Đại Việt sử ký toàn thư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại Việt sử ký toàn thư
DaiVietSuKyToanThu.png
Bìa sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản. Cột chữ bên phải là Vựng lịch triều chi sự tích nghĩa là "góp nhặt sự tích của các triều đại đã qua". Cột chữ bên trái là Công vạn thế chi giám hoành nghĩa là "nêu gương chung công lao của vạn đời".
Tác giả Sử quán triều Hậu Lê gồm các sử quan tiêu biểu : Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy, Nguyễn Quý Đức
Tựa gốc 大越史記全書
Quốc gia Đại Việt
Ngôn ngữ chữ Hán
Chủ đề Lịch sử Việt Nam
Ngày phát hành 1697[1]
Cuốn trước Đại Việt sử ký
Cuốn sau Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục

Đại Việt sử ký toàn thư (chữ Hán: 大越史記全書), đôi khi gọi tắt là Toàn thư, là bộ quốc sử bằng chữ Hán của Việt Nam, viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê. Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà năm thứ 18, triều vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697. Nó là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê biên soạn.

Đại Việt sử ký toàn thư bắt đầu được Ngô Sĩ Liên, một vị sử quan làm việc trong Sử quán dưới thời vua Lê Thánh Tông, biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ sung hai bộ quốc sử Việt Nam trước đó cùng mang tên Đại Việt sử ký của Lê Văn HưuPhan Phu Tiên. Hoàn thành vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479), bộ sử mới gồm 15 quyển, ghi lại lịch sử Việt Nam từ một thời điểm huyền thoại là năm 2879 TCN đến năm 1427 khi nhà Hậu Lê được thành lập và mang tên Đại Việt sử ký toàn thư[2]. Sau đó, dù đã hoàn thành, Đại Việt sử ký toàn thư không được khắc in để ban hành rộng rãi mà tiếp tục được nhiều đời sử quan trong Quốc sử quán sửa đổi, bổ sung và phát triển thêm. Khoảng niên hiệu Cảnh Trị đời vua Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc hạ lệnh cho một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Phạm Công Trứ, sửa chữa bộ quốc sử của Ngô Sĩ Liên, đồng thời sai biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ đến năm 1662 đời vua Lê Thần Tông nhà Hậu Lê[2]. Bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, gồm 23 quyển, được đem khắc in để phát hành nhưng công việc chưa xong, phải bỏ dở. Khoảng niên hiệu Chính Hòa đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Căn lại hạ lệnh cho một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Lê Hy, tiếp tục khảo đính bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, đồng thời biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1663 đời vua Lê Huyền Tông đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê[2]. Bộ quốc sử này lấy tên là Đại Việt sử ký toàn thư, theo đúng tên mà sử gia Ngô Sĩ Liên cách đó gần hai thế kỷ đã đặt cho bộ sử của ông, gồm 25 quyển, được khắc in toàn bộ và phát hành thành công vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 đời vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697[2].

Sau khi xuất bản, Đại Việt sử ký toàn thư tiếp tục được tái bản bởi các hiệu in của chính quyền và tư nhân, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, trong nhiều thế kỷ sau. Nửa cuối thế kỷ 20, ở Việt Nam xuất hiện các bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư ra chữ quốc ngữ, phổ biến nhất là bản dịch dựa trên cơ sở bản in Nội các quan bản - hiện đang lưu giữ tại thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ Paris - do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành lần đầu năm 1993.

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, là di sản vô giá của văn hóa dân tộc Việt Nam, là kho tư liệu phong phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác nữa[3] và cũng là một bộ sử có giá trị văn học. Các bộ quốc sử sau này của Việt Nam như Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đều được biên soạn dựa trên cơ sở của Đại Việt sử ký toàn thư.

Mục lục

[sửa] Quá trình biên soạn

Đại Việt sử ký Đại Việt sử ký

[sửa] Ngô Sĩ Liên và Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức

Đại Việt sử ký toàn thư không phải là bộ quốc sử Việt Nam đầu tiên được biên soạn. Trước đó, một số thư tịch đã nhắc đến Sử ký 史記 của Đỗ Thiện thời nhà Lý[4][5], Việt chí 越志 của Hàn trưởng Trần Phổ (hoặc Tấn) thời nhà Trần[6]. Bộ Đại Việt sử ký 大越史記 viết theo thể biên niên của Lê Văn Hưu biên soạn và hoàn thành vào năm 1272 là bộ quốc sử Việt Nam sớm nhất được ghi nhận, ghi chép lịch sử Đại Việt từ thời đại Triệu Vũ Đế năm 207 TCN đến hết năm 1225 đời Lý Chiêu Hoàng nhà Lý[7]. Dưới đời vua Lê Nhân Tông nhà Hậu Lê, Phan Phu Tiên được giao nhiệm vụ biên soạn lịch sử từ năm 1226 đầu đời Trần Thái Tông đến năm 1427 khi thời kì Bắc thuộc lần 4 kết thúc, bộ quốc sử này cũng viết theo thể biên niên và mang tên Đại Việt sử ký[8].

Nhà Hậu Lê tiếp tục trải qua một giai đoạn hoàng kim dưới sự cai trị của Lê Thánh Tông, một vi vua rất quan tâm đến văn hóa và giáo dục. Trong những năm đầu trị vì, nhà vua đã nhiều lần ra lệnh tìm kiếm, tập thư tịch tài liệu lịch sử [9], đồng thời ông cũng bổ nhiệm các học giả Nho gia vào Sử quán triều đình để chuẩn bị cho công việc biên soạn quốc sử. Ngô Sĩ Liên là một trong số các học giả đó.

Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời vua Lê Thái Tông (1442), Ngô Sĩ Liên từng giữ chức Đô Ngự sử đời Lê Nghi DânLê Thánh Tông rồi bị giáng xuống làm Hữu Thị lang bộ Lễ, Tư nghiệp Quốc Tử Giám kiêm chức Tu soạn ở Sử quán[10]. Trong vị trí của một sử quan, ông được giao nhiệm vụ biên soạn quốc sử cho triều đình theo mệnh lệnh của Lê Thánh Tông vào tháng giêng năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10, tức là năm 1479[11].

Ngô Sĩ Liên đã dựa vào hai bộ sử của Lê Văn HưuPhan Phu Tiên để làm công việc đó. Ông cho rằng hai bộ sách của họ Lê và họ Phan tuy "rõ ràng, có thể xem được" (蹟彰可鑒 - chương chương khả giám) nhưng "ghi chép còn có chỗ chưa đủ, nghĩa lệ còn có chỗ chưa đáng, văn tự còn có chỗ chưa ổn, người đọc không khỏi có chỗ còn chưa vừa ý" (而記志猶有未僃義例猶有未當文字猶有未安讀者不能無憾焉 - nhi kí chí do hữu vị bị, nghĩa lệ do hữu vị thường, văn tự do hữu vị an, độc giả bất năng vô hám yên)[9]. Do vậy, ông đã sửa chữa chép lại hai bộ sách này "có việc nào sót quên thì bổ sung thêm vào, có lệ nào chưa đúng thì cải chính lại, văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi đi, gián hoặc có việc hay dở có thể khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê mùa ở sau" (事有遺忘者補之例有未當者正之文有未安者改之間有善惡可以勸懲者贅鄙見於其後 - Sự hữu di vong giả bổ chi, lệ hữu vị đáng giả chính chi, văn hữu vị an giả cải chi, gian hữu thiện ác khả dĩ khuyên trừng giả, chuế bỉ kiến ư kì hậu). Ngô Sĩ Liên cũng giữ lại cho bộ sử nhiều lời bình của Lê Văn HưuPhan Phu Tiên về các sự kiện lịch sử. Không chỉ sửa chữa sử cũ, Ngô Sĩ Liên còn bổ sung vào dòng chảy lịch sử Việt Nam thời đại họ Hồng Bàng, đưa nó trở thành thời đại đầu tiên trong lịch sử thay vì nhà Triệu như trong Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Trong quá trình biên soạn, bên cạnh các bộ chính sử trước đó và sử sách Trung Quốc[12], Ngô Sĩ Liên cũng đã thu thập tư liệu từ nhiều nguồn khác, bao gồm dã sử, các bản truyện chí có thể là Việt điện u linh tập hay Lĩnh Nam chích quái cùng với những lời truyền tụng. Tuy là truyền thuyết và truyện dân gian nhưng chúng vẫn được Ngô Sĩ Liên xem là nguồn sử liệu đáng tin cậy[13]. Đây là lần đầu tiên các nguồn kiểu này được một nhà sử học Việt Nam sử dụng trong tác phẩm lịch sử[14].

