền trung ương của chúa Nguyễn diễn ra tốt đẹp.

Chúa Phúc Chu còn mở rộng bờ cõi đất đai xuống phía Nam, đạt được nhiều thành tựu như:

Chân Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1690, Hào Lương hầu Nguyễn Hữu Hào đánh thắng Cao Miên, bắt vua Cao Miên là Nặc Thu đem về Sài Côn rồi nghỉ quân, Cao Miên từ đó mới bình định. Sau đó Nặc Thu bị bệnh mất, Nặc Non cũng mất, các tướng tâu lên rằng dòng đích của vua Cao Miên không còn ai, do đó triều đình phong cho con Nặc Non là Nặc Yêm làm vua và lệnh cho đóng ở thành Gò Vách. (Sử Cao Miên ghi niên hiệu Thiên Vận (1622) là năm Thìn, Nặc Yêm con của Nặc Non là Tham - đích - sá - chiêu - trùy lên làm vua, so ra thời đại và tên gọi khá phù hợp nhưng tháng năm thì sai khác, điều đó còn cần khảo cứu thêm)[6].

Mùa xuân năm 1698, vua Nặc Thu nước Chân Lạp cho quân lính cướp bóc dân buôn, triều đình sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược đất Cao Miên, Nặc Thu xin đầu hàng và nộp cống như cũ. Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ[6].

Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch[6].

Năm 1705, Nặc Thâm (con Nặc Thu) nối ngôi cha bất hòa với Nặc Yêm (vua thứ 2 của Chân Lạp), nhờ Xiêm La giúp, đem binh đánh Nặc Yêm. Nặc Yêm chạy sang Gia Định cầu cứu, Nguyễn Hữu Cảnh sai tướng Nguyễn Cửu Vân đem binh đánh tan quân Xiêm.

Tuy vậy nước Chân Lạp vẫn chưa yên. Năm 1711, 1714 Nặc Thâm lại vây đánh Nặc Yêm. Nguyễn Hữu Cảnh phải cho các tướng Trần Thượng Xuyên, Nguyễn Cửu Phú đem quân đánh dẹp rồi phong cho Nặc Yêm làm vua Chân Lạp và giúp cho Nặc Yêm khi giới để phòng ngự.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 6, năm 1725, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu qua đời, thọ 50 tuổi. Lăng mộ táng tại làng Kim Ngọc, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Thanh lăng (長清陵)[1]. Ông được dâng thụy hiệu là Khoan Từ Nhân Thứ Tộ Minh Vương (寬慈仁恕祚明王).

Thời Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, ông được cải thụy hiệu thành Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Vương (英謨雄略聖文宣達寬慈仁恕孝明王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái, sau thụy tôn thành Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế (英宗孝義皇帝).
  • Thân mẫu: Tống Thị Lĩnh (宋氏嶺), sau thụy tôn thành Từ Tiết Hiếu Nghĩa hoàng hậu (慈節孝義皇后).
  • Phu nhân:
  1. Tống Thị Được (宋氏得; 1680 - 1716), còn có tên là Quyền, bà nguyên họ Hồ, khi nhập cung đổi qua họ Tống, chánh quán làng Hương Cần (Hương Trà, Thừa Thiên). Bà là con của quan Chưởng dinh Hồ Văn Mai. Khi mất, được phong tặng là Từ Huệ Minh Phi Liệt Phu Nhân (慈惠明妃列夫人). Lăng táng tại làng Trúc Lâm (Hương Trà, Thừa Thiên). Gia Long hoàng đế truy tôn Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng Hậu (慈惠恭淑懿德敬穆孝明皇后), đặt tên lăng là Vĩnh Thanh (永清陵). Bà được phối thờ với Minh vương ở Thái Miếu, án thứ ba bên tả.
  2. Nguyễn Thị Lan (阮氏蘭; ? - 1714), con gái của Tham chính Nguyễn Hữu Hạp. Khi tiến cung bà được xếp vào bậc Hữu Cung tần, rồi được tấn phong lên bậc Chính Nội phủ. Được chúa Minh sủng ái nhất trong số các thê thiếp. Khi mất, bà được truy làm Kính phi (敬妃), thụy là Từ Đức phu nhân (慈德夫人), táng ở làng Trúc Lâm (Hương Trà, Thừa Thiên). Khi mất, chúa Minh có làm tặng bà 4 bài thơ khóc thương, là việc chưa từng có trước đây, đương thời cho là sự ân sủng đặc biệt.
  3. Chiêu Nghi phu nhân Nguyễn thị.
  4. Tu Dung phu nhân Trần thị.
  5. Hữu Cung tần Lê thị.
  6. Tả Cung tần Tống thị.
  7. Và nhiều nàng hầu không danh phận khác....

Theo Đại Nam Liệt truyện, Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu có cả thảy 146 người con. Nhưng theo Hoàng tử Phổ và Hoàng nữ Phổ, Chúa có 38 công tử và 4 công nữ.

