Trịnh Sâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Sâm
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Tĩnh Đô Vương
Trị vì 17671782
Tiền nhiệm Trịnh Doanh
Thời vua Lê Hiển Tông
Kế nhiệm Trịnh Cán
Thông tin chung
Thê thiếp Dương Thị Ngọc Hoan
Đặng Thị Huệ
Hậu duệ
Tên thật Trịnh Sâm
Tước hiệu Tĩnh Đô Vương (靖都王)
Thụy hiệu Thịnh Vương (盛王)
Miếu hiệu Thánh Tổ (聖祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Doanh
Thân mẫu Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Sinh 1739
Mất 1782
Việt Nam

Tĩnh Đô Vương (靖都王) Trịnh Sâm (鄭森)[1], (1739 – 1782) là vị chúa Trịnh thứ 9 thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam, cai trị từ năm 1767 đến 1782. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trưởng của Minh Đô Vương Trịnh Doanh, mẹ là bà Chính phi Nguyễn Thị Ngọc Diễm. Năm Ất Sửu (1745), ông được lập làm Thế tử. Trịnh Doanh tỏ ra cẩn trọng việc nuôi dạy con, bổ dụng 2 tiến sĩ là Dương Công ChúNguyễn Hoàn làm tư giảng cho Trịnh Sâm. Tháng 10 năm Mậu Dần (1758), Trịnh Doanh phong cho ông làm Tiết chế thuỷ bộ chủ quân, Thái uý Tĩnh Quốc Công mở phủ Lượng Quốc và hết thảy công việc triều chính được giao cho Trịnh Sâm làm.

Tĩnh Đô vương[sửa | sửa mã nguồn]

Văn võ kiêm toàn, hay đố kỵ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi, tiến phong là Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Tĩnh Đô Vương.

Trịnh Sâm là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán. Từ nhỏ, ông đã học được đến nơi đến chốn: có đủ tài văn võ, đã xem khắp kinh sử và biết làm thơ. Lên ngôi chúa, từ kỷ cương triều nội đến chính sự cả nước, Trịnh Sâm cho sửa đổi lại vì cho rằng phép tắc triều trước là nhỏ hẹp, nay Trịnh Sâm muốn làm to rộng hơn, nên nhiều phần tự quyết đoán, không theo lệ cũ.

Tại triều, ngay năm đầu lên ngôi, em ông là Trịnh Lệ mưu giết ông để thoán đoạt. Trịnh Lệ cũng là người sáng suốt có cơ mưu và trí dũng. Gặp lúc cha chết, Trịnh Lệ mật hẹn với Dương Trọng KhiêmNguyễn Huy Bá làm gia khách định ngày giết Trịnh Sâm. Việc bị lộ, Phạm Huy Cơ và đồng đảng bị giết, Trịnh Lệ bị tống giam.

Ngay sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Sâm đã tìm cớ sát hại thái tử Lê Duy Vĩ - con vua Lê Hiển Tông - là người có ý khôi phục quyền bính cho họ Lê. Năm Kỷ Sửu (1769), vì ghen ghét tài năng đức độ của Duy Vĩ, Trịnh Sâm đã vu tội cho thái tử, sai người bắt giữ, truất ngôi và tống giam. Lê Duy Vĩ chết trong ngục.

Năm 1769, ông sai Đoàn Nguyễn Phục đánh bại quân khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài của con Hoàng Công Chất (vừa qua đời) là Hoàng Công Toản tại vùng núi phía Tây Bắc. Năm sau, (1770), ông lại dẹp được cánh quân khởi nghĩa cát cứ vùng Trấn Ninh suốt 30 năm của hoàng thân Lê Duy Mật, buộc Lê Duy Mật tự tử. Từ đó Trịnh Sâm kiêu mãn, cho mình có công lớn, bốn cõi yên ổn hơn mọi đời chúa trước, nên tự tiên phong là Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính, Thượng Sư Thượng Phụ, Duệ Đoán Văn Công Võ Đức Tĩnh Vương.

Năm Giáp Ngọ (1774), nhân Đàng Trong có biến do Tây Sơn nổi dậy, ông sai Hoàng Ngũ Phúc làm thống tướng đem quân vào Nam đánh chúa Nguyễn. Để tăng thêm thanh thế cho binh sĩ Nam chinh, tháng 10 năm đó, ông đích thân cầm quân kéo Nghệ An. Quân Trịnh chiếm được Thuận Hoá và đặt quan cai trị đất Thuận Quảng. Trong số những người tham gia trấn trị có Lê Quý Đôn, tác giả sách Phủ biên tạp lụcĐại Việt thông sử'

Kiêu căng, tự phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiếm được Thuận Hoá, Trịnh Sâm có phần thỏa mãn với công trạng đạt được. Việc bố phòng ở phương nam không được chú trọng. Trong cung, ông sủng ái Tuyên phi Đặng Thị Huệ, yêu con thứ của Tuyên phi là Trịnh Cán. Nhân vụ án năm Canh Tý (1780) - con trưởng là Trịnh Tông định chiêu binh làm loạn, ông truất ngôi thế tử của Trịnh Tông và lập Trịnh Cán lúc đó mới 3 tuổi làm thế tử.

Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm qua đời, ủy quyền cho Huy quận công Hoàng Đình Bảo giúp Trịnh Cán lên ngôi. Trịnh Sâm ở ngôi chúa 16 năm, hưởng dương 44 tuổi, được tôn là Tĩnh Đô Vương.

Trịnh Cán lên ngôi, tức là Điện Đô Vương. Không lâu sau, phe cánh Trịnh Tông nổi dậy giết quận Huy và truất Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi, tức là Đoan Nam Vương.

Vợ con[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dương Thị Ngọc Hoan
  • Đặng Thị Huệ, Tuyên phi
  • Hoàng Thị Khoan, Hương phi

Con[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Biểu nhất lãm áp dụng cho lịch sử Việt Nam, trang 2413, Từ điển Hán Việt - Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Trần Văn Chánh biên soạn, 2005