Càn Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Càn Long Đế
乾隆帝
Hoàng đế Trung Hoa
乾隆皇帝老年肖像.jpg
Vua nhà Thanh
Trị vì 8 tháng 10 năm 17359 tháng 2 năm 1796
(60 năm,124 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Thế Tông
Kế nhiệm Thanh Nhân Tông
Thông tin chung
Tên húy Ái Tân Giác La Hoằng Lịch (爱新觉罗/羅弘曆)
Niên hiệu Càn Long (乾隆)
Thụy hiệu Thuần Hoàng đế (純皇帝)
Miếu hiệu Cao Tông (高宗)
Triều đại Nhà Thanh
Thân phụ Ung Chính hoàng đế
Thân mẫu Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu
Sinh 25 tháng 9, 1711(1711-09-25)
Mất 7 tháng 2, 1799 (87 tuổi)
Trung Quốc
An táng Đông Thanh mộ, Tuân Hóa

Thanh Cao Tông (chữ Hán: 清高宗, 25 tháng 9, 1711 tức năm Khang Hi thứ 50—7 tháng 2, 1799 tức năm Gia Khánh thứ 4), húy Hoằng Lịch (弘曆), là người con trai thứ tư của Hoàng đế Ung Chính và là Hoàng đế thứ sáu của nhà Thanh, đồng thời ông là hoàng đế có tuổi thọ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Thời kỳ trị vì của ông kéo dài hơn 60 năm từ 11 tháng 10, 1736 đến 1 tháng 9, 1795, và là thời cực thịnh về kinh tếquân sự của nhà Thanh. Vào thời này, lãnh thổ nhà Thanh kéo dài đến Châu thổ sông Y LêTân Cương, lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến tối đa: khoảng 11.000.000 km², so với 9.000.000 km² hiện tại. Ông bắt chước cách thức cai trị của ông nội mình là Khang Hy hoàng đế, người mà ông rất ngưỡng mộ.

Khi còn trẻ, Càn Long đã khiến Khang Hy ngạc nhiên về rất nhiều lĩnh vực, nhất là về văn học nghệ thuật. Khang Hi đã cho rằng Càn Long có thể sẽ là xứng đáng trở thành Hoàng đế kế vị nhà Thanh sau Ung Chính.

Lúc lên ngôi, Càn Long có mở một số cuộc viễn chinh và đã thất bại, ông cũng thu nạp nhiều phi tần, tuần du các nơi, kết nạp lộng thần tham ôHòa Thân...

Năm 1796, ông nhường ngôi cho con là Vĩnh Diễm, lên làm Thái thượng hoàng, giữ vững quyền chính. Năm 1799 ông mất, hưởng thọ 89 tuổi. Thụy hiệu đầy đủ của ông là Pháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần hoàng đế (法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝).

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất về thân thế của Càn Long lưu truyền trong các câu chuyện dân gian, các bộ tiểu thuyết, dã sử chính là giả thuyết Càn Long là con cháu dòng họ Trần ở Hải Ninh, Chiết Giang. Chuyện kể rằng, vào ngày 13 tháng 8 năm Khang Hy thứ 50, tức năm 1711, phủ của Ung Thân Vương, người sau này trở thành Hoàng đế Ung Chính, trở nên nhộn nhịp vui vẻ lạ thường. Hôm đó, Hoàng tử Ung Chính có thêm một đứa con. Cùng trong ngày hôm đó, nhà họ Trần ở Hải Ninh cũng có thêm một đứa trẻ. Nhà họ Trần ở đây chính là chỉ Trần Thế Quán, hay còn gọi là Trần Các Lão, một người từng làm quan dưới thời Khang Hy và có quan hệ cực kỳ mật thiết với hoàng tử thứ 4, Ung thân vương Ung Chính.

Lúc bấy giờ, Vương phi của hoàng tử Ung Chính và vợ của Trần Các Lão đều mang thai. Không lâu sau đó, cả hai người cùng sinh vào một ngày, Vương phi của Ung Chính sinh ra một công chúa còn vợ của Trần thì sinh ra một đứa con trai. Ung Chính nghe nói con trai của Trần Các Lão sinh cùng ngày với công chúa của mình mới lệnh cho Trần mang con con vào vương phủ của mình để xem mặt. Lệnh của vương gia không thể không nghe, Trần Các Lão không còn cách nào khác đành phải mang con của mình đưa vào vương phủ. Tuy nhiên, khi đứa bé được trả về cho nhà họ Trần thì ban đầu là con trai giờ lại hóa thành con gái. Đứa con trai nhà họ Trần bị đánh tráo vào phủ Ung Chính sau này chính là Hoàng đế Càn Long.