Bộ quốc sử hoàn thành vào tiết đông chí, khoảng tháng một năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (tức là ngày 13 tháng 12 năm 1479), bao quát lịch sử Việt Nam trong hơn bốn thiên niên kỷ, bắt đầu từ một thời điểm truyền thuyết 2879 TCN, dừng lại ở sự kiện quân Minh rút về Trung Quốc, kết thúc Bắc thuộc lần 4 năm 1427. Bộ sử này được tác giả đặt tên là Đại Việt sử ký toàn thư. Tuy đã hoàn thành, nhưng công trình sử học này của ông không được khắc in để phát hành mà vẫn nằm lại trong Sử quán của triều đình dưới dạng bản thảo viết tay[9].

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chia thành hai phần là Ngoại kỷ toàn thưBản kỷ toàn thư. Phần Ngoại kỷ bắt đầu từ họ Hồng Bàng đến hết năm 938, năm Tiền Ngô Vương đại phá quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng. Phần Bản kỷ bắt đầu từ năm 938, năm thành lập nhà Ngô, đến hết năm 1427, năm kết thúc sự thống trị của nhà Minh trên đất Đại Việt. Cộng tất cả gồm 15 quyển.

Có thể liệt kê vai trò của Ngô Sĩ Liên trong tiến trình biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư như sau :

  • Đặt tên cho bộ sử là Đại Việt sử ký toàn thư, tên này được triều đình Hậu Lê và sử thần các đời sau công nhận và tiếp thu, trở thành tên chính thức cho bộ quốc sử được khắc in vào năm 1697.
  • Bổ sung thời đại họ Hồng Bàng (gồm Kinh Dương Vương, Lạc Long QuânHùng Vương) bằng một quyển đầu phần Ngoại kỷ toàn thư, trình bày lại tiến trình lịch sử Việt Nam, kéo dài từ họ Hồng Bàng (chứ không phải chỉ từ nhà Triệu) cho tới khi quân Minh về nước năm 1427.
  • Viết những lời bình luận các sự kiện lịch sử (gồm 174 đoạn[15]), ghi rõ "sử thần Ngô Sĩ Liên bàn" (史臣吴士連曰 - sử thần Ngô Sĩ Liên viết), viết Sách Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư (大越史記外紀全書 - Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư) , Biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư (擬進大越史記全書 - Nghĩ tiến Đại Việt sử ký toàn thư), Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư (篡修大越史記全書凣例 - Soán tu Đại Việt sử ký toàn thư phàm lệ).

Ngoài ra, khi làm sử quan dưới triều Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên còn biên soạn Tam triều bản kỷ 三朝本紀, ghi chép lịch sử ba triều vua Lê Thái Tổ, Thái TôngNhân Tông của nhà Hậu Lê[16]. Rất có thể đây là tài liệu quan trọng mà sau này nhóm Phạm Công Trứ dựa vào để biên soạn lịch sử triều Hậu Lê trong giai đoạn cai trị của ba vị vua này[17]. Trong văn bản Đại Việt sử ký toàn thư bản in Nội các quan bản, đầu quyển 11 phần Bản kỷ thực lục gồm lịch sử hai triều Lê Thái TôngLê Nhân Tông cũng có ghi "Triều liệt Đại phu Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Sử quan Tu soạn, thần Ngô Sĩ Liên biên soạn" (朝列大夫國子監司業兼史官修撰臣吳士連編 - Triều liệt Đại phu Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Sử quan Tu soạn thần Ngô Sĩ Liên biên).

Dưới triều đại của Lê Tương Dực, Vũ Quỳnh, Đô Tổng tài trong Sử quán, đã dâng lên nhà vua bộ sách Đại Việt thông giám thông khảo (còn được gọi là Đại Việt thông giám hoặc Việt giám thông khảo), một bộ sử viết theo thể biên niên ghi lại tiến trình lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng đến năm đầu niên hiệu Thuận Thiên của Lê Thái Tổ (1428), gồm 26 quyển[18]. Không có tư liệu cho ta biết Vũ Quỳnh đã biên soạn Đại Việt thông giám thông khảo dựa trên những nguồn nào, bản thân bộ sử này nay cũng không còn[17], nhưng có thể thấy nó chịu ảnh hưởng khá lớn từ Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức của Ngô Sĩ Liên. Đại Việt thông giám thông khảo có khung thời gian và bố cục, gồm hai phần Ngoại kỷBản kỷ, tương tự như Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức. Tuy nhiên, Vũ Quỳnh chia phần Ngoại kỷ bắt đầu từ họ Hồng Bàng đến hết năm 967 thời Thập nhị sứ quân và phần Bản kỷ bắt đầu từ đời Đinh Tiên Hoàng năm 968 đến năm đầu đời Lê Thái Tổ tức là năm 1428[18]. Cách chia này khác với cách chia của Ngô Sĩ Liên đã trình bày ở trên. Nhóm Phạm Công Trứ sau này đã tiếp thu cách chia đó của Vũ Quỳnh. Vũ Quỳnh cũng đã viết lời bình luận các sự kiện lịch sử (gồm 3 đoạn), ghi rõ "Sử thần Vũ Quỳnh bàn" (史臣武瓊曰 - Sử thần Vũ Quỳnh viết). Ngoài ra, khi làm sử quan dưới triều Lê Tương Dực, Vũ Quỳnh cũng được biết đến là người soạn sách Tứ triều bản kỷ 四朝本紀, ghi chép lịch sử bốn triều vua Lê Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục của nhà Hậu Lê[16]. Rất có thể đây là tài liệu quan trọng mà sau này nhóm Phạm Công Trứ dựa vào để biên soạn lịch sử triều Hậu Lê trong giai đoạn cai trị của bốn vị vua này[17].

Khi vua Lê Tương Dực đọc Đại Việt thông giám thông khảo, muốn tóm tắt những điều cốt yếu của bộ sách cho tiện xem, đã sai một văn thần là Lê Tung viết Việt giám thông khảo tổng luận 越鑑通考總論. Bài tổng luận này sau đó đã được đưa vào quyển thủ của Đại Việt sử ký toàn thư.

