Lê Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Nhân Tông
(黎仁宗)
Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 12 tháng 8 năm 1442 - 3 tháng 10 năm 1459 ÂL (17 năm)
Tiền nhiệm Lê Thái Tông
Nhiếp chính Nguyễn Thị Anh
Kế nhiệm Lệ Đức Hầu
Thông tin chung
Tên húy Lê Bang Cơ (黎邦基)
Niên hiệu Thái Hòa (大和, 1443 - 1453)
Diên Ninh (延寧, 1454 - 1459) [1]
Thụy hiệu Ngắn: Tuyên Hoàng Đế (宣皇帝)
Đầy đủ: Khâm văn Nhân hiếu Tuyên minh Thông duệ Tuyên hoàng đế (欽文仁孝宣明聰睿宣皇帝)
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Thái Tông
Thân mẫu Nguyễn Thị Anh
Sinh 9 tháng 5 năm 1441[2]
(Hiến Thiên Thánh Tiết) [2]
Đại Việt
Mất 3 tháng 10 năm 1459 (18 tuổi)[2]
Thăng Long, Đại Việt
An táng Mục Lăng, Lam Sơn[2]

Lê Nhân Tông (chữ Hán: 黎仁宗, 14411459) là vị vua thứ ba của nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam, trị vì trong vòng 17 năm, từ năm 1442 sau khi vua cha Lê Thái Tông qua đời đến khi bị Lê Nghi Dân ám sát năm 1459. Lê Nhân Tông tên thật là Lê Bang Cơ (黎邦基), sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam. Tuy là con trai thứ ba, ông được vua cha Thái Tông phong làm Hoàng Thái tử vào năm 1441.[2] Lên ngôi lúc còn nhỏ, nhưng do "tư thái anh minh"'", ông tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh, biết thương dân, sùng kính Nho giáo. Nhà vua cũng luôn xem trọng nghề nông và kính cẩn tông miếu[2].

Thái hậu Nguyễn Thị Anh làm Nhiếp chính cho ông từ khi mới lên ngôi báu cho đến khi ông tự thân chấp chính vào năm 1452. Dưới triều Nhân Tông, nước Đại Việt thái bình thịnh trị, đời sống nhân dân ổn định. Quân Chiêm Thành tiến đánh châu Hóa hai lần, khiến cho Triều đình ông đã vài lần phát binh, đỉnh điểm là vào năm 1446 khi quân Đại Việt thắng lớn trong cuộc tiến công Chiêm Thành, bắt sống được cả vua Chiêm và lập vua Chiêm mới lên thay.[1][2] Ngoài ra vào năm 1448, ông cũng sáp nhập đất của xứ Bồn Man vào lãnh thổ Đại Việt[1]. Ông không có thói đam mê tửu sắc, và biết tôn trọng những người có công đối với Vương triều. Do lòng nhân từ cùng với sự sáng suốt của nhà vua trẻ tuổi, cái chết đến sớm của ông (khi ông mới 19 tuổi[1]) đã khiến cho quan lại "nuốt hận ngậm đau", và thần dân "như mất cha mất mẹ".[2]

Như một vị Hoàng đế hiền minh, Nhân Tông sau khi lên thân chính vào năm 1452 đã truy tặng cho các công thần khai quốc của Vương triều Lê sơ (một việc mà vua em Lê Thánh Tông sau này sẽ tiếp tục thực hiện), ban ruộng đất cho hậu duệ của họ và tăng lương cho quan lại, vương hầu. Ông cũng đối đãi tử tế với người anh khác mẹ là Lạng Sơn Vương Nghi Dân - thế nhưng chính Lạng Sơn Vương đã sát hại ông vào năm 1459.[1][2] Cùng chết với ông có trung thần Đào Biểu.[3] Trong suốt triều đại của mình, ông đặt hai niên hiệuThái Hòa (大和) và Diên Ninh (延寧).[2]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Bang Cơ sinh ngày 9 tháng 5 (ngày Giáp Tuất)[2] năm Tân Dậu (1441), là con thứ ba của vua Lê Thái Tông và bà phi Nguyễn Thị Anh - người làng Bố Vệ huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Theo gia phả họ Đinh Danh (dòng họ của công thần Đinh Liệt), ông không phải là con đẻ của Thái Tông. Bà Nguyễn Thị Anh đã mang thai ông với Lê Bang Sơn trước khi vào cung với Lê Thái Tông.[4]

Trước khi Bang Cơ ra đời, vua Lê Thái Tông mới gần 20 tuổi đã có hai người con trai: Bà Chiêu nghi Dương Thị Bí sinh ra Lệ Đức hầu Nghi Dân; một bà vợ khác sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương. Không lâu sau đó một bà vợ khác của Thái Tông là Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao sinh ra Lê Tư Thành (sau là vua Lê Thánh Tông).