Câu chuyện này đã được Kim Dung hư cấu thành bộ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục. Tuy nhiên đây chỉ là truyền thuyết, thể hiện mong ước của người Hán khi bị người Mãn đô hộ, tự an ủi mình rằng vua trên ngai vàng vẫn là người Hán.

Lên ngôi Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Hoằng Lịch lên ngôi, tin tức về người kế vị đã được nhiều người biết đến. Hoằng Lịch chính là người được Hoàng đế Khang Hi (ông nội) và vua cha là Ung Chính đánh giá cao; trên thực tế, Ung Chính đã giao cho Hoằng Lịch nhiều công việc quan trọng từ khi Hoằng Lịch còn là hoàng tử, bao gồm cả những việc triều chính liên quan đến các chiến lược quân sự. Để tránh lặp lại một cuộc tranh giành quyền lực - điều vốn để lại vết nhơ trong con đường đến ngai vàng của mình, Hoàng đế Ung Chính đã viết sẵn tên người kế ngôi, đưa vào trong một chiếc hộp niêm phong cẩn thận được đặt phía sau tấm bảng phía trên ngai vàng tại Càn Thanh Cung (乾清宮). Tên người kế vị sẽ được công khai cho các hoàng thân trong cuộc họp mặt của tất cả các quan đại thần, sau khi Hoàng đế mất.

Vào năm 1735, Hoàng đế Ung Chính đột ngột qua đời, di chúc của ông đã được công bố trước triều đình nhà Thanh, và Hoằng Lịch đã chính thức trở thành Hoàng đế Mãn châu thứ 6 của Trung Hoa, mở ra triều đại Càn Long (乾隆).

Các cuộc chiến tranh biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Càn Long được đánh giá là một nhà quân sự tài ba. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho quân đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miêu vào năm 1735-1736. Những chiến dịch sau đó của ông đã làm mở rộng đáng kể lãnh thổ nhà Thanh. Sự thành công này một phần cậy nhờ vào sức mạnh quân sự, phần còn lại là sự chia rẽ và ngày một suy yếu của những dân tộc nội Á. Dưới thời Càn Long, Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ đặt dưới sự cai trị của nhà Thanh; sau đó nó đã đổi tên thành Tân Cương; trong khi đó, ở phía Tây, vùng Nội Mông là một đơn vị đồn trú của quân đội nhà Thanh. Sự sáp nhập Tân Cương vào trong lãnh thổ nhà Thanh là kết quả của các chiến thắng quân sự và sự sụp đổ của Hãn Quốc Chuẩn Cát Nhĩ, một liên minh giữa các bộ tộc Tây Mông Cổ. Theo học giả Ngụy Viên (đời nhà Thanh), 40% trong tổng số 600,000 người Chuẩn Cát Nhĩ đã chết do bệnh đậu mùa, 20% phải di dân đến các khu vực của tộc người Nga, người Kazash, 30% bị quân đội nhà Thanh tiêu diệt [1]. Còn sử gia Peter Perdue cho rằng sự suy giảm dân số của người Chuẩn Cát Nhĩ là kết quả của chính sách diệt chủng triệt để của Càn Long [2].

Suốt thời gian này đã tiếp tục diễn ra sự can thiệp của người Mông Cổ vào Tây Tạng; ở chiều ngược lại đó là sự thâm nhập của Phật Giáo Tây Tạng vào Mông Cổ. Sau cuộc bạo loạn Llasa vào năm 1750, Càn Long đã trao quyền trị vì Tây Tạng cho Đà Lai Lạt Ma nhưng song song đó, lại đặt nó dưới sự giám sát của các quan Đại thần và quân đội nhà Thanh đồn trú tại đây nhằm bảo vệ chủ quyền của Trung Hoa. Ở những mặt trận xa hơn, ông đã thần phục được người Nepal, người Gukhas.

Ngoài ra, Càn Long cũng đã có âm mưu thôn tính Burma nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến Thanh-Miến.