[sửa] Nhóm Phạm Công Trứ và Đại Việt sử ký toàn thư bản Cảnh Trị

Khoảng những năm Cảnh Trị đời vua Lê Huyền Tông, một lần nữa triều đình nhà Hậu Lê lại khởi động biên soạn quốc sử. Công việc này được chúa Trịnh Tạc giao cho một nhóm văn quan, bao gồm : Phạm Công Trứ, Dương Hạo, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Quốc Trinh, Đặng Công Chất, Nguyễn Công Bích, Bùi Đình Viên, Đào Công Chính, Ngô Khuê, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Công Bật, Nguyễn Viết Thứ, Vũ Duy Đoán. Đứng đầu nhóm biên soạn này là Phạm Công Trứ.

Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 đời vua Lê Thần Tông (1628), Phạm Công Trứ là một nhà chính trị tài năng, một công thần đầy danh vọng của triều đình lúc bấy giờ. Khi trở thành người chủ trì biên soạn quốc sử, ông đang giữ chức Thượng thư bộ Lại kiêm Đại học sĩ Đông các, tước Yên Quận công, làm Tham tụng (tương đương với Tể tướng). Ông đã tập hợp xung quanh mình nhiều vị văn thần tiếng tăm đương thời, tất cả họ đều đã từng đỗ đạt trong các kì thi Hội và giữ chức vụ trong triều đình. Dương Hạo đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Canh Thìn, niên hiệu Dương Hòa thứ 6 đời vua Lê Thần Tông (1640). Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Công Bật, Nguyễn Đình Chính đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức thứ 4 đời vua Lê Thần Tông (1652). Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Công Bích đỗ Trạng nguyênBảng nhãn trong khoa thi năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời vua Lê Thần Tông (1659). Hai năm sau, Đặng Công Chất, Đào Công ChínhNgô Khuê theo thứ tự đỗ Tam khôi trong khoa thi năm Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 4 (1661). Nguyễn Viết ThứVũ Duy Đoán vừa mới là hai vị tân tiến sĩ trong khoa thi năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 (1664). Bùi Đình Viên là một trong năm người đỗ khoa thi Đông các năm 1659, khi đó đang giữ chức Học sĩ ở Đông các. Tất cả các soạn giả đều có học vấn uyên bác, tinh thông lịch sử, rất hăng hái lập ngôn viết sách để ca ngợi công tích của triều đình vua Lê chúa Trịnh[19].

Họ có hai nhiệm vụ phải hoàn thành trong quá trình biên soạn bộ chính sử mới của Đại Việt.

Nhiệm vụ thứ nhất là khảo đính các bộ quốc sử cũ ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời họ Hồng Bàng cho đến đời vua Lê Cung Hoàng nhà Hậu Lê[20]. Theo Phạm Công Trứ, các bộ sử cũ ở đây bao gồm trước tác của Ngô Sĩ LiênVũ Quỳnh với khung thời gian từ họ Hồng Bàng đến đời Lê Thái Tổ và "sách trước" (前書 - tiền thư) với khung thời gian từ đời Lê Thái Tông đến đời Lê Cung Hoàng nhà Hậu Lê[20]. Trước tác của Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh có lẽ là Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức và Đại Việt thông giám thông khảo[19] (tuy nhiên hai sách này dừng lại ở thời điểm năm 1428 chứ không phải đến hết đời Lê Thái Tổ năm 1433). Còn "sách trước" có lẽ là bản thảo của Quốc sử quán triều Hậu Lê, có thể là Tam triều bản kỷ của Ngô Sĩ LiênTứ triều bản kỷ của Vũ Quỳnh, ghi chép lịch sử từ năm 1434 đầu đời Lê Thái Tông đến hết năm 1527 cuối đời Lê Cung Hoàng và thậm chí có thể cả trong khoảng 1527 - 1533 khi nhà Lê trung hưng chưa thành lập. Giai đoạn này không được biên soạn chính thức mà chỉ tồn tại bản thảo ghi chép[19] nên chúng bị sử gia nhiều đời theo nhau sao lục nhầm lẫn mà Phạm Công Trứ gọi là tệ "hợi 亥 lầm ra thỉ 豕, ngư 魚 lầm ra lỗ[21]" cho nên phải hiệu chỉnh lại để "rửa bỏ được thói quen theo nhau lâu dài ấy[20]" (洗相沿之故習 - tẩy tương duyên chi cố tập). Có thể thấy công tác khảo đính sử cũ của nhóm Phạm Công Trứ thuần túy là sửa chữa văn bản, ít thay đổi so với nguyên tác, đúng như họ đã tự nhận "gián hoặc thấy có chỗ nào sao chép sót sai, chữ nghĩa không chạy, thì suy tìm ý nghĩa mà sửa chữa một vài cho người đọc dễ hiểu, chứ không dám thêm thắt đoán chừng[20]" (間見抄録遺舛字義蹇澁乃推尋意義之中補輯一二使讀者易曉非敢妄為附會臆説 - gian kiến sao lục di suyễn, tự nghĩa kiển sáp, nãi suy tầm ý nghĩa chi trung, bổ tập nhất nhị, sử độc giả dị hiểu, phi cảm vọng vi phụ hội ức thuyết).

Nhiệm vụ thứ hai là biên soạn tiếp nối quốc sử từ năm 1533 đầu đời Lê Trang Tông đến năm 1662 cuối đời Lê Thần Tông nhằm khắc in ban hành cho cả nước[20]. Nguồn tư liệu mà nhóm Phạm Công Trứ dựa vào để biên soạn giai đoạn lịch sử này gồm "dã sử của Đăng Bính", "sách sót lại của người đương thời dâng hiến"[20]. Lai lịch sử gia Đăng Bính hiện nay chưa rõ ràng[20], trong Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ một lời bàn khá dài của ông ở cuối phần Bản kỷ thực lục, trong đó ông tỏ rõ thái độ phê phán nhà MạcMạc Đăng Dung, bênh vực và ngợi ca nhà Lê trung hưng, đặc biệt còn làm một bài thơ tứ tuyệt Đường luật để thể hiện quan điểm của mình[22]. Trong sách Hoan châu ký của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An, soạn giả "Nguyễn Cảnh thị" cũng ghi lại được một bài thơ tứ tuyệt của Đăng Bính trong sách Sử ký dã biên 史記野編 với diện mạo khá giống, chỉ sai khác hai chữ[23][24]. Rất có thể "dã sử của Đăng Bính" chính là cuốn Sử ký dã biên này. Như vậy, để biên soạn lịch sử 129 năm đầu của chính triều đại mình, ghi chép của các sử quan trong Sử quán là không đủ đối với nhóm Phạm Công Trứ, họ đã phải tìm đến khá nhiều các nguồn tư liệu bên ngoài triều đình.

Bộ quốc sử hoàn thành vào mùa thu năm Ất Tỵ niên hiệu Cảnh Trị thứ 3, tức là năm 1665, được dâng lên vua Lê Huyền Tông và chúa Trịnh Tạc vào ngày mồng một tháng tám cùng năm (tức là ngày 9 tháng 9 năm 1665), bao quát lịch sử Việt Nam từ thời đại Hồng Bàng đến khi vua Lê Thần Tông băng hà vào năm 1662, dài hơn 235 năm so với khung thời gian của Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức.