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thái hậu nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vì mẹ được vua yêu nên Lê Bang Cơ ra đời chưa được nửa năm, ngày 16 tháng 11 năm Tân Dậu (1441) đã được lập làm thái tử[2] thay cho anh là Nghi Dân lên 2 tuổi bị truất vì bà mẹ của Nghi Dân là Dương Thị Bí đã bị truất ngôi hoàng hậu. Vua cha Thái Tông có ban chiếu[2]:

Đặt Thái tử để vững gốc rễ, lập con đích để chính danh phận. Đó là mưu xa của xã tắc, kế lớn của quốc gia. Hoàng tử Bang Cơ thể chất vàng ngọc, tư thái anh minh, vừa có uy vọng của một bậc quân vương, lại đúng danh phận là con đích tôn quý. Vậy sai Nhập nội đại đô đốc Lê Liệt mang sắc mệnh lập làm Hoàng thái tử.

—Lê Thái Tông

Nhà vua giáng Nghi Dân làm Lạng Sơn Vương và phong anh thứ của Bang Cơ là Khắc Xương làm Tân Bình Vương[2]. Tại Lệ Chi Viên, vua Thái Tông đột ngột qua đời khi mới 20 tuổi, ngày 12 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), thái tử Bang Cơ được các đại thần Trịnh Khả, Lê Thụ, Nguyễn Xí lập lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Thái Hòa (1443-1453), tức là vua Lê Nhân Tông. Lúc đó ông mới lên 1 tuổi, thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nghe chính sự. Thái hậu dùng phép sẵn có từ đời trước, được các đại thần đắc lực của tiên triều phò tá nên trong khoảng hơn 10 năm giúp vị vua nhỏ, cả nước bình yên. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vào ngày 8 tháng 1, Mùa Xuân năm Quý Hợi 1443, niên hiệu Thái Hòa thứ nhất, trên bầu trời phương Nam có sao sa xuất hiện. Đến ngày 2 tháng 2 năm ấy, nhà vua có chiếu:[2]

Mới rồi trời hiện điềm tai biến như sao sa, động đất. Trẫm rất lo sợ, suy nghĩ nguyên nhân tai biến, không biết bởi đâu. Có phải vì trẫm mới cầm quyền, chưa biết giảm nhẹ lao dịch thuế khóa, có điều không lợi cho dân không? Hay là phụ quốc đại thần điều hòa trái lẽ nên khí âm dương không hài hòa mà đến thế chăng? Hay là việc ngục tụng không công bằng, hối lộ công khai, xử án còn nhiều oan uổng mà đến nỗi thế chăng? Hay là chức thú lệnh chưa được người giỏi, làm bừa trái phép, nhiễu hại dân chúng mà đến nỗi thế chăng? Hay là bọn cung nữ oán hờn chưa thả chúng ra nên hại tới hòa khí mà đến nỗi thế chăng? Có phải là bọn gièm pha âm mưu xảo quyệt, để công thần chịu oan khuất chưa được rửa oan mà đến nỗi thế chăng? Hay là vì bày việc thổ mộc, xây dựng cung điện chăng? Kẻ tiểu nhân được tiến dùng, còn người quân tử phải lui ẩn chăng? Đường nói năng bịt kín mà ơn trên bị che lấp chăng. Bọn phi tần lộng hành mà cửa sau bỏ ngỏ chăng. Lệnh cho khắp quan lại, quân dân, đều phải hết lòng bày tỏ những điều có thể xoay được lòng trời, dập hết tai biến, hãy thẳng thắn nói ra, chớ nên ẩn giấu, để giúp trẫm sửa những điều thiếu sót.

—Lê Nhân Tông

Vào ngày 16 tháng 3 năm 1443, Triều đình đưa chữ - tên của nhà vua - và chữ Anh - tên của Thái hậu Nhiếp chính - làm chữ húy. Miếu húy bao gồm bảy chữ.[2]

Vào tháng 6 năm Thái Hòa thứ nhất (1443), vị Hoàng đế trẻ tuổi lấy ngày sinh của ông làm Hiến Thiên Thánh Tiết[2]. Chúa Chiêm ThànhBí Cai hai lần mang quân vây Hóa Châu. Tuy Triều đình Nhân Tông đã mấy lần phát binh, quân Chiêm vẫn chưa bỏ thói gây hấn.[1] Vào năm 1446, thái hậu sai Trịnh Khả, Lê Thụ, Lê Khắc Phục đi đánh, Bí Cai ra hàng, các tướng lập cháu Bí Cai là Ma Ha Quý Lai làm vua Chiêm.[5] Với chiến thắng huy hoàng này, quân Đại Việt tóm gọn được các cung phi của Bí Cai mà đem về kinh thành Đông Kinh.[1]

