Càn Long
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Càn Long 乾隆 hay Thanh Cao Tông (清高宗) (25 tháng 9, 1711 tức năm Khang Hi thứ 50—7 tháng 2, 1799 tức năm Gia Khánh thứ 4), họ Ái Tân Giác La, húy Hoằng Lịch, là người con trai thứ tư của Hoàng đế Ung Chính và là Hoàng đế thứ sáu của nhà Thanh, đồng thời ông là hoàng đế có tuổi thọ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời kỳ trị vì của ông kéo dài 60 năm từ 11 tháng 10, 1736 đến 1 tháng 9, 1795, và là thời cực thịnh về kinh tế và quân sự của nhà Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nhà Thanh kéo dài đến Châu thổ sông Ili và Tân Cương, lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 11.000.000 km², so với 9.000.000 km² hiện tại. Ông bắt chước cách thức cai trị của ông nội mình là Khang Hy, người mà ông rất ngưỡng mộ.
Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hy ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ là xứng đáng trở thành Hoàng đế kế vị nhà Thanh sau Ung Chính.
Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh và đã thất bại, ông cũng thu nạp nhiều phi tần, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham ô là Hòa Thân...
Năm 1796, ông nhường ngôi cho con là Vĩnh Diễm, lên làm Thái thượng hoàng, giữ vững quyền chính. Năm 1799 ông mất, hưởng thọ 89tuổi. Thụy hiệu đầy đủ của ông là Pháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần hoàng đế (法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝.
Mục lục |
Truyền thuyết [sửa]
Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang. Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hy thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Ung Chính có thêm một đứa con. Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là Trần Các Lão, một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với hoàng tử thứ 4, Ung thân vương Ung Chính.
Lúc bấy giờ, Vương phi của hoàng tử Ung Chính và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một công chúa còn vợ của Trần thì sinh ra một đứa con trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với công chúa của mình mới lệnh cho Trần mang con con vào vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào vương phủ. Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.
Câu chuyện này đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.
Lăng mộ [sửa]
Năm 1928, quân phiệt Tôn Điền Dương đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà Thanh ở Sơn Đông, quật mộ của Càn Long và Từ Hi Thái Hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi bẩy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.
Bên trong mộ của các vua chúa này được xây cất như sau:
- Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.
Tin các lăng tẩm của Càn Long và Từ Hi bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần nhà Thanh.
Gia đình [sửa]
- Thân phụ: Hoàng đế Ung Chính (là con thứ 4)
- Thân mẫu: Hiếu Thánh Hiến Hoàng Hậu (1692–1777) thuộc tộc Nữu Hỗ Lộc (Chinese: 孝聖憲皇后; Manchu: Hiyoošungga Enduringge Temgetulehe Hūwanghu)
Phi tần[1] [sửa]
Hoàng hậu [sửa]
- Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu Phú Sát thị
- Kế Hoàng Hậu Ô Lạt Nạp Lạt thị
- Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Nguỵ Giai thị
Hoàng quý phi [sửa]
- Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao Giai thị
- Thuần Huệ Hoàng Quý phi Tô thị
- Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị (?-1755) người gốc Triều Tiên. Bà đã sinh cho Càn Long 4 Hoàng nam.
- Khánh Cung Hoàng Quý phi Lục thị
- Triết Mẫn Hoàng Quý phi Phú Sát thị (?-20 tháng 5, 1735), thuộc tộc Phú Sát của Mãn Châu, qua đời ngay trước khi Càn Long lên ngôi nên chưa bao giờ được làm quý phi khi còn sống.
Quý phi [sửa]
- Uyển Quý phi Trần thị
- Dĩnh Quý phi Ba Lâm thị
- Hãn Quý phi Đái Giai thị
- Tuần Quý phi Y Nhĩ Căn Giác La thị
- Du Quý phi Kha Lí Diệp Đặc thị (1714–1792) thuộc tộc Kha Lí Diệp Đặc (Keliyete) của Mãn Châu.
Phi [sửa]
- Tấn phi Phú Sát thị (?-1822) thuộc tộc Phú Sát của Mãn Châu. Bà được cháu của Càn Long là Hoàng đế Đạo Quang phong làm phi năm 1820 do là phi tử cuối cùng của Càn Long còn sống.
- Thư phi Diệp Hách Na Lạp thị
- Hương Phi Hoà Trác thị (?) có lẽ chỉ là sản phẩm của sự pha trộn giữa truyền thuyết và sự thật.