Đại Việt sử ký toàn thư bản Cảnh Trị được chia thành hai phần giống như bản Hồng Đức là Ngoại kỷBản kỷ. Tiếp thu cách chia của Vũ Quỳnh, phần Ngoại kỷ ở đây bắt đầu từ họ Hồng Bàng đến hết năm 967 khi nhà Đinh được thành lập, thống nhất đất nước. Phần Bản kỷ bắt đầu từ năm 968 đến hết năm 1662, lại chia thành ba phần nhỏ là : Bản kỷ toàn thư (từ năm 968 đời Đinh Tiên Hoàng đến hết năm 1433 kết thúc triều đại Lê Thái Tổ), Bản kỷ thực lục (từ năm 1434 đời Lê Thái Tông đến hết năm 1527 khi nhà Lê sơ sụp đổ, nhà Mạc thành lập và phụ chép lịch sử từ năm 1527 đến năm 1532 khi nhà Lê trung hưng chưa thành lập) và Bản kỷ tục tiên (từ năm 1533 đời Lê Trang Tông đến hết năm 1662 đời Lê Thần Tông). Cộng tất cả gồm 23 quyển[20].

Có thể liệt kê vai trò của nhóm Phạm Công Trứ trong tiến trình biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư như sau :

  • Hoàn thành cấu trúc bộ sử bằng cách phân chia làm hai phần là Ngoại kỷBản kỷ, phần Bản kỷ lại chia làm 3 phần nhỏ Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục, Bản kỷ tục biên, phân định lại ranh giới giữa các phần. Cấu trúc này sau đó được nhóm Lê Hy công nhận và tiếp thu.
  • Hiệu đính bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, chỉnh lý phần Bản kỷ thực lục, viết mới phần Bản kỷ tục biên.
  • Bổ sung Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư (篡修大越史記全書凣例 - Soán tu Đại Việt sử ký toàn thư phàm lệ) của Ngô Sĩ Liên, viết Phàm lệ Tục biên (續編凣例 - Tục biên phàm lệ) , Sách Đại Việt sử ký tục biên (大越史記續編書 - Đại Việt sử ký tục biên thư).

Bộ quốc sử sau khi biên soạn xong đã được khắc in, nhưng không rõ vì sao công việc bị đình trệ, "mười phần mới được độ năm sáu phần" (十纔五六 - thập tài ngũ lục)[25] ; một lần nữa, nó lại bị cất vào Bí thư các - kho sách của triều đình[25].

Năm 1988, quyển 20 và quyển 21 của bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư bản Cảnh Trị đã được tìm thấy ở tủ sách gia đình Nguyễn Văn Huyên[26]. Có thể nói đây là một phần của bản sách in Đại Việt sử ký toàn thư cổ nhất được ghi nhận hiện nay[26].

[sửa] Nhóm Lê Hy và Đại Việt sử ký toàn thư bản Chính Hòa

Năm 1676, sau khi Phạm Công Trứ mất, triều đình lại giao công việc sửa quốc sử cho Hồ Sĩ Dương[27]. Năm 1681, Hồ Sĩ Dương mất, công việc quan trọng này được giao cho một nhóm văn thần gồm Lê Hy, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Đổng, Vũ Thạnh, Hà Tông Mục, Nguyễn Hành, Nguyễn Trí Trung, Nguyễn Đương Bao, Nguyễn Mại, Nguyễn Hồ, Ngô Công Trạc, Trần Phụ Dực, Đỗ Công Bật. Đứng đầu nhóm biên soạn này là Lê Hy.

Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 đời vua Lê Huyền Tông (1664), Lê Hy khi làm chủ trì biên soạn quốc sử đang làm Tham tụng, giữ chức Thượng thư bộ Hình kiêm quản lý Trung thư giám, tước Lai Sơn tử, đứng đầu quan lại trong triều đình bấy giờ. Đặc biệt, tham gia nhóm biên soạn lần này còn có tất cả năm vị Bồi tụng, đó là Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Công Đổng, Vũ Thạnh, Hà Tông MụcNguyễn Hành. Bảy người còn lại hoặc đang giữ chức Cấp sự trung ở Hộ khoa và Lại khoa hoặc làm việc trong Hàn lâm viện và Chiêu văn quán[25]. Lẽ dĩ nhiên, tất cả họ đều đỗ Tiến sĩ Nho học qua các khoa thi. Nguyễn Trí Trung đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông (1670). Nguyễn Đương Bao đỗ ở khoa thi ba năm sau, niên hiệu Dương Đức thứ 2 năm Quý Sửu đời Lê Gia Tông (1673). Khoa thi năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Trị thứ 1 đời Lê Hy Tông (1676), Nguyễn Quý Đức đỗ đầu. Trần Phụ Dực đăng khoa trong niên hiệu Chính Hòa thứ 4 năm Quý Hợi đời Lê Hy Tông (1683). Vũ Thạnh, Nguyễn Công ĐổngĐỗ Công Bật là bạn đồng khoa trong khoa thi năm Ất Sửu niên hiệu Chính Hòa thứ 5 (1685). Nguyễn Hồ, Nguyễn Hành, Hà Tông Mục đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi năm Mậu Thìn niên hiệu Chính Hòa thứ 9 (1688). Nguyễn MạiNgô Công Trạc đỗ muộn nhất, họ đỗ trong khoa thi năm Tân Mùi niên hiệu Chính Hòa thứ 12 (1691) và khoa thi năm Giáp Tuất niên hiệu Chính Hòa thứ 15 (1694). Nhóm biên soạn lần này tập hợp được các vị soạn giả không những có học vấn uyên bác mà còn đầy quyền lực và danh vọng của triều đình vua Lê chúa Trịnh đương thời.

Nhóm Lê Hy có nhiệm vụ khảo đính bộ quốc sử là thành quả của nhóm Phạm Công Trứ trước đó ba thập kỉ, đồng thời biên soạn tiếp lịch sử từ năm Cảnh Trị thứ 1 đời Lê Huyền Tông (1663) đến năm Đức Nguyên thứ 2 đời Lê Gia Tông (1675) gồm 13 năm[25]. Đối với việc khảo đính sử cũ, Lê Hy tự nhận mình chỉ "chỗ nào sai thì sửa lại, chỗ nào đúng thì chép lấy" (訛者正之純者録之- ngoa giả chính chi, thuần giả lục chi) còn thế thứ, phàm lệ, niên biểu đều theo đúng như sử cũ[25]. Do vậy, nhóm Lê Hy đã sửa lại nhiều chi tiết sai lệch về lịch pháp và thiên văn trong bản Cảnh Trị của nhóm Phạm Công Trứ, đồng thời họ cũng cô gọn lời văn và cắt bỏ hoặc bổ sung nhiều sự kiện lịch sử so với bản Cảnh Trị[26]. Còn phần biên soạn mới của nhóm Lê Hy chính là quyển 19 của phần Bản kỷ trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản, tiếp nối dòng chảy lịch sử trước đó dừng lại ở thời điểm 1662 của nhóm Phạm Công Trứ, được tạo ra dựa trên công tác "tìm kiếm chuyện cũ, tham khảo các sách dã sử loại biên" (蓃獵舊跡參諸野史 - sưu liệp cựu tích tham chư dã sử)[25] và cũng được đặt tên là Bản kỷ tục biên[25].

Bộ quốc sử hoàn thành vào mùa đông năm Đinh Sửu niên hiệu Chính Hòa thứ 18, tức là năm 1697 và được tiến dâng vua Lê Hy Tông cùng chúa Trịnh Căn vào ngày mồng một tháng một cùng năm (tức là ngày 13 tháng 12 năm 1697), bao quát lịch sử Việt Nam từ thời đại họ Hồng Bàng mở đầu năm 2879 TCN đến hết năm 1675 nhà Lê trung hưng.

