Thuận Trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thuận Trị Đế
顺治帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清世祖顺治皇帝朝服像》.jpg
Hoàng đế nhà Thanh
trị vì 4 tháng 4 năm 16447 tháng 1 năm 1661
Tiền nhiệm Thanh Thái Tông
Nhiếp chính Đa Nhĩ Cổn (1643-1650)
Tế Nhĩ Cáp Lãng (1643-1647)
Kế nhiệm Thanh Thánh Tổ
Thông tin chung
Thê thiếp Phế hậu Bách Nhĩ Tế Cát Đặc thị
Hiếu Huệ Chương hoàng hậu
Hiếu Khang Chương hoàng hậu
Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Phúc Lâm
Mãn Châu: Aisin-Gioro Fulin
Tước vị Hoàng đế
Niên hiệu Thuận Trị (顺治)
Thụy hiệu Thể Thiên Long Vận Đỉnh Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiến Vũ Đại Đức Hoằng Cung Chí Nhân Sơ Hiếu Chương hoàng đế
体天隆运定统建极英睿欽文顯武大德弘功至仁纯孝章皇帝章皇帝.
Miếu hiệu Thanh Thế Tổ
Hoàng tộc Nhà Thanh
Thân phụ Hoàng Thái Cực
Thân mẫu Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu
Sinh 15 tháng 3, 1638(1638-03-15)
Thịnh Kinh, Mãn Châu
Mất 5 tháng 2, 1661 (22 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đế quốc Thanh
An táng Hiếu Lăng, Đông Thanh mộ, Tuân Hóa

Thanh Thế Tổ (chữ Hán: 清世祖, 15 tháng 3 năm 1638 - 5 tháng 2 năm 1661), là vị Hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh người Mãn Châu, và là hoàng đế nhà Thanh đầu tiên cai trị trên toàn cõi Trung Hoa từ năm 1644 đến 1661.

Ông kế vị Thái Tông hoàng đế Hoàng Thái Cực khi mới 6 tuổi, nên được Đa Nhĩ CổnTế Nhĩ Cáp Lãng (Jirgalang) nhiếp chính. Sau khi ông băng hà, con ông là Huyền Diệp (玄燁) lên kế vị ngai vàng, tức là Hoàng đế Khang Hy.

Ông có tên thật là Phúc Lâm (福臨), niên hiệuThuận Trị (顺治). Sau khi mất, ông được truy tôn thụy hiệu đầy đủ là Thể Thiên Long Vận Đỉnh Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiến Vũ Đại Đức Hoằng Cung Chí Nhân Sơ Hiếu Chương Hoàng Đế (体天隆运定统建极英睿欽文顯武大德弘功至仁纯孝章皇帝章皇帝).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn sau khi vua cha Thanh Thái Tông (Hoàng Thái Cực) qua đời, trong triều xảy ra tranh chấp để giành ngôi vị. Lúc đó, những người như Hào Cách, Đa Đạc,… lo tìm cách thôn tính lẫn nhau để tranh ngôi. Duệ Thân vương là Đa Nhĩ Cổn thấy tình hình tranh chấp, tuy biết thế lực của mình không nhỏ, nhưng nếu lên ngôi sợ kẻ khác bất phục, nên lập đứa con trai thứ 9 của Hoàng Thái Cực là Phúc Lâm kế vị, niên hiệu Thuận Trị, tức là đức Thế Tổ Chương hoàng đế nhà Thanh.

Sau đó, Đa Nhĩ Cổn làm Nhiếp chính vương, vì Phúc Lâm còn nhỏ tuổi.

Bấy giờ, Lý Tự Thành khởi loạn, chống nhà Minh, năm 1642 tiến binh về Bắc Kinh của nhà Minh, đến năm 1644 thì chiếm được kinh thành, vua Minh Tư Tông tự vẫn tại núi Môi Sơn. Lý Tự Thành nhập kinh, lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Thuận.

Lý Tự Thành có chiếm và làm nhục người thiếp của Ngô Tam Quế là Trần Viên Viên, còn giết cha của Quế. Ngô Tam Quế vốn là tướng nhà Minh trấn phòng quân Thanh, nay thấy Lý Tự Thành như vậy, tức giận, cầu viện nhà Thanh đánh Lý Tự Thành. Khi nhà Thanh hay tin, Đa Nhĩ Cổn bèn đem quân vượt qua Sơn Hải Quan, tiến về kinh đô nhà Minh phối hợp với quân Ngô Tam Quế. Cuối cùng cũng đã diệt được Lý Tự Thành tiến vào trung nguyên.

Quân Thanh còn tiến binh chiếm các tỉnh thành của Trung Hoa, rồi thống nhất Trung Quốc, đưa Phúc Lâm đến Bắc Kinh làm Hoàng đế Trung Hoa. Từ đó, người Hán sống dưới sự thống trị của người Mãn Châu.

Thuận Trị Thế Tổ trị vì đất nước, tỏ rõ là ông vua tài năng, sáng suốt, chăm lo chính sự, lại cần cù siêng năng, học hành giỏi giang.

Thuận Trị có sủng ái một người con gái, là Đổng Ngạc thị, phong nàng ta là Đổng Ngạc phi. Nhưng không bao lâu, nàng Đổng Ngạc phi này mất. Vua Thuận Trị đau buồn, rồi lên bệnh đậu mùa, qua đời năm 24 tuổi.

Có thuyết nói rằng, vua Thuận Trị không hề qua đời mà chỉ bỏ trốn khỏi kinh thành, bỏ đi tu, lấy pháp hiệu là Hành Si hòa thượng, không quan tâm đến cuộc sống trần thế vinh hoa phú quý nữa.

Sau khi Thuận Trị không còn làm vua nữa, con ông là Huyền Diệp kế vị, tức là Khang Hy hoàng đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai:
    • 1.Ngưu Nữu (牛钮),sinh bởi Ba Phi,chết yểu.
    • 2.Phúc Toàn (福全), sinh bởi Ninh Ý Phi, được phong Dụ Thân Vương (裕親王) năm 1667.
    • 3.Huyền Diệp (玄燁), sinh bởi Hiếu Khang Chương Hoàng Hậu,lên ngôi Hoàng Đế niên hiệu Khang Hi.
    • 4.Hoàng tứ tử, sinh bởi Đổng Ngạc Phi, chết yểu, truy phong Vinh Thân Vương (榮親王).
    • 5.Tường Ninh (常寧), sinh bởi Trần Phi, được phong Cung Thân Vương (恭親王) năm 1771.
    • 6.Kì Thọ (奇授), sinh bởi Đường Phi, chết khi lên 7 tuổi.
    • 7.Long Hi (隆禧), sinh bởi Ngưu Phi, được phong Thuần Thân Vương (純親王)năm 1774.
    • 8.Vĩnh Cán (永幹), sinh bởi Mục Phi, chết khi lên 8 tuổi.
  • Con gái:
    • Cố Luân Trang Mẫn Trưởng công chúa, con của Hiếu Huệ Chương hoàng hậu.
    • Hoà Thạc Kính Lam trưởng công chúa, con của Điêu phi.
    • Hoà Thạc Cảnh Lam trưởng công chúa, con của Ba phi.
    • Cố Luân Vĩnh Hoà Thái Trưởng công chúa, con của Hiếu Khang Chương hoàng hậu, vị công chúa sống lâu nhất của Thuận Trị, cũng là người được ông và Hiếu Trang Văn hoàng hậu sủng ái nhất. Mất năm Ung Chính thứ 2.
    • Hoà Thạc Tĩnh Khác trưởng công chúa, ngũ công chúa, con của Mục Phi.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]