- Đôn phi Uông thị
Tần [sửa]
- Nghi tần Hoàng thị
- Tuân tần Hoắc Thạc Đặc thị
- Cung tần Lâm thị
- Di tần Bách thị
- Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị
- Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị
Quý nhân [sửa]
- Thuận Quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị
- Quý nhân Tây Lâm Giác thị
- Quý nhân Bách thị
- Thuỵ Quý nhân Tác Xước Lạc thị
- Đa Quý nhân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị
- Võ Quý nhân
- Kim Quý nhân
- Tân Quý nhân
- Phúc Quý nhân
Thường tại [sửa]
- Bạch Thường tại
- Quỹ Thường tại
- Kim Thường tại
- Phúc Thường tại
- Ninh Thường tại
- Bình Thường tại
- Na Thường tại
Hoàng tử [sửa]
- Định An thân vương Vĩnh Hoàng [永璜] (5 tháng 7, 1728 – 21 tháng 4, 1750), con trai của Triết Mẫn Hoàng Quý phi
- Đoan Tuệ thái tử Vĩnh Liễn [永璉] (9 tháng 8, 1730 – 23 tháng 11, 1738), Thái tử thứ nhất, con trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
- Tuần quận vương Vĩnh Chương [永璋] (15 tháng 7, 1735 – 26 tháng 8, 1760), con trai của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
- Lí Đoan Thân vương Vĩnh Thành [永珹] (21 tháng 2, 1739 – 5 tháng 4, 1777), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
- Vinh Thuần thân vương Vĩnh Kì [永琪] (23 tháng 3, 1741 – 16 tháng 4, 1766), con trai của Du Quý phi
- Chất Trang thân vương Vĩnh Dung [永瑢] (28 tháng 1, 1744 – 13 tháng 6, 1790), con trai của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
- Triết thân vương Vĩnh Tông [永琮] (27 tháng 5, 1746 – 29 tháng 1, 1748), Thái tử thứ hai, con trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
- Nghi Thận Thân vương Vĩnh Tuyền [永璇] (31 tháng 8, 1746 – 1 tháng 9, 1832), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
- Hoàng cửu tử (2 tháng 8, 1748 – 11 tháng 6, 1749), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
- Hoàng thập tử (12 tháng 6, 1751 – 7 tháng 7, 1753), con trai của Thư phi
- Thành Triết thân vương Vĩnh Tinh [永瑆] (22 tháng 3, 1752 – 10 tháng 5, 1823), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
- Bối lặc Vĩnh Cơ [永璂] (7 tháng 6, 1752 – 17 tháng 3, 1776), con trai của Kế Hoàng hậu
- Vĩnh Cảnh [永璟] (2 tháng 1, 1756 – 7 tháng 9, 1757), con trai của Kế Hoàng hậu
- Vĩnh Lộ [永璐] (31 tháng 8, 1757 – 3 tháng 5, 1760), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
- Gia Khánh đế Vĩnh Diễm [永琰] (13 tháng 11, 1760 – 2 tháng 9, 1820), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Được phong Gia Thân vương (嘉親王) năm 1789, lên ngôi ngày 9 tháng 2, 1796
- Hoàng thập lục tử (13 tháng 1, 1763 – 6 tháng 5, 1765), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
- Khánh Hi thân vương Vĩnh Lân [永璘] (17 tháng 6, 1766 – 25 tháng 4, 1820), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, được phong bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó. Cháu nội là Khánh Thân vương Dịch Khuông.
- Tướng quân Phúc Khang An (福康安) được đồn đại là con không hợp pháp của Càn Long, nhưng chưa ai chứng minh được điều này. Tuy thế, Phúc Khang An vẫn là vị tướng quân được sủng ái nhất dưới thời Càn Long.
Hoàng nữ [sửa]
- Hoàng trưởng nữ (1728 – 1729), con gái của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
- Hoàng nhị nữ (1731), con gái của Triết Mẫn Hoàng Quý phi
- Cố Luân Hoà Kính Công chúa [固倫和敬公主] (28 tháng 6, 1731 – 15 tháng 8, 1792), con gái của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
- Hoà Thạc Hoà Gia Công chúa [和硕和嘉公主] (24 tháng 12, 1745 – 29 tháng 10, 1767), con gái của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
- Hoàng ngũ nữ (1753 – 1755), con gái của Kế Hoàng hậu
- Hoàng lục nữ (24 tháng 8, 1755 – 27 tháng 9, 1758), con gái của Hãn Quý phi
- Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúa [固伦和静公主] (10 tháng 8, 1756 – 9 tháng 2, 1775), con gái của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
- Hoàng bát nữ (1758 – 1767), con gái của Hãn Quý phi
- Hoà Thạc Hoà Khác Công chúa [和硕和恪公主] (17 tháng 8, 1758 – 14 tháng 4, 1780), con gái của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
- Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa [固伦和孝公主] (2 tháng 2, 1775 – 13 tháng 10, 1823), con gái của Đôn phi và là công chúa được Càn Long sủng ái nhất.
Nghĩa nữ [sửa]
- Hoà Thạc Hoà Uyển Công chúa [和硕和婉公主] (24 tháng 7, 1734 – 2 tháng 5, 1760), vốn là con gái trưởng của Hoà Thân vương Hoằng Trú, con trai thứ năm của Hoàng đế Ung Chính và là cháu gái của Càn Long. Mẹ đẻ là Phúc tấn Ô Trát Khố thị (乌札库氏, Ujaku), Đại Phúc tấn của Hoằng Trú.
Tham khảo [sửa]
- Sử Trung Quốc (Nguyễn Hiến Lê)
- Lịch sử năm nghìn năm Trung Quốc
- Thanh Cung mười ba triều
Xem thêm [sửa]
- Thập toàn võ công (Mười chiến dịch quân sự lớn do Càn Long tiến hành)
- Tứ khố toàn thư
Ghi chú [sửa]
- ^ Draft history of the Qing dynasty, Consort files. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.
|
|||||||||||||||||