Đại Việt sử ký toàn thư bản Chính Hòa về cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân chia và ranh giới giữa các phần như bản Cảnh Trị và vì biên soạn mới thêm một quyển, nên toàn bộ bộ sách cộng là 24 quyển. Tuy phần biên soạn không được bao nhiêu so với các nhóm tác giả trước nhưng nhóm Lê Hy đã kết thúc việc biên soạn quốc sử trải qua nhiều đời sử quan, do đó đã quyết định lần cuối bộ mặt của Đại Việt sử ký toàn thư bản Chính Hòa và các bản Đại Việt sử ký toàn thư tái bản sau này. Ngoài ra, họ cũng là tác giả của bài Tựa sách Đại Việt sử ký tục biên (大越史記續編序 - Đại Việt sử ký tục biên tự) mở đầu bộ quốc sử.

Và cuối cùng, sau hàng thế kỉ ngóng đợi, bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư đã được in toàn bộ và ban bố phát hành đầy đủ vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa thứ 18, tức là năm 1697 đời vua Lê Hy Tông. Mộc bản in sách được khắc ở hai làng Hồng Lục và Liễu Tràng[25], tuy nhiên sau khi nhà Hậu Lê sụp đổ vào khoảng cuối thế kỉ 18 thì hệ thống ván khắc này đã bị thất lạc. Các bản Đại Việt sử ký toàn thư hiện hành, gồm bản Nội các quan bản hay Quốc Tử Giám tàng bản, đều có nguồn gốc từ bản in Chính Hòa.

[sửa] Các ấn bản hiện hành

[sửa] Nguyễn Văn Huyên bản

Trong bài Về bản Đại Việt sử kí toàn thư in ván gỗ mới được tìm thấy của Phạm Công Trứ đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1988, nhà nghiên cứu Ngô Thế Long cho biết rằng trong khi đi tìm các dị bản của bộ sách Đại Việt sử ký tục biên, ông đã tìm thấy ở tủ sách gia đình Nguyễn Văn Huyên một cuốn sử in ván gỗ, giấy cũ đã ngả màu và đã bị mủn nát một phần nề dưới, lém vào một số chữ...[26] (gọi tắt là bản Nguyễn Văn Huyên).

[sửa] Đặc điểm văn bản

Bìa sách là bìa phất cậy, ở gáy bìa có ghi tên sách là Việt sử tục biên nhưng cả bìa sách và tên sách mới được làm và viết lại cách đó không lâu[26]. Khổ giấy đã gấp 17x28cm, khung in 14x21cm ; mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng khoảng 18 - 19 chữ ; dạng chữ là dạng chữ in đời Hậu Lê, phong cách Liễu Tràng[26]. Ruột sách chia làm hai quyển, ở dòng đầu mỗi quyển đề rằng "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên quyển chi nhị thập" và "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên quyển chi nhị thập nhất" cho biết đây là quyển 20 và 21 của sách Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên. Quyển 20 có 23 tờ, quyển 21 có 26 tờ nhưng tờ số 18 của quyển 21 lại là tờ số 18 của quyển 22 đóng lộn vào[26]. Cộng cả sách là 49 tờ.

Nội dung của quyển 20 là lịch sử triều vua Lê Kính Tông từ năm 1600 đến năm 1619, còn quyển 21 là lịch sử triều vua Lê Thần Tông từ năm 1620 đến năm 1643[26]. So với bộ Đại Việt sử ký toàn thư của nhóm Lê Hy thì hai quyển 20 và 21 ở bản Nguyễn Văn Huyên chỉ tương ứng với nửa đầu của quyển 18 phần Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên bản Chính Hòa[26].

[sửa] Xác định niên đại văn bản

Kết quả giám định cho thấy đây là quyển 20 và 21 của bộ Đại Việt sử ký toàn thư do nhóm Phạm Công Trứ biên soạn, đã khắc in ra vào năm Cảnh Trị thứ 3 (1665)[26]. Vì bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ biên soạn trong những năm Cảnh Trị gồm 23 quyển, riêng phần do nhóm ông biên soạn mới là lịch sử Việt Nam từ đời Lê Trang Tông năm 1533 đến hết đời Lê Thần Tông năm 1662 được đặt tên là Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên. Vậy mà bản Nguyễn Văn Huyên cũng mang tên là Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, đánh số quyển 20, 21 và có một tờ ở quyển số 22. Nội dung ghi chép lịch sử từ đời Lê Kính Tông năm 1600 đến Lê Thần Tông năm 1656 (căn cứ theo tờ 18 quyển 22)[26]. Đoạn trước 1600 và sau 1656 thì bị mất. Đoạn sau 1656 bị mất đó, ước chừng vừa một quyển số 23 nữa[26]. Có thể thấy tên sách, bố cục, nội dung của bản Nguyễn Văn Huyên phù hợp với những hiểu biết của chúng ta về Đại Việt sử ký toàn thư của nhóm Phạm Công Trứ.

Mặt khác, về hình thức, so sánh với bản Nguyễn Văn Huyên với Đại Việt sử ký toàn thư của nhóm Lê Hy, ta thấy hai bản có cách ghi năm can chi và niên hiệu giống nhau, cùng đề cao vua Lê chúa Trịnh, phê phán nhà Mạcchúa Nguyễn[26] ; đặc biệt cách viết đài của bản Nguyễn Văn Huyên khi để miếu hiệu các chúa Trịnh cao ngang với miếu hiệu các vua Lê ở ngay đầu quyển 20 và 21 chứng tỏ nó được khắc thời Lê trung hưng chứ không phải ở các triều đại sau đó[26]. Mà triều đình Lê Trịnh chỉ cho khắc in có hai bản sách Đại Việt sử ký toàn thư : một là bản Cảnh Trị của nhóm Phạm Công Trứ, được khắc in lần đầu tiên năm 1665 nhưng mới in được khoảng già nửa ; hai là bản Chính Hòa của nhóm Lê Hy được khắc in toàn bộ năm 1697 và là nguồn gốc của các bản sách Đại Việt sử ký toàn thư phổ biến hiện nay.

Tiếp tục so sánh nội dung bản Nguyễn Văn Huyên với sách Đại Việt sử ký toàn thư của nhóm Lê Hy, ta thấy có nhiều điều khác biệt[26]. Một số chi tiết về lịch pháp thiên văn, bản của nhóm Lê Hy đúng mà bản Nguyễn Văn Huyên sai, ví dụ bản Nguyễn Văn Huyên chép ngày rằm tháng năm năm Quý Sửu (1613) có nhật thực, thì bản Chính Hòa chép là nguyệt thực[26]. Điều này chứng tỏ rằng bản Chính Hòa đã được sửa lại và bản Nguyễn Văn Huyên chưa được sửa. Bản Nguyễn Văn Huyên dung lượng chữ và số sự kiện nhiều hơn bản Chính Hòa của nhóm Lê Hy, chứng tỏ nhóm Lê Hy đã cô gọn lời văn và cắt bỏ sự kiện. Nhóm Lê Hy đã khảo đính lại bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, mà sửa sai, cô gọn lời văn và lược bỏ sự kiện là thao tác thông thường của người chỉnh lý[26]. Như vậy, bản Nguyễn Văn Huyên phải xuất hiện trước bản Chính Hòa nên chỉ có thể là bản Cảnh Trị. Bản Nguyễn Văn Huyên là một phần của bản sách Đại Việt sử ký toàn thư cổ nhất đời Cảnh Trị còn được bảo lưu đến ngày nay[26].