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điền Dương đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà Thanh ở Sơn Đông, quật mộ của Càn Long và Từ Hi Thái Hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi bẩy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.

Bên trong mộ của các vua chúa này được xây cất như sau:

Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.

Tin các lăng tẩm của Càn Long và Từ Hi bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần nhà Thanh.

Điều quân sang Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1788, thân mẫu của hoàng tử Lê Duy Kỳ cùng các bầy tôi sang Long Châu cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Tháng 7 năm 1788, Lê Chiêu Thống ở Kinh Bắc cũng sai người sang Trung Quốc cầu viện. Càn Long nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt, cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu[3] hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù , vào chiếm đóng Thăng Long.

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến[4]. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân Thanh.

Sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh[5] bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị quân Tây Sơn mai phục chặn đánh. Cuối cùng, Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hậu phi[6]:
  1. Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu Phú Sát thị (孝贤纯皇后 富察氏, 1712 - 1748), thuộc Mãn Châu Tương Hoàng Kỳ, con gái của Tổng nội quản Lý Vinh Bảo (李荣保).
  2. Kế Hoàng hậu Ô Lạt Nạp Lạp thị (继皇后 烏拉那拉氏, 1718 - 1766), thân thế Mãn Châu Tương Hoàng Kỳ, cha là Tá lĩnh Na Nhĩ Bố (那爾布). Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không có thụy hiệu.
  3. Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu Nguỵ Giai thị (孝儀純皇后 魏佳氏, 1727 - 1775), nguyên là Lệnh Hoàng Quý phi. Người Hán, quê ở Giang Châu, cha là Ngụy Thanh Thái (魏清泰).
  4. Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao Giai thị (慧贤皇贵妃 高佳氏, ? - 1745), nguyên là Tuệ Hoàng Quý phi. người Hán, sau ban đài kỳ mà nâng làm Mãn Châu Tương Hoàng Kỳ, cha là Đại học sĩ Cao Bân (高斌).
  5. Thuần Huệ Hoàng Quý phi Tô thị (纯惠皇贵妃 苏氏, 1713 - 1760), nguyên là Thuần Hoàng Quý phi. Con gái Tô Triệu Nam (蘇召南).
  6. Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị (淑嘉皇贵妃 金佳氏, ?-1755), nguyên là Gia Quý phi. Con gái Kim Tam Bảo (金三寶), người gốc Triều Tiên. Bà đã sinh cho Càn Long 4 Hoàng nam,
  7. Khánh Cung Hoàng Quý phi Lục thị (庆恭皇贵妃 陆氏, 1724 - 1774), con gái Lục Sĩ Long (陆士隆), từ Quý nhân (贵人) lên Khánh quý phi (庆贵妃). Không con.
  8. Triết Mẫn Hoàng Quý Phi Phú Sát thị (哲悯皇贵妃 富察氏, ? - 20 tháng 5, 1735), thuộc gia tộc Phú Sát thị của Mãn Châu, qua đời ngay trước khi Càn Long lên ngôi nên chưa từng làm Hoàng quý phi khi còn sống. Khi Càn Long đăng cơ, truy phong Triết phi (哲妃), do sanh hạ Hoàng trưởng tử Vĩnh Hoàng (永璜) nên gia phong Hoàng quý phi.
  9. Du Quý phi Kha Lí Diệp Đặc thị (愉贵妃 珂里叶特氏, 1714–1792), thuộc gia tộc Kha Lí Diệp Đặc thị (Keliyete) của Mãn Châu, con gái của ngoại lang Ngạch Nhĩ Cát Đồ (额尔吉图). Khi được cưới cho Bảo Thân vương Hoằng Lịch, bà nhận danh phận Cách Cách (格格). Bà sinh ra con trai là ngũ a ca Vĩnh Kỳ, được phong Vinh thân vương, do Vĩnh Kỳ tài năng nên Càn Long sủng ái bà, phong làm Du phi (愉妃). Nhưng đến khi Vĩnh Kỳ mất (1766), bà bị thất sủng. Khi chết truy phong Quý phi.
  10. Uyển Quý phi Trần thị (婉貴妃 陳氏, 1716 - 1807), người Hán, bà lấy Càn Long khi ông còn là Bảo Thân vương. Khi lên ngôi, bà được phong Quý nhân (貴人). Năm 1749, trở thành Uyển tần (婉嬪), bà ở chức vị này hơn 40 năm cho đến năm 1794, bà được phong làm Uyển phi (婉妃). Khi Càn Long mất, bà được Gia Khánh tôn làm Uyển Quý thái phi (婉貴太妃).
  11. Dĩnh Quý phi Ba Lâm thị (穎貴妃 巴林氏, 1731 - 1800), thuộc tộc Mông Cổ, nhập cung khi Càn Long vừa lên ngôi không lâu, được phong Dĩnh quý nhân (穎貴人). Năm 1751 trở thành Dĩnh tần (穎嬪), rồi năm 1759 thành Dĩnh phi (穎妃). Năm 1798, khi bà gần 70 tuổi, được sắc phong làm Dĩnh Quý phi (穎貴妃), sau đó Gia Khánh tôn bà làm Dĩnh Quý thái phi (穎貴太妃).
  12. Hãn Quý phi Đái Giai thị (忻贵妃 戴佳氏, mất 1764), thuộc gia tộc Đái Giai thị của Tương hoàng kỳ. Bà nhập cung năm 1754, trở thành Hãn tần (忻嬪), bà sinh ra tổng cộng 2 công chúa cho Càn Long nhưng đều mất sớm. Năm 1763 bà được phong Hãn phi (貴妃) rồi qua đời.
  13. Tuần Quý phi Y Nhĩ Căn Giác La thị (循貴妃 伊爾根覺羅氏, mất 1797), thuộc Mãn Châu Tương Lam Kỳ, phong làm Tuần tần (循嬪), rồi Tuần phi (循妃).
  14. Tấn phi Phú Sát thị (晋妃 富察氏, ?-1822), nguyên là Tấn tần, thuộc gia tộc Phú Sát thị của Mãn Châu. Bà được cháu của Càn Long là Hoàng đế Đạo Quang phong làm Phi năm 1820 do là phi tần cuối cùng của Càn Long còn sống.
  15. Thư phi Diệp Hách Na Lạp thị (舒妃 葉赫那拉氏, 1728 - 1777).
  16. Hương phi / Dung phi Hoà Trác thị (容妃 和卓氏, 1734-1788), có lẽ chỉ là nhân vật pha trộn giữa truyền thuyết và sự thật.
  17. Đôn phi Uông thị (惇妃 汪氏, 1746 - 1806).
  18. Dự phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (豫妃 博爾濟吉特氏, 1730 - 1774).
  19. Phương phi Trần thị (芳妃 陳氏, ? - 1801).
  20. Nghi tần Hoàng thị
  21. Tuân tần Hoắc Thạc Đặc thị
  22. Cung tần Lâm thị
  23. Di tần Bách thị
  24. Thận tần Bái Nhĩ Cát Tư thị
  25. Thành tần Nữu Hỗ Lộc thị
  26. Thuận Quý nhân Nữu Hỗ Lộc thị
  27. Quý nhân Tây Lâm Giác thị
  28. Quý nhân Bách thị
  29. Thuỵ Quý nhân Tác Xước Lạc thị
  30. Đa Quý nhân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị
  31. Võ Quý nhân
  32. Kim Quý nhân
  33. Tân Quý nhân
  34. Phúc Quý nhân
  35. Bạch Thường tại
  36. Quỹ Thường tại
  37. Kim Thường tại
  38. Phúc Thường tại
  39. Ninh Thường tại
  40. Bình Thường tại
  41. Na Thường tại

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Định An thân vương Vĩnh Hoàng [永璜] (5 tháng 7, 172821 tháng 4, 1750), con trai của Triết Mẫn Hoàng Quý phi
  2. Đoan Tuệ thái tử Vĩnh Liễn [永璉] (9 tháng 8, 173023 tháng 11, 1738), Thái tử thứ nhất, con trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu
  3. Tuần quận vương Vĩnh Chương [永璋] (15 tháng 7, 173526 tháng 8, 1760), con trai của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
  4. Lí Đoan Thân vương Vĩnh Thành [永珹] (21 tháng 2, 17395 tháng 4, 1777), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
  5. Vinh Thuần thân vương Vĩnh Kì [永琪] (23 tháng 3, 174116 tháng 4, 1766), con trai của Du Quý phi
  6. Chất Trang thân vương Vĩnh Dung [永瑢] (28 tháng 1, 174413 tháng 6, 1790), con trai của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
  7. Triết thân vương Vĩnh Tông [永琮] (27 tháng 5, 174629 tháng 1, 1748), Thái tử thứ hai, con trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu
  8. Nghi Thận Thân vương Vĩnh Tuyền [永璇] (31 tháng 8, 17461 tháng 9, 1832), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
  9. Hoàng cửu tử (2 tháng 8, 174811 tháng 6, 1749), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
  10. Hoàng thập tử (12 tháng 6, 17517 tháng 7, 1753), con trai của Thư phi
  11. Thành Triết thân vương Vĩnh Tinh [永瑆] (22 tháng 3, 175210 tháng 5, 1823), con trai của Thục Gia Hoàng Quý phi
  12. Bối lặc Vĩnh Cơ [永璂] (7 tháng 6, 175217 tháng 3, 1776), con trai của Kế Hoàng hậu
  13. Vĩnh Cảnh [永璟] (2 tháng 1, 17567 tháng 9, 1757), con trai của Kế Hoàng hậu
  14. Vĩnh Lộ [永璐] (31 tháng 8, 17573 tháng 5, 1760), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
  15. Gia Khánh đế Vĩnh Diễm [永琰] (13 tháng 11, 17602 tháng 9, 1820), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu. Được phong Gia Thân vương (嘉親王) năm 1789, lên ngôi ngày 9 tháng 2, 1796
  16. Hoàng thập lục tử (13 tháng 1, 17636 tháng 5, 1765), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
  17. Khánh Hi thân vương Vĩnh Lân [永璘] (17 tháng 6, 176625 tháng 4, 1820), con trai của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu, được phong bối lặc năm 1789, được phong Khánh Quận vương (慶郡王) năm 1799, được phong Khánh Thân vương (慶親王) năm 1820 nhưng mất cùng vào năm đó. Cháu nội là Khánh Thân vương Dịch Khuông.
  • Tướng quân Phúc Khang An (福康安) được đồn đại là con không hợp pháp của Càn Long, nhưng chưa ai chứng minh được điều này. Tuy thế, Phúc Khang An vẫn là vị tướng quân được sủng ái nhất dưới thời Càn Long.

Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cố Luân Hòa Tuyết công chúa (17281729), con gái của Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu
  2. Hòa Thạc Hòa Lễ công chúa (1731), con gái của Triết Mẫn Hoàng Quý phi
  3. Cố Luân Hoà Kính Công chúa [固倫和敬公主] (28 tháng 6, 173115 tháng 8, 1792), con gái của Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu
  4. Hoà Thạc Hoà Gia Công chúa [和硕和嘉公主] (24 tháng 12, 174529 tháng 10, 1767), con gái của Thuần Huệ Hoàng Quý phi
  5. Cố Luân Hòa An công chúa (17531755), con gái của Kế Hoàng hậu
  6. Hòa Thạc Hòa Trinh công chúa (24 tháng 8, 175527 tháng 9, 1758), con gái của Hãn Quý phi
  7. Cố Luân Hoà Tĩnh Công chúa [固伦和静公主] (10 tháng 8, 17569 tháng 2, 1775), con gái của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
  8. Hòa Thạc Hòa Khang công chúa (17581767), con gái của Hãn Quý phi
  9. Cố Luân Hoà Khác Công chúa [固伦和恪公主] (17 tháng 8, 175814 tháng 4, 1780), con gái của Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
  10. Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa [固伦和孝公主] (2 tháng 2, 177513 tháng 10, 1823), con gái của Đôn phi và là công chúa được Càn Long sủng ái nhất.

Nghĩa nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử Trung Quốc (Nguyễn Hiến Lê)
  • Lịch sử năm nghìn năm Trung Quốc
  • Thanh Cung mười ba triều

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clarke 2004, tr. 37.
  2. ^ Perdue 2005, tr. 287.
  3. ^ Theo Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, trích dẫn từ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên đời Thanh
  4. ^ Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1987, tr 392
  5. ^ Xem chi tiết bài Nguyễn Huệ
  6. ^ Draft history of the Qing dynasty, Consort files. 《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Qianlong Emperor tại Wikimedia Commons