Lê Kính Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Kính Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Hậu Lê
Trị vì 15991619
Tiền nhiệm Lê Thế Tông
Kế nhiệm Lê Thần Tông
Thông tin chung
Tên húy Lê Duy Tân
Niên hiệu Thận Đức (1600 - 1601)
Hoằng Định (1601 - 1619)
Miếu hiệu Kính Tông
Hoàng tộc Nhà Lê Trung Hưng
Thân phụ Lê Thế Tông
Thân mẫu Ý Đức hoàng thái hậu
Sinh 1588
Mất 1619
Việt Nam

Lê Kính Tông (chữ Hán: 黎敬宗, 1588 – 1619), có tên là Lê Duy Tân (黎維新), là vị vua thứ 5 của nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam, người huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, Việt Nam. Ông làm vua từ năm 1599 đến năm 1619.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Lê Kính Tông húy là Lê Duy Tân, là con thứ của Lê Thế Tông, mẹ là Ý Đức hoàng thái hậu Nguyễn thị, người xã Duy Tinh, huyện Thần Lộc (nay là xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Khi vua Thế Tông qua đời, Bình An Vương Trịnh Tùng cùng với triều thần lập ông lên ngôi ngày 27 tháng 8 năm Kỷ Hợi (1599), khi đó ông mới 11 tuổi, đặt niên hiệu là Thuận Đức lấy năm 1600 là năm Thuận Đức thứ nhất.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay trước khi Kính Tông lên ngôi, chính quyền nhà vua giờ đã trở thành bù nhìn, mọi quyền hành thực sự nằm trong tay chúa Trịnh. Ông nội của Kính Tông là Lê Anh Tông (Duy Bang) đã bị Trịnh Tùng sát hại khi muốn chống lại Trịnh Tùng.

Từ năm 1600, tình hình chính trị trong nước lại chuyển biến theo một cục diện mới. Ở miền bắc, Trịnh Tùng đã cơ bản dẹp được nhà Mạc, chỉ còn một số dư đảng ở miền trung du và miền núi Việt Bắc vẫn phải nhiều lần đi dẹp.

Cũng vào thời điểm này vấn đề tranh giành quyền lực giữa họ Trịnh và họ Nguyễn bắt đầu hình thành với việc Nguyễn Hoàng tự ý bỏ vào Thuận - Quảng. Nhân cơ hội ấy, dư đảng họ Mạc lại nổi lên.

Trong tình hình đó, nhà vua mưu cùng Trịnh Xuân giết chết Trịnh Tùng để giành lại địa vị nhưng không thành. Trịnh Xuân bị giam vào nội phủ, còn nhà vua thì bị bức thắt cổ chết ngày 12 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1619). Kính Tông ở ngôi 20 năm, thọ 31 tuổi.

Con trưởng của vua là Lê Duy Kỳ được lập lên ngôi, tức là Lê Thần Tông.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian ở ngôi, Lê Kính Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây:

  • Thận Đức (1600)
  • Hoằng Định (1601-1619)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]