Vào năm Mậu Thìn 1448, quốc gia Bồn Man (盆蠻) chịu nội thuộc vào Đại Việt. Triều đình Nhân Tông sáp nhập Bồn Man, trở thành châu Quy Hợp (歸合) của Nhà nước Đại Việt. Ngoài ra, cũng trong những năm tháng Thái hậu chấp chính, Triều đình ban lệnh cho đào sông Bình Lỗ ở Thái Nguyên, mang lại thuận lợi cho việc giao thông vận tải.[1]

Vào năm Kỷ Tị 1449, niên hiệu Thái Hòa thứ bảy, Quý Lai bị Quý Do cướp ngôi. Quý Do sai sứ sang triều cống Đại Việt, như vua Nhân Tông từ chối không tiếp nhận lễ vật và phán: ""Tôi giết vua, em giết anh là tội đại ác xưa nay, trẫm không nhận đồ dâng". Sau khi buộc sứ phải mang trả lại lễ vật về Chiêm, nhà vua truyền lệnh cho Đồng tri hữu tri sự Nguyễn Hữu Quang, Điện trung thị ngự sử Trình Ngự đem thư sang Chiêm Thành, với nội dung như sau: "Sự thực của các ngươi như thế nào thì phải sang trình bày cho rõ"[2].

Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính giết oan hai công thần Trịnh KhảLê Khắc Phục năm 1451, khiến cho nhiều người không phục.[1] Chưa kể, Hoàng Thái hậu còn nghe gièm pha cách chức Nguyễn Xí năm 1445, tới năm 1448 mới cho phục chức.

Đích thân chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm Quý Dậu (1453), Hoàng đế lên 12 tuổi, có thể tự coi chính sự, Thái hậu trả lại quyền chính cho nhà vua rồi lui về ở cung riêng. Khi tự mình ra coi chính sự, Hoàng đế xuống lệnh đại xá[2], và đổi niên hiệu là Diên Ninh (1454-1459). Năm 1454 trở thành năm Diên Ninh thứ nhất.[2]

Vào tháng 1 năm 1454, Triều đình ra lệnh cho đúc đồng tiền Diên Ninh.[2] Dưới thời vua Lê Nhân Tông, năm Quý Hợi (1455) lần đầu tiên triều đình sai Phan Phu Tiên soạn Đại Việt sử ký tục biên, viết tiếp quyển thời Trần từ Trần Thái Tông cho đến khi người Minh về nước.

Vua Nhân Tông tỏ ra là người độ lượng với các công thần khai quốc bị hại trước đây, từ thời ông nội Lê Thái Tổ, vua cha Lê Thái Tông tới mẹ Nguyễn Thị Anh chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, ông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ. Ông khôi phục lại quan tước và ban cho con cháu Trịnh Khả (bị hại năm 1451) 100 mẫu ruộng; cấp 100 mẫu ruộng cho con cháu Lê SátLê Ngân (bị hại năm 1437); trả lại điền sản trước đây cho con cháu Phạm Văn Xảo (bị hại năm 1430) và Trần Nguyên Hãn (bị hại năm 1429). Ông biểu dương công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi (bị hại năm 1442): "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng". Tuy nhiên, ông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi, điều mà vua em Thánh Tông đã làm sau này.

Ngoài ra, Lê Nhân Tông cũng xuống lệnh cho "cứu giúp cứu giúp những kẻ không vợ, góa chồng, mồ côi, cô đơn và biểu dương những người chồng nghĩa khí, người vợ trinh tiết".[2]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng điều đó liên quan tới nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên mà chính mẹ vua Nhân Tông là thủ phạm hại vua cha Thái Tông để giấu thân thế của ông;[6] lời dị nghị của mọi người ngày càng nhiều khiến ông phần nào nhận ra thân thế của mình.[6] Bản thân Nhân Tông cũng ở vào thế khó xử khi phải phân biệt đúng sai rành mạch.[6]

Mẹ con chịu nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù là một vị vua sáng suốt và nhân từ, nhưng bởi vua Nhân Tông không phải là con đích của vua cha nên anh cả là Lạng Sơn Vương Nghi Dân vẫn thường có lòng oán hận và muốn đoạt ngôi. Một số ý kiến cho rằng ngày càng có nhiều người dị nghị về nguồn gốc của Nhân Tông (không phải là con của Lê Thái Tông)[7] nên càng thúc đẩy Nghi Dân nổi loạn.[6]

