Thư viện Quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thư viện Quốc gia Việt Nam
LogoTVQGVN.jpg
National Library of Vietnam.JPG
Cổng chính Thư viện Quốc gia Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Loại hình Thư viện công cộng
Lĩnh vực Tổng hợp
Thành lập 29 tháng 11 năm 1917
Địa điểm 31 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Tọa độ 21°01′33″B 105°50′58″Đ / 21,025867°B 105,849581°Đ / 21.025867; 105.849581
Lưu trữ
Trữ lượng 800.752 đầu sách với 1.300.968 bản
8.677 tên báo, tạp chí
3.154 hộp phim dương bản, 1.612 phim âm bản [1]
Hành chính
Giám đốc Phan Thị Kim Dung
Nhân viên 173[2]
Web

Thư viện Quốc gia Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: National Library of Vietnam - NLV) là thư viện cấp quốc gia của Việt Nam, đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam.

Thư viện tọa lạc tại phố Tràng Thi và có một cổng lớn mở ra hướng đường Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương, chấp nhận kế hoạch của P. Boudet, đã ban hành nghị định ngày 29 tháng 11 năm 1917 thành lập Thư viện Trung ương cho Liên bang Đông Dương. Kế hoạch này được chấp nhận với mục đích củng cố sự thống trị, truyền bá văn hoá Pháp và văn hóa phương Tây, cũng như đưa công tác phát triển văn thư lưu trữ, thư viện của Pháp vào nề nếp ở Đông Dương. Đây chính là văn bản hành chính đầu tiên khi đó và là dấu mốc cho sự ra đời của Thư viện Quốc gia Việt Nam hôm nay. Sau hai năm xây dựng, ngày 1 tháng 9 năm 1919 thư viện đã chính thức mở cửa.

Những ngày đầu tiên, Thư viện có tên gọi là Thư viện Trung ương Đông Dương hay còn gọi là Thư viện Trung ương trực thuộc Nha Lưu trữ hay Thư viện Đông Dương.

Đến năm 1935, theo nghị định ngày 28 tháng 2 năm 1935 Thư viện được đổi tên thành Thư viện Pierre Pasquier (một người Pháp có nhiều đóng góp cho Thư viện)[3].

Sau Cách mạng tháng Tám, theo nghị định ngày 20 tháng 10 năm 1945 Thư viện được đổi tên thành Quốc gia Thư viện (Thư viện toàn quốc)[3]. Sau đó Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc được sát nhập vào Nha Giám đốc Đại học vụ và được đổi tên thành Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc.

Năm 1947, Pháp chiếm lại Hà Nội, theo nghị định ngày 25 tháng 7 năm 1947 Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương tái thành lập, thư viện mang tên là Thư viện Trung ương ở Hà Nội.

Năm 1953, theo hiệp nghị Việt Pháp ngày 9 năm 7 tháng 1953, Thư viện Trung ương Hà Nội được sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội và đổi tên là Tổng Thư viện Hà Nội.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp quản Hà Nội, đồng thời tiếp quản Tổng Thư viện. Trên văn bản thư viện mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội.

Ngày 21 tháng 11 năm 1958, Thư viện được chính thức mang tên Thư viện Quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Quang cảnh phòng đọc báo chí tự chọn, Thư viện Quốc gia Việt Nam

Cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện bao gồm giám đốc, các phó giám đốc và 13 phòng ban chức năng[4]:

  1. Phòng Tin học
  2. Phòng Phân loại – Biên mục
  3. Phòng Hành chính-Tổ chức
  4. Phòng Nghiên cứu và Hướng dẫn nghiệp vụ
  5. Phòng Bảo quản tài liệu
  6. Phòng Bổ sung – Trao đổi quốc tế
  7. Phòng Đọc Báo – Tạp chí
  8. Phòng Đọc sách
  9. Phòng Quan hệ Quốc tế
  10. Phòng Thông tin Tư liệu
  11. Phòng Lưu chiểu
  12. Phòng Tạp chí Thư viện Việt Nam
  13. Phòng Bảo vệ

Giám đốc thư viện qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Paul Boudet (1888 - 1948), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương Đông Dương từ 1917 đến 3/1945 và từ 1947 đến 1948.[3]
  2. S. Kudo (?) (Người Nhật), Giám đốc Thư viện Trung ương Đông Dương từ 4/1945 đến 8/1945.
  3. Ngô Đình Nhu (1912 - 1963), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương ở Hà Nội từ 1945 đến 11/1946.[5]
  4. Trần Văn Kha (?), Q. Giám đốc Quốc gia Thư viện.[cần dẫn nguồn]
  5. Ferréol de Ferry (?), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Thư viện Trung ương ở Hà Nội từ 1948 đến 1953.
  6. Simon de Sant-Exupéry (1898 - 1978), tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes, Giám đốc Tổng Thư viện Hà Nội từ 1953 đến 1954.
  7. Từ Lâm (?), Giám đốc Thư viện Trung ương thuộc Vụ Văn hoá đại chúng từ 1954 đến 1958.
  8. Nguyễn Văn Xước (1907 - 1989), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1958 đến 1974.
  9. Đỗ Trọng Thi (1917 - 1995), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1974 đến 1979.
  10. Trịnh Giễm (1922), Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1979 đến 1983.
  11. Nguyễn Thế Đức (1936-), Tiến sĩ Thư viện học, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1983 đến 1998.
  12. Trần Anh Dũng (1949-), Tốt nghiệp trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Quyền Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 1999 đến 6/2000.
  13. Phạm Thế Khang (1949-), Tốt nghiệp trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ 6/2000 đến 10/2009.[3]
  14. Phan Thị Kim Dung (1960-), Thạc sỹ Thư viện học, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam từ tháng 11/2009.

Liên hệ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Địa chỉ: Số 31, phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Điện thoại: 04-38255397
  • Fax: 04-38253357
  • Email: info@nlv.gov.vn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]