Chùa Hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chùa Hương
Chùa Hương.jpg
Tháp chuông chùa Hương
Vị trí
Quốc gia Việt Nam Việt Nam
Địa chỉ Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Thông tin
Khởi lập cuối thế kỷ 17
Trang web chuahuong.info.vn
Dharma Wheel.svg Chủ đề:Phật giáo
Đụn Gạo trong chùa Hương

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17, sau đó bị huỷ hoại trong kháng chiến chống pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng Toạ Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hoà thượng Thích thanh Chân.

Các đời trụ trì[sửa | sửa mã nguồn]

[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù (tọa độ: 20°37′5″B 105°44′49″Đ / 20,61806°B 105,74694°Đ / 20.61806; 105.74694). Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.[1]

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên (tọa độ: 20°36′47″B 105°44′4″Đ / 20,61306°B 105,73444°Đ / 20.61306; 105.73444). Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Chùa Hương và văn học[sửa | sửa mã nguồn]

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VIỆT NAM

    8 Di sản thế giới tại Việt Nam: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Quần thể danh thắng Tràng An

    46 Khu du lịch quốc gia: Cao nguyên đá Đồng Vănthác Bản GiốcMẫu SơnBa BểTân TràoNúi CốcSa PaThác BàĐền HùngMộc ChâuĐiện Biên Phủhồ Hòa BìnhHạ Long-Cát BàVân ĐồnTrà CổCôn Sơn-Kiếp BạcBa Vì-Suối Hai • Làng VH-DL các dân tộc VN • Tam ĐảoTràng AnTam ChúcKim LiênThiên CầmPhong Nha-Kẻ Bàng • Lăng Cô-Cảnh DươngBà NàCù Lao ChàmMỹ KhêPhương MaiVịnh Xuân Đài • Bắc Cam RanhNinh ChữMũi NéMăng ĐenTuyền LâmĐan Kia-Suối VàngYokđônnúi Bà ĐenCần GiờLong Hải-Phước HảiCôn ĐảoThới SơnPhú QuốcNăm CănXứ sở hạnh phúc.

    40 điểm du lịch quốc gia: Tp Lào CaiPắc BóTp Lạng SơnMai ChâuHoàng thành Thăng LongYên TửTp Bắc NinhChùa HươngCúc PhươngVân LongPhố HiếnĐền Trần-Phủ GiầyThành nhà Hồ • KDT Nguyễn Du • Ngã ba Đồng LộcTp Đồng Hớithành cổ Quảng TrịBạch MãNgũ Hành SơnMỹ SơnLý SơnTrường LũyTrường SaPhú QuýNgã ba Đông DươngHồ Ya LyHồ LắkTx Gia NghĩaTà ThiếtTW Cục miền NamCát TiênHồ Trị AnCủ ChiLáng SenTràm ChimNúi SamCù lao Ông HổTp Cần ThơTx Hà Tiên • KDT Cao Văn Lầu.

    24 trung tâm du lịch: Sơn La - Điện Biên • Lào CaiPhú Thọ • Thái Nguyên - Lạng Sơn • Hà GiangHà NộiNinh Bình • Quảng Ninh - Hải Phòng • Thanh Hóa • Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh • Quảng Bình - Quảng Trị • Đà Nẵng - Quảng Nam • Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa • Bình ThuậnĐà LạtĐắk Lắk • Gia Lai - Kon Tum • Thành phố Hồ Chí MinhTây NinhVũng Tàu • Tiền Giang - Bến Tre • Cần Thơ - Kiên Giang • Đồng Tháp - An Giang • Cà Mau.

    12 đô thị du lịch: Sa Pa, Đồ Sơn, Hạ Long, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Đà lạt, Vũng Tàu
    7 Vùng du lịch: Trung du và miền núi phía BắcĐồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông BắcBắc Trung BộDuyên hải Nam Trung BộTây NguyênĐông Nam BộTây Nam Bộ.

Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợi:

Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
...
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...

và bài "Chùa hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung Đức:

Hôm qua đi chùa hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
...

Trong bài này ngoài những câu thơ nhí nhảnh như trên, còn có nhiều câu tả cảnh Hương sơn rất sinh động: Réo rắt suối đưa quanh/Ven bờ ngọn núi xanh/Nhịp cầu xa nho nhỏ/Cảnh đẹp gần như tranh/Sau núi oản -gà-xôi/Bao nhiêu là khỉ ngồi/Đến núi con voi phục/Thấy đủ cả đầu đuôi/Chùa lấp sau rừng cây/(Thuyền ta đi một ngày)/Lên cửa chùa em thấy/Hơn một trăm ăn mày...

Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đây:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy Thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò.
Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho.

Ông còn có 1 bài thơ nổi tiếng về món đặc sản ở chùa Hương:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.

Về văn xuôi, có bút ký Trẩy hội Chùa Hương của Phạm Quỳnh...

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là tác giả bài thơ vịnh động Hương Tích như sau[2]:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật quen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo Trời già đến dở dom.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông"
  2. ^ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền. Nữ sĩ Việt Nam. TP HCM:NXB Văn Nghệ, 2000. Trang 279.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]