Theo Đại Việt thông sử, Nhân Tông nghĩ Nghi Dân là anh ruột nên không có ý đề phòng gì cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn có ghi chép rằng vào ngày 3 tháng 1, Mùa Xuân năm Diên Ninh thứ ba (1456), nhà vua còn vời Nghi Dân vào cùng ngự yến.[2] Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 28 tháng 10 năm 1459), Nghi Dân đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết vua Nhân Tông. Hôm sau Hoàng thái hậu cũng bị hại. Khi đó ông mới 18 tuổi, trị vì được 17 năm. Theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, "Bấy giờ, Lê Đắc Ninh là Đô chỉ huy giữ cấm binh đương phiên trực, đã không chịu dẫn quân ra trước ngăn giữ, lại đem giúp kẻ phản nghịch. Cho nên Nghi Dân mới tiếm đoạt được ngôi báu, mà các quan văn võ phải nuốt hận ngậm đau, trăm họ bốn phương như mất cha mất mẹ[2]."

Khi biết Nghi Dân sẽ làm đảo chính viên Hoàng môn (người hầu trong Hoàng cung) là Đào Biểu đã giả mạo làm Lê Nhân Tông, khoác hoàng bào và lên long sàng mà nằm. Không may, Nghi Dân biết được, nên cũng giết Đào Biểu luôn.[3]

Nghi Dân tự xưng làm vua, ban chiếu: "Trẫm... đã được giữ ngôi chính ở Đông cung. Chẳng may Tiên đế... băng ở bên ngoài. Nguyễn Thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, bắt Trẫm làm phiên vương. Sau Tạ Thanh tiết lộ việc ấy, lây đến cả Thái úy Trịnh Khả và Tư không Trịnh Khắc Phục, Thái hậu bắt giết cả đi để diệt hết người nói ra. Cho nên từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn. Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho Trẫm lên thay ngôi báu..."[2]. Thế nhưng, chỉ sau 8 tháng, Nghi Dân lại bị các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng v.v... làm binh biến giết chết rồi lập người em út của ông là hoàng tử Lê Tư Thành lên làm vua, tức là vua Lê Thánh Tông.

Vua Thánh Tông lên ngôi đã làm lễ chiêu hồn cho vua anh Nhân Tông và an táng cho ông ở Mục Lăng, Lam Sơn. Ông được tôn miếu hiệuNhân Tông, thụy hiệuTuyên Hoàng Đế.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà sử học Phan Phu Tiên nhận định về Hoàng đế Lê Nhân Tông[2]:

Nhân Tông lên nối ngôi vào tuổi ấu thơ, bên trong có mẫu hậu buông rèm trông coi chính sự, bên ngoài các đại thần đồng lòng phò tá trị nước, cho nên trong khoảng 17 năm, thiên hạ thái bình, an cư lạc nghiệp, xứng đáng là vua nhân từ. Đến lúc cuối đời bị lũ vô lại Đồn, Ban xướng xuất, khiến Lệ Đức hầu Nghi Dân đang đêm bắc thang trèo thành, lẻn vào cung cấm, vua và Tuyên Từ hoàng thái hậu đều bị hại. Thương thay !

—Phan Phu Tiên

Đại Việt Sử ký Toàn thư có lời đánh giá vua Lê Nhân Tông như sau[2]:

Vua tuổi còn thơ ấu đã có thiên tư sáng suốt, vẻ người tuấn tú đường hoàng, dáng điệu nghiêm trang, sùng đạo Nho nghe can gián, thương người làm ruộng, yêu nuôi muôn dân, thực là bậc vua giỏi, biết giữ cơ đồ, không may bị cướp ngôi giết hại, Thương thay!

—Đại Việt Sử Ký Toàn thư

Bài văn bia tại Mục Lăng do Nguyễn Bá Kỷ sau có ghi nhận xét về Lê Nhân Tông như sau:

Vua thần sắc anh tuấn, dung dáng đúng đắn, mỗi khi tan chầu, thân đến kinh diên đọc sách, mặt trời xế bóng về Tây mới thôi. Khi đã thân coi chính sự thì tế thần kỳ, thờ tôn miếu, đối với Thái hậu thì dốc lòng hiếu đễ, đối với anh em thì hết lòng thương yêu, hòa thuận với họ hàng, kính lễ với đại thần, tôn chuộng Nho thuật, xét lời gần, nghe lời xa, chăm sóc chính sự, cẩn thận thưởng phạt, trọng việc nông tang chuộng nghề gốc rễ, hết lòng thương dân, không thích xây dựng, không ham săn bắn, không gần thanh sắc, không hám tiền của, hậu đối với người, bạc đối với mình, bên trong yên tĩnh, bên ngoài thuận lòng, răn cấm tướng ngoài không gây hấn khích. Đến khi Chiêm Thành hai lần cướp Hóa Châu thì sai tướng đem quân đi đánh, bắt được chúa nó là Bí Cai, nước lớn sợ uy, nước nhỏ mến đức. Phàm chính sự đều noi theo phép cũ, đều có phép sẵn, sai đình thần bàn hết tất cả rồi mới thi hành; cho nên chính trị hay giáo hoá tốt, khắp ra bốn biển, trăm họ mến đức, đời được thái bình. Ngày băng thình lình, trăm họ như mất cha mất mẹ. Ôi tư chất của vua như vậy mà gặp phải tai biến như vậy, thì chẳng phải là trời đất rộng lớn dường ấy mà loài người vẫn còn có chỗ đáng tiếc đó sau ?

Tuy nhiên, bài Trung Hưng Ký viết vào năm Quang Thuận (đời vua Lê Thánh Tông) có phê phán về tình hình đất nước dưới triều Lê Nhân Tông như sau:[2]

Nhân Tông mới lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua, Thái hậu Nguyễn Thị là gà mái gáy sớm, Đô đốc Lê Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh. Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê, bọn họ ngoại lòng tham, khoác lác hoành hành khắp cõi, kẻ thân yêu nắm quyền vị, nạn hối lộ được công khai. Việc văn giáo lặng lẽ như băng hàn người hiền từ phải bó cánh. Bậc túc nho như Lý Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc ồn ào như ong đàn nổi dậy, như chó chuột nhe răng. Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt sáu loại súc vật, Chưởng binh Lê Điên, Lê Luyện, thì mù tịt, chẳng sao hiểu được bốn mùa một năm. Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi, người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa. Oan uổng không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát. Văn giai như Công Soạn tuổi gần tám mươi, tể thần như Lê Ê không biết một chữ. Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy ngông cuồng, người già chẳng chết đi, trở thành mối họa. Bán quan mua kiện, ưa giàu ghét nghèo. Hiền tài là rường cột của triều đình mà sạch không như quét đất. Văn chương là khí vận của nhà nước mà im ắng tựa cỏ khô. Bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao bút được tiến cử. Hành khiển Nguyễn Hữu Quang, Nội mật Lê Hoàn Chi, hoạn quan chừng năm sáu bọn mà không một người đóng cửa cho nghiêm; cấm vệ Lê Đắc Ninh, chỉ huy Lê Hoằng Dục, vệ sĩ đến tám chín lũ mà không một ai mang mộc che đỡ. Lòng người sôi động, đường sás xôn xao. Họ ngoại như Văn Lão, Xương Lê, lòng như quỷ quái, vị không như Trần Lựu, Đỗ Tư ai chẳng cười chê? Cửa ngõ thì sơ sài, tay không cũng phá nổi...

Trưng Hưng Ký

Cũng theo bài Trưng Hưng Ký này, do sự canh phòng của Triều đình thiếu chặt chẽ như vậy, "Thế là nó dẫn quân cú vọ cáo cầy, ngầm nuôi mưu kế cướp ngôi phản nghịch. Bọn tặc thần Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng, Ngô Trang và phương chó lợn hơn 300 đứa, nửa đêm dám cả gan bắc thang trèo tường lẻn vào như là vào chỗ không người. Vua và Hoàng thái hậu đều bị hại, thương thay!"[2] Còn nhà sử học Trần Trọng Kim thì viết rằng, "Vua Nhân-tông có lẽ cũng nên được một ông vua hiền, nhưng chẳng may ngài có người anh là Lạng-sơn-vương Nghi Dân 宜 民... nửa đêm trèo thành vào giết Nhân-tông và Hoàng-thái-hậu".[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư (bản điện tử)
  • Đại Việt thông sử
  • Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Quyển I, Phần III, Chương XV.
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh niên, 2001
  • Nhìn lại lịch sử - Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vỹ, NXB Văn hóa Thông tin, 2003
  • Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa, 1991.
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g Việt Nam Sử Lược, Quyển I, Phần III, Chương XV, của Trần Trọng Kim
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 11: Nhân Tông Tuyên hoàng đế
  3. ^ a ă Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, trang 118
  4. ^ Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1082
  5. ^ Viện sử học, sách đã dẫn, tr. 295
  6. ^ a ă â b Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1084
  7. ^ Phạm Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ, sách đã dẫn, tr. 1083

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]