Nguyễn Hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chúa Tiên
Tiên vương (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1569 - 1613
Tiền nhiệm Sáng lập
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Nguyên
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn thị phu nhân
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Hoàng
Tước vị
Thụy hiệu Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng Đế
Ngắn: Gia Dụ hoàng đế
Miếu hiệu Thái tổ
Gia tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Cam
Thân mẫu Nguyễn Thị Mai
Sinh 1525
Mất 1613
Đàng Trong, Việt Nam

Nguyễn Hoàng (chữ Hán: 阮潢; 15251613) là con trai thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim, ông sinh ra ở Thanh Hóa. Theo Phả hệ họ Nguyễn ở Gia Miêu, ông là hậu duệ của Nguyễn Bặc.

Trấn thủ Thuận Hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều nhà Lê trung hưng, ông là một tướng tài lập nhiều công lớn, được vua Lê phong tước Thái úy Đoan Quốc Công. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm, anh cả là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, do lo sợ bị anh rể lúc đó đang kiểm soát binh quyền của nhà Hậu Lê sát hại và nghe lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá (là khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay).

Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ. Năm 1558, Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số người dân Thanh - Nghệ đi vào Nam. Nhiều tướng như Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống mến mộ ông nên cũng đi theo. Thủ phủ ban đầu là xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.

Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm hài lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam. Sau đó Nguyễn Hoàng dời dinh về làng Trà Bát (cũng thuộc huyện Đăng Xương).

Năm 1572, tướng Mạc là Lập Bạo đem quân đánh Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng dùng mĩ nhân kế đánh lui quân Mạc.

Năm 1593, ông đưa quân ra Bắc Hà giúp Trịnh Tùng đánh dẹp họ Mạc trong 8 năm trời rồi bị họ Trịnh lưu giữ lại do lo sợ sự cát cứ và thế lực lớn mạnh của ông. Vua Lê phong ông là Thái úy Đoan Quốc công. Năm 1599, Nguyễn Hoàng nhân việc Phan Ngạn, Bùi Văn KhuêNgô Đình Nga nổi loạn xin Trịnh Tùng cho mình đánh dẹp, để người con thứ năm là Hải và cháu là Hắc làm con tin, lại gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con Trịnh Tùng, sau đó kéo quân về Thuận Hoá. Từ đó, ông lo phát triển cơ sở, mở mang bờ cõi, phòng bị quân Trịnh vào đánh phá.

Năm 1600 ông dời dinh sang phía đông Ái Tử, gọi là Dinh Cát. Năm 1601, vốn là một người Phật tử, ông cho xây chùa Thiên Mụ như một cột mốc cho lịch sử của Đàng Trong.

Mở mang bờ cõi[sửa | sửa mã nguồn]

Để mở rộng bờ cõi, năm 1611 ông đã thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên sau khi trấn giữ Thuận Quảng, tiến chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa khi đó đã suy yếu rất nhiều, lập thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Đòng Xuân và Tuy Hòa, giao cho Văn Phong trấn giữ. Cho tới khi ông mất, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) qua đèo Hải Vân tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, bây giờ là vùng cực nam Phú Yên, giáp tỉnh Khánh Hòa.

Tương truyền trong lúc hấp hối, Nguyễn Hoàng dặn dò con trai là Nguyễn Phúc Nguyên:

Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam.

Năm 1613, ông lâm bệnh nặng, cho gọi Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về và căn dặn: Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời.

Lăng mộ của ông hiện nay vẫn còn, gọi là Trường Cơ, đặt ở làng La Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau, Gia Long hoàng đế nhà Nguyễn truy phong cho Nguyễn Hoàng miếu hiệuThái Tổ, thụy hiệu là Triệu Cơ Tùy Thống Khâm Minh Cung Úy Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ hoàng đế.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt 55 năm cai trị Thuận-Quảng, ông vừa là một vị tướng mưu lược, vừa là một vị chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển kinh tế, cho nên dân chúng Thuận Quảng cảm mến, gọi ông là Chúa Tiên, dù đương thời ông chỉ có chức Đoan Quốc công.

Nhẫn nhịn để chờ thời cơ, không manh động gây hấn với địch thủ giết người thân, lập chí lớn, gây dựng cơ nghiệp lâu dài để lại cho con cháu mai sau.Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người sáng lập ra nhà Hậu Kim, tiền thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc sau Nguyễn Hoàng vài thập kỷ có nhiều điểm giống với ông.

Ông có thể coi là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập vương triều nhà Nguyễn bao gồm 13 vua; nhưng cũng là người mở đầu cho cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn sau này.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Nguyễn thị, lăng táng tại làng Hải Cát (Hương Trà, Thừa Thiên). Năm 1806 vua Gia Long truy tôn: Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dũ Hoàng Hậu. Bà được phối thờ với Nguyễn Hoàng ở Thái Miếu. Tên lăng là Vĩnh Cơ.
  • Con:
    • Nguyễn Hà
    • Nguyễn Hán
    • Nguyễn Thành
    • Nguyễn Diễn
    • Nguyễn Hải
    • Nguyễn Phúc Nguyên
    • Nguyễn Phúc Hiệp
    • Nguyễn Phúc Trạch
    • Nguyễn Phúc Dương
    • Nguyễn Phúc Khê
    • Nguyễn Phúc Ngọc Tiên
    • Nguyễn Phúc Ngọc Tú

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
không có
Chúa Tiên
1558-1613
Kế nhiệm:
Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên

{{Navbox |name = Chúa Nguyễn |title = Chúa Nguyễn |state = collapsed |titlestyle = background:#F0E68C; |groupstyle = background:#F0E68C; |liststyle = text-align:center;

|list1 = Nguyễn Hoàng  · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Thái  · Nguyễn Phúc Chu  · [[Nguyễn Phúc Chú\\\Nguyễn Phúc Thụ  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Thuần  ·


Vua Việt Nam  · Hùng Vương · An Dương Vương · Trưng Vương  · Bắc thuộc  · Nhà Tiền Lý  · Tự chủ  · Nhà Ngô  · Nhà Đinh  · Nhà Tiền Lê  · Nhà Lý  · Nhà Trần  · Nhà Hồ  · Nhà Hậu Lê  · Nhà Mạc  · Chúa Trịnh  · Chúa Nguyễn  · Nhà Tây Sơn  · Nhà Nguyễn }}