[sửa] Giá trị

Tuy chỉ là một phần nhỏ, nhưng bản Nguyễn Văn Huyên đã ghi được nhiều sự kiện và chi tiết lịch sử có giá trị mà nhóm Lê Hy sau đó lược bỏ mất hoặc chép sơ lược hay sai khác hoàn toàn[26]. Đó là những trận đánh Trịnh - Nguyễn phân tranh các năm 1627, 1633, 1634, 1640, 1643 ; những trận đánh tàn dư nhà MạcCao Bằng các năm 1621, 1638, 1639, 1643 ; các mệnh lệnh bổ nhiệm, thăng thưởng ghi công quan chức ; sự qua đời của vua chúa và quan lại ; chế độ thuế khóa, hành chính, lễ nghi, ngoại giao của triều đình đương thời ; quan hệ phức tạp giữa các thế lực chính trị ở Việt Nam thời đó ; cung cấp nhiều chi tiết mới về một số sự kiện lịch sử như hai cuộc nổi loạn của Trịnh Xuân, con trai chúa Trịnh Tùng[26].

[sửa] Xuất bản

Năm 1993, trong lần xuất bản trọn bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản 4 tập (bao gồm việc tái bản tập 1 và tập 2, xuất bản tập 3 và tập 4), bản Nguyễn Văn Huyên đã được Ngô Thế Long dịch và in vào phần Phụ lục ở cuối tập 3. Sau đó, bản Nguyễn Văn Huyên còn nhiều lần được tái bản trong những lần tái bản trọn bộ bản Nội các quan bản vào các năm 2000, 2004, 2009, 2010.

[sửa] Nội các quan bản

Năm 1935, trong sách Thư mục Việt Nam (Bibliographie annamite) nổi tiếng xuất bản tại Hà Nội, nhà thư mục học Việt Nam người Pháp và thành viên Viện Viễn Đông Bác cổ, Emile Gaspardone cho biết có một ấn bản rất hiếm của Đại Việt sử ký toàn thư với ván khắc được lưu trữ tại Nội các Huế, nét chữ đẹp hơn bản trùng san của Quốc Tử Giám đời Nguyễn[28][29]. Nhà sử học Phan Huy Lê cho rằng bản in mà Gaspardone đã nói đến chính là Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản[17].

Khoảng năm 1979, nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp tìm thấy trong thư viện riêng của nhà Đông phương học và cũng là thầy giáo dạy chữ Hán của ông, Paul Demiéville, bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư bản Nội các quan bản[17]. Cùng dịp đó, nhà sử học Trần Kinh Hòa đến Paris, nói chuyện với Demiéville và được ông cho mượn bản Nội các quan bản ấy để sao chụp và khảo sát. Kết quả giám định của Trần Kinh Hòa cho thấy đây là bản in Đại Việt sử ký toàn thư năm Chính Hòa thứ 18 tức là năm 1697[17].

Sau khi Paul Demiéville qua đời vào ngày 23 tháng 3 năm 1979, thư viện riêng của ông bao gồm rất nhiều tư liệu quý trong đó có Nội các quan bản được chuyển giao cho thư viện Hội Á Châu (Société Asiatique) sở hữu, nhưng chưa được đưa ra phục vụ công chúng[30]. Năm 1981, nhà sử học Phan Huy Lê, nhân dịp đi công tác sang Pháp, đã đề xuất nguyện vọng nghiên cứu bản Nội các quan bản và được Hội Á Châu chấp thuận như một trường hợp đặc biệt[30]. Cùng xem và nghiên cứu với Phan Huy Lê lúc đó, như ông tự thuật, gồm có Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp và một số nhà sử học khác[30]. Khi trở về Việt Nam, Phan Huy Lê mang theo bản sao chụp (photocopy) đen trắng bản Nội các quan bản và báo cáo lên Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam rằng đã phát hiện đã bản in xưa nhất của bộ Đại Việt sử ký toàn thư in năm 1697, đề nghị cho tổ chức nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản. Một Hội đồng khoa học đã được Ủy ban cử ra, với Nguyễn Khánh Toàn làm Chủ tịch và hai ủy viên : Phan Huy LêPhạm Hựu, giám đốc nhà xuất bản Khoa học xã hội lúc đó (sau, Phạm Hựu nghỉ hưu, người thay thế ông ở cương vị này là tân Tổng biên tập nhà xuất bản Khoa học xã hội Nguyễn Đức Diệu)[31]. Hội đồng kết luận bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư bản in Nội các quan bản này chính là bản in lần đầu tiên của bộ quốc sử vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697).

[sửa] Đặc điểm văn bản

[sửa] Xác định niên đại văn bản

[sửa] Bố cục

  • Quyển thủ: gồm các Lời tựa của Lê Hy, Phạm Công Trứ, Ngô Sĩ Liên, Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên, Phạm lệ, Kỷ niên mục lục và bài Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Tung.
  • Bản kỷ: gồm 19 quyển, từ triều Đinh đến năm 1675.

[sửa] Giá trị

[sửa] Xuất bản

[sửa] Quốc Tử Giám tàng bản

[sửa] Đặc điểm hình thức và nội dung

Hình thức của Đại Việt sử ký toàn thư được mô phỏng theo Tư trị thông giám (資治通鑑) của Tư Mã Quang thời Tống, nghĩa là sự kiện lịch sử được sắp xếp theo trình tự thời gian gọi là thể biên niên. Ngô Sĩ Liên chia tác phẩm ra làm hai phần là Ngoại kỷBản kỷ dựa trên thời điểm chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938[67]. Thể biên niên khác với thể kỷ truyện truyền thống được các bộ chính sử của Trung Quốc sử dụng (phân chia theo tiểu sử của từng nhân vật lịch sử và được Tư Mã Thiên khởi xướng trong bộ Sử ký)[68]. Trong bản kỷ của mỗi vị vua, Ngô Sĩ Liên luôn bắt đầu bằng lời giới thiệu ngắn gọn cung cấp một cách nhìn tổng quan về vị vua đó trong thời gian trị vì. Khi liệt kê các sự kiện, nhà sử học đôi khi bổ sung thêm một số câu chuyện về các nhân vật lịch sử đã được đề cập đến trong sự kiện đó, có những câu chuyện rất phong phú và chi tiết như về Trần Quốc TuấnTrần Thủ Độ. Toàn văn một số văn bản chính trị quan trọng cũng được Ngô Sĩ Liên đưa vào như Hịch tướng sĩBình Ngô đại cáo[68].

Nội dung cuốn sách chép các sự kiện lớn trong lịch sử nước Việt Nam từ thời Kinh Dương Vương và các vua Hùng (kỷ họ Hồng Bàng) cho đến triều đại nhà Hậu Lê với những lời bình chú, nhận xét tương đối khách quan của Ngô Sĩ Liên cũng như của các bậc tiền nhân (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên). Có rất nhiều sự kiện được các ông đánh giá tương đối đúng bản chất mà sau này vì nhiều lý do (như ảnh hưởng tới những nhân vật lịch sử nổi tiếng hơn, ví dụ như nhận định về Nguyễn Bặc, Lê Hoàn (vua Lê Đại Hành), Dương Vân Nga trong thời kỳ triều đại của nhà Đinh) nhiều sử gia khác có ý định cắt bỏ. Tuy nhiên cũng có nhiều sự kiện vì lý do quan điểm tư tưởng phong kiến nên các ông đã có những nhận định không xác đáng (như trường hợp thái sư Lê Văn Thịnh thời nhà Lý). Cuốn sách lần đầu tiên được hoàn thành năm 1479 thời Lê Thánh Tông, sau đó được các sử gia khác chỉnh lý lại và bổ sung (từ các quyển 12 đến quyển 19).

