Lê Uy Mục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Uy Mục
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Hậu Lê
Trị vì 1505 - 1509
Tiền nhiệm Lê Túc Tông
Kế nhiệm Lê Tương Dực
Thông tin chung
Thê thiếp Trần Thị Tùng
Lê Quý phi
Tên húy Lê Tuấn
Niên hiệu Đoan Khánh: 1505-1/12/1509[1]
Thụy hiệu Uy Mục Đế
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Hiến Tông
Thân mẫu Chiêu Nhân thái hậu Nguyễn Thị Cận
Sinh 1488
Mất 1509
Việt Nam
An táng An Lăng

Lê Uy Mục (chữ Hán: 黎威穆; 5 tháng 5, 14881 tháng 12, 1509[1]) tên húyLê Tuấn (黎濬) là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là một vị Hoàng đế tàn bạo và hoang dâm, và "điềm loạn đã xuất hiện từ đấy"[2].

Uy Mục chủ trương giết hại các tôn thất. Năm 1509, Giản Tu công Lê Oanh khi còn bị giam đã đút lót cho người canh giữ và khởi loạn chống nhà vua. Cuối cùng, Lê Oanh đã bắt được ông và ông phải tự sát.[2]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Tuấn là con thứ hai của vua Lê Hiến Tông và Chiêu Nhân Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Bắc Giang. Ông là anh thứ của vua Lê Túc Tông[2].

Vua quỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Uy Mục lên ngôi ngày 22 tháng 1 năm 1505, sau khi Lê Túc Tông (lên ngôi năm 1504) mất sớm ở tuổi 17.

Vua Uy Mục ăn chơi vô độ, ham rượu chè, gái đẹp, tàn bạo giết hại nhiều người vô tội. Uy Mục mới lên làm vua thì giết tổ mẫu là bà Thái hoàng Thái hậu (tức Trường Lạc hoàng hậu của vua Lê Thánh Tông trước đây), giết quan Lễ bộ Thượng thư là Đàm Văn Lễ và quan Đô ngự sử là Nguyễn Quang Bật, vì lẽ rằng khi vua Hiến Tông mất, bà Thái hậu và hai người này có ý không chịu lập Uy Mục (hai ông này đã nhận di chiếu phụ tá Hoàng thái tử kế vị của Hiến Tông rồi cùng các đại thần lập Túc Tông lên nối ngôi[2]).

Uy Mục còn ra lệnh cho giết hết những người Chiêm bị bắt làm gia nô trong các điền trang của các thế gia, công thần. Vua Uy Mục đêm nào cũng cùng với cung nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi. Phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên Tích sang, trông thấy Uy Mục, làm thơ gọi Uy Mục là vua quỷ (Quỷ vương / 鬼王):

An nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỷ vương?
(Dịch:
Vận An Nam còn dài bốn trăm năm
Ý trời sao lại sinh ra vua quỷ?)

Bị lật đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tàn bạo quá đáng của Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bình trong dân chúng và trong hàng ngũ quan lại, dòng dõi họ Lê. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của vua[2]. Nhiều công thần trước đây bị đuổi, trong đó có Nguyễn Văn Lang là người cùng họ với Trường Lạc thái hoàng thái hậu; một số hoàng thân cùng cánh với phe này bị bắt giam, trong đó có các con của Kiến vương Lê Tân.

Trong số các con của Kiến vương Tân bị bắt giam, Giản Tu Công Lê Oanh (vua Lê Tương Dực sau này) đút tiền cho người canh ngục mới được ra, trốn về Tây Đô (Thanh Hoá), được một công thần bị đuổi là Nguyễn Văn Lang[3] lập làm minh chủ nổi dậy chống lại Uy Mục đế. Lương Đắc Bằng được lệnh viết hịch kêu gọi bá quan, đại khái là:[2]

Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ hèn kém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muôn khoé. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn ngoại thích được tin dùng mà phường đuôi chó ngang ngược làm bậy, người cứng cỏi bị ruồng bỏ mà kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa. Quan tước đã hết rồi vẫn thưởng tràn không ngớt, dân chúng đã [51a] cùng khốn còn vơ vét chẳng thôi. Vét thuế khoá từng cân lạng, tiêu tiền của như đất bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính. Đãi bề tôi như chó ngựa, coi dân chúng tựa cỏ rác ngạo mạn quá cả Nguỵ Oanh. Huống chi lại xây cung thất to, làm vườn hoa rộng. Xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổ chất gò Hoa Cương đời Tống; lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xây cung A Phòng nhà Tần. Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồi xây lên, dân Hải Dương, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêu căng lại ngang ngược, ngang ngược lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xôn xao, rối loạn. Cư dân nhức óc, cả nước đau lòng.

—Hịch

Ngoài ra, phe Lê Oanh cũng có bài hịch như sau:[2]

Đoan Khánh làm vua, họ ngoại chuyên quyền, Tử Mô[4] làm phường ngu hèn nơi phố chợ làm rối loạn kỷ cương, Thắng Chủng[5] là hạng trẻ ranh miệng còn hơi sữa đã tái oai tác phúc. Đến mức đánh thuốc độc giết bà nội, tàn sát các thân vương. Theo ý riêng mà giết hại sinh dân, không biết đâu cho thoả; dùng ngón ngầm để vét vơ tiền của, càng mặc sức tham lam. Bốn biển đã khốn cùng, muôn dân đều sầu oán.

—Hịch

Tháng 11 năm 1509, Giản Tu Công giả xưng là Cẩm Giang Vương Lê Sùng[6] ở Tây Đô đưa quân về Đông Kinh (Hà Nội). Vua Uy Mục bèn bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh. Lê Oanh vào chiếm kinh thành bắt được và bức Lê Uy Mục tự tử ngày 1 tháng 12 năm Kỷ Tỵ (10 tháng 1 năm 1510).

Lê Oanh hận Lê Uy Mục giết hại gia đình mình, chưa nguôi giận, sai người dùng súng lớn, để xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại An Lăng ở quê mẹ ông tại làng Phù Chẩn[2].

Ban đầu Lê Oanh giết vua và giáng xuống làm Mẫn Lệ công (愍厲公). Sau Lê Chiêu Tông lên ngôi mới đặt tên thụy cho ông là Uy Mục đế (威穆帝).

Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Trần Thị Tùng
    • Quý phi Lê thị, người xã Sa Lung, châu Minh Linh. Gia đình mắc tội, bị sung làm nô. Khi Uy Mục chưa lên ngôi, còn theo học thầy, bà cùng học với Uy Mục, Uy mục trông thấy mà đem lòng yêu dấu. Khi Uy Mục lên ngôi, phong làm Quý phi và độc sủng. Khi uy Mục bị giết, bà bị Vũ tá hầu cưỡng bức trong cung.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Hồng Thuận Trị bình bảo phạm:[2]

"Đời Đoan Khánh, bọn hoạn quan thọc vào chính sự, kẻ ngoại thích mặc sức chuyên quyền, pháp lệnh phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông tang tiêu tàn mất nghiệp, phong tục ngày một suy đồi, thực rất đáng thương tâm. Huống chi, lại tàn sát người cốt nhục, hãm hại kẻ bề tôi, những việc làm như vậy thì muốn không bị diệt vong có được không?"

Còn sách Hồng Thuận Trung hưng ký của Nguyễn Dục cũng ghi nhận:[2]

"Mẫn Lệ công thất đức, bọn Chủng, Thắng chuyên quyền. Thừa Nghiệp là thằng nhãi chăn trâu mà kiêm coi cả phủ Tông nhân; Tử Mô là đứa trẻ bán cá lại trông giữ hết quân Túc vệ. Tiến dùng bè lũ sai lang, đua mở rộng đường hối lộ. Xây phủ đệ thì rừng núi các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang không còn cây để lấp nguồn dục vọng, đòi mắm muối thì sông biển các vùng Nghệ An, Yên Bang không còn cá mà nhét miệng đói thèm. Gươm Thái A trở ngược[7], đồ thần khí lung lay[8], tai dị sinh luôn, hạ dân ta oán, bị diệt vong là đáng lắm rồi."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Âm lịch.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 14
  3. ^ Văn Lang cùng họ với Nguyễn Đức Trung, Đức Trung là cha Trường Lạc hoàng hậu tức là bà thái hoàng thái hậu bị vua Uy Mục giết, do đó giữa Uy Mục và Văn Lang có hiềm khích
  4. ^ Tức Tông nhân lệnh phủ Tông nhân Nguyễn Thừa Nghiệp và con là Nguyễn Mô giữ chức chỉ huy quân túc vệ.
  5. ^ Thắng tức là Nguyễn Bá Thắng, Chủng tức là Khương Chủng, những ngoại thích lộng quyền trong Triều đình.
  6. ^ Cẩm Giang vương Lê Sùng là con cả của Kiến vương Lê Tân và là anh của Lê Oanh. Xem thêm về các con vua Lê Thánh Tông
  7. ^ Theo chú thích trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Thái A: là tên một thanh gươm quý. Trở ngược gươm Thái A nghĩa là trao cán gươm quý cho người khác, chỉ việc Uy Mục Đế để bọn ngoại thích nắm giữ mọi quyền."
  8. ^ Theo chú thích trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Đồ thần khí: chỉ ngai vàng nhà vua."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]