  • Công tử:
  1. Nguyễn Túc Tông Nguyễn Phúc Chú, mẹ là Từ Huệ Tống hoàng hậu.
  2. Nguyễn Phúc Thể (1687 - 1762), mẹ là Tu Dung phu nhân Trần thị. Đương thời giữ chức Chưởng cơ, sau khi chết truy tặng hàm Chưởng dinh.
  3. Khuyết danh.
  4. Nguyễn Phúc Long (1691 - 1743), mẹ là Hữu Cung tần Lê thị. Giữ chức Chưởng vệ sự.
  5. Nguyễn Phúc Hải, không rõ truyện.
  6. Khuyết danh.
  7. Nguyễn Phúc Liêm, không rõ truyện.
  8. Nguyễn Phúc Thử (1697 - 1763), mẹ là Hoàng thị.
  9. Luân Quốc công Nguyễn Phúc Tứ (1698 - 1753), mẹ là Từ Huệ Tống hoàng hậu.
  10. Nguyễn Phúc Lân, không rõ truyện.
  11. Nguyễn Phúc Chấn (? - 1738).
  12. Dận Quốc công Nguyễn Phúc Điền (1699 - 1739), mẹ là Kính phi Nguyễn thị.
  13. Nguyễn Phúc Đăng (1701 - 1763), mẹ là Hữu Cung tần Lê thị. ban đầu làm Chưởng cơ, sau khi chết tặng hàm Chưởng doanh.
  14. Nguyễn Phúc Thiện (1702 - 1749), mẹ là Nguyễn thị. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  15. Nguyễn Phúc Khánh (1703 - 1748), mẹ là Trương thị. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  16. Nguyễn Phúc Cảo (1705 - 1762), mẹ là Tống thị. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  17. Nguyễn Phúc Bình, không rõ truyện, có con trai tên là Kính.
  18. Nguyễn Phúc Tú, mẹ là Nguyễn thị. Không rõ năm sinh và truyện, được tặng Quận công. Ông có 3 con trai: Thắng, Uyên, Dật.
  19. Nguyễn Phúc Truyền, mẹ là Hoàng thị. Không rõ năm sinh và truyện, được tặng Quận công. Ông có 2 con trai: Thùy và Nghi.
  20. Nguyễn Phúc Sảm (1706 - 1759), không rõ truyện. Có 2 con trai là Kiên và Thuận.
  21. Nguyễn Phúc Quận, không rõ truyện. Có 2 con trai là Dục.
  22. Nguyễn Phúc Yển (1707 - 1748), không rõ mẹ. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  23. Nguyễn Phúc Bính (1708 - 1766), mẹ là Lê thị. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  24. Nguyễn Phúc Tông, không rõ truyện.
  25. Nguyễn Phúc Nghiễm, mẹ là Lê thị. Nghiễm làm đến Chưởng cơ, mất năm nào không rõ. Nghiễm có vườn trại ở xã Vân Dương, người đời sau gọi là Viên Công (Vườn ông), gọi chợ ở đó là chợ Viên Công.
  26. Nguyễn Phúc Xuân, sinh mẫu là ai không rõ. Xuân làm đến Chưởng cơ. Không rõ Xuân mất năm nào và bao nhiêu tuổi.
  27. Thạnh Quận công Nguyễn Phúc Phong (1708 - 1754), mẹ là Chiêu nghi phu nhân Nguyễn thị. Ông ban đầu làm Hữu dực cơ, Chưởng cơ.
  28. Nguyễn Phúc Hạo, không rõ truyện.
  29. Nguyễn Phúc Kỷ (? - 1743), mẹ là Hoàng thị.
  30. Nguyễn Phúc Tuyền, Chưởng cơ, không rõ truyện.
  31. Nguyễn Phúc Hanh, không rõ truyện.
  32. Nguyễn Phúc Lộc (1708 - 1744), mẹ là Lê thị. Ban đầu làm Cai đội, sau tặng làm Cai cơ.
  33. Nguyễn Phúc Chiêm (1709 - 1788), mẹ không rõ.
  34. Nguyễn Phúc Khiêm, không rõ truyện.
  35. Khuyết danh.
  36. Khuyết danh.
  37. Nguyễn Phúc Độ (1710 - 1752), làm đến Chưởng Cơ.
  38. Nguyễn Phúc Tài, không rõ truyện.
  • Công nữ:
  1. Nguyễn Phúc Ngọc Sáng (? - 1721), mẹ là Tả Cung tần Tống thị, lấy Chưởng vệ Tống Văn Xuân. Khi chết truy phong là Tống Sơn Quận chúa Trinh phu nhân.
  2. Nguyễn Phúc Ngọc Phượng (? - 1722), lấy Chưởng doanh Nguyễn Cửu Thế, cháu nội Nguyễn Cửu Kiều. Khi chết truy tặng Tống Sơn Quận chúa Tư phu nhân.
  3. Nguyễn Phúc Ngọc Nhật, lấy Cai cơ Nguyễn Cửu Duyệt, là chắt Nguyễn Cửu Kiều.
  4. Khuyết danh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn
Minh Vương
1691-1725
Kế nhiệm:
Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú
  1. ^ a ă â Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  2. ^ Phủ Diên Ninh lúc này cho lệ vào dinh Bình Khang, dinh Bình Khang trước là dinh Thái Khang được đổi năm 1690.
  3. ^ Đại Nam thực lục tiền biên, Sđd, tr.147.
  4. ^ Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
  5. ^ Hoa Di Biến Thái (Ka-i-hen-tai, sử liệu Nhật Bản cuối thế kỷ thứ 17-đầu thế kỷ thứ 18)
  6. ^ a ă â Gia Định Thành Thông Chí. Quyển 3: Cương vực chí- Trịnh Hoài Đức.