[sửa] Quan điểm lịch sử

[sửa] So với Lê Văn Hưu

Trong khi Lê Văn Hưu thiết lập điểm khởi đầu cho lịch sử Việt Nam là sự thành lập Vương quốc Nam Việt[69], Ngô Sĩ Liên đi xa hơn nữa khi xác định các nhân vật Kinh Dương VươngLạc Long Quân trong truyền thuyết là tổ tiên của người Việt Nam[70]. Vì thiếu nguồn tư liệu lịch sử về Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, một số ý kiến cho rằng lời giải thích về nguồn gốc của người Việt Nam của Ngô Sĩ Liên chỉ là một cách để mở rộng niên đại của nền văn minh Việt Nam hơn là việc xác lập điểm khởi đầu của lịch sử Việt Nam[71][72]. Khi bắt đầu biên soạn tác phẩm của mình, Ngô Sĩ Liên đã có quan điểm khác với các học giả thời Trần về họ Hồng Bàng, đó là trong khi các học giả thời Trần chỉ đề cập đến họ Hồng Bàng như một sự tượng trưng trong lịch sử Việt Nam, Ngô Sĩ Liên xác định họ Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của Việt Nam và trị vì đất nước từ năm 2879 TCN đến năm 258 TCN, nghĩa là có trước nhà Hạ là triều đại đầu tiên của Trung Quốc hơn 600 năm[71]. Tuy nhiên, tư liệu của Ngô Sĩ Liên về khoảng thời gian dài này là quá ít ỏi[73] nên các nhà sử học hiện đại đặt nghi vấn về tính xác thực về niên đại của các vua Hùng do Ngô Sĩ Liên đặt ra và suy đoán rằng Ngô Sĩ Liên xác định niên đại này chủ yếu để phục vụ cho mục tiêu chính trị của nhà Lê nhằm để nâng cao Đại Việt ngang hàng với Trung Hoa.[74].

Cũng như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên coi Vương quốc Nam Việt là một phần của Việt Nam, quan điểm này bị Ngô Thì Sĩ[75], một nhà sử học Việt Nam vào thế kỷ 18, cùng các nhà sử học hiện đại phê phán vì các vua Nam Việt đều là người Hán[76][77][78].

Trong bình luận về sự thất bại của Lý Nam Đế dưới tay Trần Bá Tiên dẫn đến thời kỳ Bắc thuộc lần 3, Lê Văn Hưu phê phán Lý Nam Đế là kém tài năng trong khi Ngô Sĩ Liên cho rằng ý trời chưa muốn cho Việt Nam độc lập[79].

[sửa] Khác

Trong khi Lê Văn Hưu dành mối quan tâm hàng đầu là nền tự chủ của đất nước trước Trung Quốc[80] thì Ngô Sĩ Liên, theo ý kiến của nhà sử học O.W. Wolters, đã xem lịch sử Trung Quốc là tiêu chuẩn đánh giá các sự kiện lịch sử trong lịch sử Việt Nam[81]. Khi bình luận về một sự kiện, nhà sử học thường trích dẫn một đoạn từ các tác phẩm kinh điển của Nho giáo hoặc các tác phẩm khác của Trung Quốc như Tống thư để làm hoa mỹ thêm lời bình luận của mình[82].

Xuất phát từ quan điểm Nho giáo, Ngô Sĩ Liên thường đưa ra các nhận xét tiêu cực về các nhân vật lịch sử có hành vi trái ngược với quan điểm Nho giáo. Ví dụ, mặc dù là một ông vua trị vì thành công nhưng Lê Đại Hành vẫn bị chỉ trích nặng nề trong Đại Việt sử ký toàn thư do việc ông kết hôn với Dương Vân Nga là thái hậu của tiền triều. Một nhà nghiên cứu suy đoán rằng do có thành kiến với vua Lê Đại Hành nên Ngô Sĩ Liên quyết định đem bài thơ nổi tiếng Nam quốc sơn hà sang thời Lý Thường Kiệt thay vì đặt ở thời Lê Đại Hành, trong khi một số nguồn cho rằng Lê Đại Hành mới là tác giả của Nam quốc sơn hà[83][84]. Các việc làm của các vị vua mà không theo các quan điểm về đạo đức và chính trị của Nho giáo cũng bị Ngô Sĩ Liên chỉ trích như việc Đinh Tiên Hoàng lập 6 Hoàng hậu, Lê Long Đĩnh lập 4 Hoàng hậu hay Lý Thái Tổ thiếu quan tâm đến việc học tập Tứ thư Ngũ kinh[85]. Đặc biệt trong trường hợp nhà Trần, Ngô Sĩ Liên luôn luôn có những nhận xét phê phán về việc kết hôn giữa các thành viên gần huyết thống trong gia tộc nhà Trần (hôn nhân nội tộc). Khoảng thời gian ngắn duy nhất trong thời Trần mà Ngô Sĩ Liên ca ngợi là từ khi Trần Thái Tông mất năm 1277 đến khi Trần Anh Tông mất năm 1320, trong khi đó ông vẫn lên án hành động của các vua Trần, chẳng hạn như cuộc thanh trừng tàn nhẫn của Trần Thủ Độ đối với họ Lý hay cuộc hôn nhân gây tranh cãi giữa Trần Thái TôngCông chúa Thuận Thiên[86].

Bên cạnh giá trị lịch sử, Đại Việt sử ký toàn thư cũng được coi là một tác phẩm quan trọng của văn học Việt Nam bởi vì Ngô Sĩ Liên thường cung cấp thêm thông tin về nhân vật lịch sử được đề cập bằng những câu chuyện bổ sung được viết giống như một tác phẩm văn học[68]. Từ các lời bình luận của Ngô Sĩ Liên, có vẻ như nhà sử học cũng đã cố gắng xác lập và giảng dạy các nguyên tắc đạo đức dựa trên các khái niệm của Nho giáo[87]. Ví dụ, Ngô Sĩ Liên đã nhiều lần đề cập khái niệm người quân tử, theo đó quân tử phải có cả phẩm chất tốt và cách cư xử công bằng, Ngô Sĩ Liên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của người quân tử bằng cách chỉ ra sự khác biệt giữa một người quân tử và một kẻ tiểu nhân hay xác định kết quả đạt được đối với một người quân tử[87].

[sửa] Ảnh hưởng và nhận định

[sửa] Ảnh hưởng

Có thể nói bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một cống hiến to lớn của Ngô Sĩ Liên vào kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam. Cuốn sử này góp phần vào việc tăng sự hiểu biết lịch sử đất nước Việt Nam qua các thời kỳ đồng thời cũng là một tư liệu quý giá giúp cho công tác bảo tồn, bảo tàng và khảo cổ học.

[sửa] Nhận định

[sửa] Vấn đề niên đại bản Nội các quan bản

[sửa] Chú thích và tham khảo

[sửa] Chú thích

  1. ^ Thời gian trong bài, nếu theo lịch Gregory đón trước và lịch Gregory thì viết bằng số (ví dụ ngày 1 tháng 11), nếu theo âm lịch thì viết bằng chữ (ngày mùng một tháng một)
  2. ^ a b c d Viện Sử học 1965, tr. 5
  3. ^ Nguyễn Khánh Toàn 1993
  4. ^ Lĩnh Nam chích quái. 2010. ISBN 16000đ. - 1000b. http://dotchuoinon.com/category/linh-nam-chich-quai/. 
  5. ^ Việt điện u linh tập. ISBN 15000đ. - 1000b. http://www.lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&view=category&id=39:viet-dien-u-linh&Itemid=22&layout=default. 
  6. ^ Lê Tắc 2009, tr. 256
  7. ^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 39
  8. ^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 163
  9. ^ a b c Ngô Sĩ Liên 1967, tr. 17-20
  10. ^ Phan Đại Doãn 1998, tr. 122-139
  11. ^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 264
  12. ^ Ngô Sĩ Liên 1967, tr. 21-25
  13. ^ Taylor 1991, tr. 353–355
  14. ^ Taylor 1991, tr. 358
  15. ^ Phan Đại Doãn 1998, tr. 58-59
  16. ^ a b Lê Quý Đôn 2007, tr. 23
  17. ^ a b c d e f Phan Huy Lê 1998
  18. ^ a b vào tháng tư năm Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3, tức là năm 1511Quốc sử quán triều Hậu Lê 1968, tr. 64
  19. ^ a b c Go Zhen Feng 1989, tr. 59-61
  20. ^ a b c d e f g h Ngô Sĩ Liên 1967, tr. 13-16
  21. ^ Vì tự dạng chữ hợi 亥 gần giống chữ thỉ 豕, tự dạng chữ ngư 魚 gần giống chữ lỗ 魯 nên hay viết nhầm
  22. ^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 127-128
  23. ^ Nguyễn Cảnh thị 2011, tr. 164
  24. ^ Trần Nghĩa 1988
  25. ^ a b c d e f g h Ngô Sĩ Liên 1967, tr. 9-12
  26. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t Ngô Thế Long. “Về bản "Đại Việt sử ký toàn thư" in ván gỗ của Phạm Công Trứ, mới tìm thấy”. Truy cập 23 tháng 1 năm 2012.
  27. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. 2010. tr. 739. http://www.sugia.vn/upload/fckeditor/kdvstgcm.pdf. 
  28. ^ Võ Long Tê 1974, nguyên văn :"Phần giới thiệu Giám bản đời Lê, ấn bản nầy rất hiếm, ván khắc được lưu trữ tại Nội Các (Huế); nét chữ đẹp hơn bản trùng san của Quốc tử giám đời Nguyễn".
  29. ^ Phan Huy Lê 1998 cũng có đề cập đến tài liệu này, nguyên văn :"Còn có một bản in cổ, rất hiếm, bằng ván in của Nội các (Nội các quan bản) do thợ Liễu Chàng khắc (tử nhân Hồng Lục, Liễu Chàng đẳng xã nhân phụng san). Nó được phân biệt với những bản khắc bởi chữ đẹp và không kiêng húy tên vua triều Nguyễn hay các triều khác. Như vậy là lúc đó tác giả đã phát hiện được bản in 'Nội các quan bản' và nêu lên tiêu chuẩn để phân biệt giữa bản in cổ và các bản in sau là bản cổ chữ đẹp và không kiêng húy. Nhưng đáng tiếc là tác giả không cho biết xuất xứ và cũng không mô tả bản in cổ đó, đồng thời cũng không xác minh đó có phải là bản Chính Hòa không"
  30. ^ a b c Phan Huy Lê 1988, tr. 18-28
  31. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 2
  32. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 3–6
  33. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 6–9
  34. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 10–19
  35. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 20
  36. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 21
  37. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 21–24
  38. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 25–27
  39. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 28–36
  40. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 36–38
  41. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 38–39
  42. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 39–41
  43. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 42–51
  44. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 51–53
  45. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 53–57
  46. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 58–65
  47. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 65–79
  48. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 80–104
  49. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 105–134
  50. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 135–158
  51. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 159–204
  52. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 205–239
  53. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 240–271
  54. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 272–308
  55. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 309–322
  56. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 322–324
  57. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 325–372
  58. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 373–428
  59. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 428–477
  60. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 478–522
  61. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 523–552
  62. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 553–596
  63. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 597–618
  64. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 619–655
  65. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 656–687
  66. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 688–738
  67. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Taylor358
  68. ^ a b c Hoàng Văn Lâu (2003). “Lối viết "truyện" trong bộ sử biên niên Đại Việt sử ký toàn thư” (bằng Vietnamese). Hán Nôm Magazine (Hanoi: Institute of Hán Nôm) (99). http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/9903_a.htm. 
  69. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên dvsk
  70. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 3–4
  71. ^ a b Pelley 2002, tr. 151
  72. ^ Pelley 2002, tr. 65
  73. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 4–6
  74. ^ Pelley 2002, tr. 151–152
  75. ^ Ngô Thì Sĩ (1991) (Vietnamese). Việt sử tiêu án. History & Literature Publishing House. 8. 
  76. ^ “Nam Việt” (bằng Vietnamese). Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Truy cập 18 tháng 12 năm 2009.
  77. ^ “Triệu Đà” (bằng Vietnamese). Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Truy cập 18 tháng 12 năm 2009.
  78. ^ Phan Huy Lê, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thoa (2001). “Vài nét về bộ sử của Vương triều Tây Sơn” (bằng Vietnamese). Hán Nôm Magazine (Hanoi: Institute of Hán Nôm) (85). http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/8501v.htm. 
  79. ^ Taylor 1991, tr. 144
  80. ^ Womack, Brantly (2006). China and Vietnam: the politics of asymmetry. Cambridge University Press. 119. ISBN 0-521-61834-7. 
  81. ^ Anthony Reid, Kristine Alilunas-Rodgers 2001, tr. 94
  82. ^ Anthony Reid, Kristine Alilunas-Rodgers 2001, tr. 95
  83. ^ Bùi Duy Tân (2005). “Nam quốc sơn hà và Quốc tộ - Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều đại Lê Hoàn” (bằng Vietnamese). Hán Nôm Magazine (Hanoi: Institute of Hán Nôm) (05). http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0505_a.htm. 
  84. ^ Nguyễn Thị Oanh (2001). “Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà” (bằng Vietnamese). Hán Nôm Magazine (Hanoi: Institute of Hán Nôm) (02). http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0201_a.htm. 
  85. ^ Phạm Văn Khoái, Tạ Doãn Quyết (2001). “Hán văn Lý-Trần và Hán văn thời Nguyễn trong cái nhìn vận động của cấu trúc văn hóa Việt Nam thời trung đại” (bằng Vietnamese). Hán Nôm Magazine (Hanoi: Institute of Hán Nôm) (03). http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0301_a.htm. 
  86. ^ Anthony Reid, Kristine Alilunas-Rodgers 2001, tr. 94–98
  87. ^ a b Anthony Reid, Kristine Alilunas-Rodgers 2001, tr. 99–100

[sửa] Tham khảo

[sửa] Xem thêm

[sửa] Liên kết ngoài


Quốc sử Việt Nam
Đại Việt sử ký - Đại Việt sử ký toàn thư - Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Đại Nam thực lục
Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác