Khang Hi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khang Hi Đế
康熙帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清圣祖康熙皇帝朝服像》.jpg
Hoàng đế nhà Thanh
Trị vì 7 tháng 2 năm 166220 tháng 12 năm 1722 (&0000000000000060.00000060 năm, &0000000000000316.000000316 ngày)
Đăng quang 1667
Tiền nhiệm Thanh Thế Tổ
Kế nhiệm Thanh Thế Tông
Thông tin chung
Thê thiếp 4 hoàng hậu: Hiếu Thành Nhân hoàng hậu
Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu
Hiếu Ý Nhân hoàng hậu
Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
và 1200 phi tần
Hậu duệ
Tên thật Ái Tân Giác La Huyền Diệp
Niên hiệu Khang Hi
Thụy hiệu Nhân Hoàng đế
Miếu hiệu Thánh Tổ
Triều đại Nhà Thanh
Thân phụ Thuận Trị hoàng đế
Thân mẫu Hiếu Khang Chương hoàng hậu
Sinh 4 tháng 5 năm 1654
Mất 20 tháng 12 năm 1722
Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Cảnh lăng, Đông Thanh mộ, Tuân Hóa

Thanh Thánh Tổ (chữ Hán: 清聖祖, 4 tháng 5 năm 165420 tháng 12 năm 1722), tên thật là Ái Tân Giác La Huyền Diệp (爱新觉罗玄燁), là vị Hoàng đế thứ 4 của nhà Thanh người Mãn Châu[1][2] và là hoàng đế Thanh thứ hai trị vì toàn cõi Trung Quốc, từ năm 1661 đến năm 1722.

Ông là vị hoàng đế tài ba, người đã thiết lập sự thịnh trị dài trên 130 năm của nhà Thanh, sau một loạt binh lửa can qua. Dưới thời cai trị của ông, Đế quốc Thanh kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, Mãn Châu, nhiều phần của vùng Cận Đông nước Nga và bảo hộ Mông CổTriều Tiên.

Ông có niên hiệuKhang Hi (康熙), nên thường gọi là Khang Hi đế (康熙帝). Tiểu sử của ông được ghi tại Thanh sử cảo, quyển 4 "Thánh Tổ bản kỷ" và Thanh thông giám, quyển 41-45 "Thánh Tổ Khang Hi". Thụy hiệu đầy đủ của ông là Hợp Thiên Hoằng Vận Văn Vũ Duệ Triết Cung Kiệm Khoan Du Hiếu Kính Thành Tín Trung Hòa Công Đức Đại Thành Nhân hoàng đế (合天弘運文武睿哲恭儉寬裕孝敬誠信中和功德大成仁皇帝).

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung của Hoàng đế Khang Hy lúc trẻ

Ái Tân Giác La Huyền Diệp là con thứ 3 của Thuận Trị. Mẹ ông là Đông Giai thị vốn là con gái của Đông Đồ Lại. Huyền Diệp sinh ngày 4 tháng 5 năm 1654. Ông được bà nội dạy dỗ từ nhỏ, lên 5 tuổi bắt đầu học hành[3][4].

Ngày 2 tháng giêng năm 1661, Ái Tân Giác La Huyền Diệp mới lên 8 tuổi thì vua cha Thuận Trị mới 24 tuổi đã lâm bệnh nặng nằm liệt giường. Bà nội ông là Hiếu Trang hoàng thái hậu ủng hộ việc lập Huyền Diệp lên kế vị. Thuận Trị bèn tuyên bố lập Huyền Diệp trở thành vua mới, đồng thời bổ nhiệm 4 đại thần làm phụ chính là Sách Ni, Tô Khắc Táp Cáp, Át Tất Long và Ngao Bái. Không lâu sau đó Thuận Trị qua đời.

Huyền Diệp lấy niên hiệu là Khang Hi, chính thức trở thành vị vua thứ 4 nhà Thanh.

Trừ Ngao Bái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngao Bái

Vì Khang Hi mới lên 8 tuổi, chính sự do bà nội Hiếu Trang thái hoàng thái hậu và 4 đại thần phụ chính lo liệu. Ban đầu, cả 4 đại thần cùng đọc tấu chương, rồi dâng lên Khang Hi hoặc thái hậu, và nhân danh hoàng đế hoặc thái hậu ban lệnh.

Trong số 4 đại thần phụ chính, Ngao Bái là người có nhiều chiến công nhất và được phong thưởng nhiều, nên tỏ ra ngang tàng, coi thường vua nhỏ. Sách Ni tuổi già lắm bệnh nên ngại việc, ít tham gia chính sự; Át Tất Long tính tình mềm mỏng, ngại va chạm, không muốn gây xung đột với người khác; chỉ có Tô Khắc Táp Cáp tính tình thẳng thắn cương trực, thường hay tranh luận với Ngao Bái.

Ngao Bái cho con trai làm thị vệ nội đại thần. Năm 1666, Ngao Bái giết hại Tổng đốc Trực Khang – Sơn Đông là Chu Xương Tô, Tuần phủ Vương Đăng Liên. Trước sự chuyên quyền của Ngao Bái, Tô Khắc Táp Cáp tức giận, hai người trở thành đối đầu nhau.

Tô Khắc Táp Cáp ít kinh nghiệm, lại một mình một chủ trương, không chỉ đối đầu với Ngao Bái mà còn mâu thuẫn với Sách Ni, do đó bị cô lập. Ngao Bái tìm cách vu cáo Tô Khắc Táp Cáp để buộc tội, và thúc ép Khang Hi ban lệnh xử tử.

Sau khi 3 đại thần qua đời, không còn ai phản đối Ngao Bái, vì vậy Ngao Bái càng chuyên quyền. Những ai muốn tâu việc lên vua đều phải tâu qua Ngao Bái và đút lót mới được cất nhắc, bổ dụng[5]. Ngao Bái muốn tiếp tục duy trì đường lối chỉ dùng người Mãn làm quan, hạn chế người Hán vào triều[6].

Sự chuyên quyền của Ngao Bái khiến Khang Hi không hài lòng. Năm 1667, Khang Hi lên 14 tuổi. Ông tự mình đứng ra xem xét việc triều chính và muốn trừ bỏ Ngao Bái. Do Ngao Bái đang là phụ chính, bè cánh lại đông, Khang Hi biết chưa thể trừ bỏ ngay, bề ngoài tỏ ra bình thường. Ngao Bái ngạo mạn khinh thường vua nhỏ, thường cáo bệnh ốm không vào triều, khiến ông phải đến tận nhà thăm hỏi. Một lần ông cùng thị vệ Hòa Thác tới thăm, thấy Ngao Bái không hề ốm yếu. Hòa Thác tới giường Ngao Bái xem, phát hiện ra dưới đệm có con dao. Ngao Bái rất lo lắng nhưng Khang Hi lại không tỏ thái độ gì, cho rằng việc mang dao bên người là tập quán bình thường của người Mãn. Do đó Ngao Bái yên tâm không bị Khang Hi nghi ngờ[5].

Lấy lý do thích đánh cờ, ông triệu tập con Sách Ni là Sách Ngạch Đồ vào cung để bàn kế trừ Ngao Bái. Ông phong cho Ngao Bái làm Nhất đẳng công để Ngao Bái lơ là mất cảnh giác, mặt khác ông lấy cớ thích học võ nghệ để tuyển chọn nhiều người trong hàng ngũ con em thân vương làm thị vệ cho Ngao Bái. Sau đó, ông lấy cớ điều bớt những người vây cánh của Ngao Bái đi làm quan ở nơi xa.

Năm 1669, khi Ngao Bái vào cung yết kiến, Khang Hi ra lệnh cho đội thị vệ thân tín bắt giữ. Ông kể tội, cách chức Ngao Bái. Vì nể công lao từng cứu sống Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, Khang Hi tha chết và giam Ngao Bái vào ngục, và lệnh bắt những người trong cùng vây cánh Ngao Bái.

Không lâu sau khi bị bắt giữ, Ngao Bái lâm bệnh chết trong ngục. Khang Hi chính thức nắm quyền điều hành triều chính, khi đó ông 16 tuổi.

Hoàn thành thống nhất quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Dẹp loạn Tam phiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Loạn Tam phiên

Việc Khang Hi trừ bỏ Ngao Bái khiến nhiều quan lại chính trực rất vui mừng và khâm phục. Tuy trong triều đã yên nhưng tình hình bên ngoài còn nhiều việc. Lãnh thổ Trung Quốc chưa hoàn toàn được thống nhất, vẫn còn nguy cơ để lại từ cuối thời Minh: đó là "tam phiên" tức 3 vị vương từng là hàng tướng của nhà Minh gồm có Bình Tây vương Ngô Tam QuếVân Nam, Bình Nam vương Thượng Khả HỷQuảng Đông và Tĩnh Nam vương Cảnh Tinh TrungPhúc Kiến; Trịnh Thành Công vẫn chiếm giữ Đài Loan, vua Nga là Sa Hoàng nhiều lần gây chiến ở biên giới. Vì vậy từ khi chính thức trực tiếp nắm quyền hành, Khang Hi đã tự mình viết tấm biển "tam phiên, hà vụ, tào vận" để đặt ra nhiệm vụ giải quyết những mối lo của triều đình.

Tam phiên có địa bàn cai quản rộng lớn, thế lực ngày càng mạnh, lại là tướng cũ của nhà Minh, trở thành mối lo với nhà Thanh, do đó Khang Hi quyết tâm trừ bỏ. Tháng 3 năm 1673, Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ tuổi cao sức yếu dâng thư lên triều đình xin được về hưu dưỡng lão và xin cho con là Thượng Chi Tín kế chức. Khang Hi nắm được cơ hội bắt đầu trừ bỏ tam phiên, bèn đồng ý với thỉnh cầu từ chức của Khả Hỷ, nhưng không cho Chi Tín kế vị.

Lúc đó con trai Ngô Tam Quế là Ngô Ưng Hùng đang ở Bắc Kinh đã nhanh chóng đưa tin về Vân Nam. Tháng 7 năm đó, tin tức đưa tới miền nam. Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung thấy Khang Hi đồng ý với đề nghị rút lui của Thượng Khả Hỷ, lấy làm lo lắng, bèn đồng loạt viết thư xin cáo lão. Các đại thần cho rằng hai Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung không thực lòng rút lui, khuyên ông không nên phê chuẩn vì sẽ gây biến loạn[7].

Trong khi đó, chỉ có số ít đại thần đồng tình với ý định triệt phiên của Khang Hi như Thượng thư Bộ Hộ là Mễ Tư Hàn, Thượng thư Bộ Hình là Mạc Lạc, Thượng thư Bộ Binh là Minh Châu. Khang Hi muốn nhân cơ hội này trừ bỏ tam phiên nên chấp thuận luôn, và sai Bác Nhĩ Khẳng, Chiết Mại Lễ tới Vân Nam, sai Lương Thanh Tiêu tới Quảng Đông, Trần Nhất Bỉnh tới Phúc Kiến để thi hành mệnh lệnh, thúc giục tam vương rời bỏ ngôi vị.

Thấy rõ ý định của Khang Hi muốn trừ bỏ mình, Ngô Tam Quế bèn cầm đầu tam vương khởi sự chống lại nhà Thanh. Tam Quế viết thư cho Phúc Kiến và Quảng Đông đề nghị cùng khởi binh với danh nghĩa "phục Minh diệt giặc", tự xưng là "thiên hạ đô chiêu thảo binh mã đại nguyên soái". Thượng Chi Tín và Cảnh Tinh Trung đều hưởng ứng. Con Trịnh Thành Công là Trịnh Tuyền cũng nhân dịp đó mang quân từ đảo Đài Loan vào đất liền đánh chiếm Ôn châu, Tuyền châu, Chương châu…[8].

Quân nổi dậy của Ngô Tam Quế nhanh chóng chiếm giữ Nguyên châu, Thường Đức rồi tiến vào Tứ Xuyên. Tam Quế đích thân tới Thường Đức, Lễ châu chỉ huy chiến trận.

Trước thế mạnh của Tam vương, một số đại thần nhà Thanh khuyên Khang Hi theo nếp cũ của Hán Cảnh Đế từng chém Triều Thố để yên lòng Ngô vương Lưu Tỵ khi mới xảy ra loạn bảy nước, vì vậy nên chém những người đồng tình triệt phiên như Mễ Tư Hàn, Mạc Lạc và Minh Châu để làm vừa lòng Tam phiên. Nhưng Khang Hi kiên quyết phản đối chủ trương đó, vì ông đã thấy trong quá khứ sau khi Hán Cảnh Đế chém Triều Thố, Lưu Tỵ vẫn không giải binh. Vì vậy ông tuyên bố một mình chịu trách nhiệm việc triệt phiên, và lệnh bắt giam con cháu Ngô Tam Quế ở Bắc Kinh là Ngô Ưng Hùng, Ngô Thế Lâm.

Giữa lúc đó Ngô Tam Quế thông qua Đạt Lại Lạt Ma gửi thư tới Khang Hi yêu cầu cho mình được cát cứ phía nam Trường Giang.

Khang Hi bác bỏ đề nghị cát cứ nam Trường Giang của Tam Quế, ra lệnh chém Ngô Ưng Hùng và Ngô Thế Lâm. Ngô Tam Quế thúc quân tấn công 30 thành trì vùng Giang Tây. Thủ hạ của Tam Quế là Vương Bỉnh Phiên tấn công vào Thiểm Cam – hậu phương nhà Thanh. Tháng 1 năm 1675, con nuôi Ngô Tam Quế là Vương Phụ Thần đang làm Đề đốc Thiểm Tây mang quân chiếm Bình Lương. Được Vương Bính Phiên trợ giúp, Vương Phụ Thần chiếm được Thái châu, Lan Châu, Củng Xương, Định Biên. Ngô Tam Quế tuyên bố sẽ chiếm Kinh châu để tiến vào Bắc Kinh.

Trong lúc đó, Cảnh Tinh Trung và Thượng Chi Tín cũng ra quân hưởng ứng Ngô Tam Quế.

Trước tình hình biến loạn, Khang Hi vẫn bình tĩnh chỉ huy cuộc chiến. Ông xác định Ngô Tam Quế cầm đầu cuộc nổi dậy, chỉ cần tập trung lực lượng diệt Ngô Tam Quế. Vì vậy ông tận dụng mâu thuẫn giữa Cảnh Tinh Trung và Trịnh Kinh, ra chiếu gửi Quảng ĐôngPhúc Kiến, chấp thuận cho Thượng Chi Tín và Cảnh Tinh Trung tiếp tục làm vương. Đồng thời, ông điều quân Thanh đánh bật quân Đài Loan bị cô lập ra khỏi đại lục.

Năm 1677, Thượng Khả Hy vì mâu thuẫn với Ngô Tam Quế, buồn bực lâm bệnh qua đời. Quân hai xứ Phúc Kiến, Quảng Đông sau khi gặp một số bất lợi bèn chấp nhận yêu cầu của Khang Hi, dâng sớ chấp nhận bãi binh. Yên được 2 phía, Khang Hi tập trung lực lượng đối phó với Ngô Tam Quế[9]. Tuy đồng ý trên giấy tờ, hai xứ này vẫn chưa chịu hoàn toàn thần phục.

Thấy vai trò quan trọng của Vương Phụ Thần trong việc giúp lực lượng Ngô Tam Quế phát triển, Khang Hi dùng sách lược vừa đánh vừa dụ. Ông sai con Phụ Thần tới hàng quân Vân Nam, rồi sai Đồ Hải mang quân tới chống Phụ Thần. Phụ Thần trúng kế điệu hổ ly sơn của Đồ Hải, bị hao binh tổn tướng. Bị quân Thanh vây hãm lâu ngày, Vương Phụ Thần hết lương phải ra hàng triều đình.

Quân Thanh chiếm lại trọng điểm Bình Lương khiến Ngô Tam Quế ở Thiểm Tây bị thất thế. Sang năm 1678, quân Thanh giành thắng lợi, đánh chiếm lại Thiểm Tây. Một số tướng lĩnh của Tam Quế là Lâm Hưng Chu, Hàn Đại Nhiệm xin hàng nhà Thanh. Cùng lúc Vương Kiệt Thư đánh bại quân Ngô ở Giang Tây và Chiết Giang khiến Cảnh Tinh Trung không còn ngoại viện, thế cùng phải xin hàng.

Thế cục đã thay đổi, Ngô Tam Quế phải rút về chỉ còn giữ được Vân Nam. Nhưng đầu năm 1678 Ngô Tam Quế vẫn cố xưng đế hiệu ở Hành Dương, đặt quốc hiệu là Chu. Chỉ 5 tháng sau Tam Quế già yếu mắc bệnh qua đời. Cháu Tam Quế là Ngô Thế Phan kế vị.

Năm 1680, Khang Hi điều 3 cánh quân tấn công Vân Nam. Ngô Thế Phan thất bại liên tiếp, quân Thanh chiếm được Côn Minh. Thế Phan bị dồn vào đường cùng, phải uống thuốc độc tự sát. Sang năm 1681, Khang Hi hoàn toàn dẹp được Vân Nam, chấm dứt loạn Tam phiên.

Chiếm Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dẹp xong Tam vương, Khang Hi tính tới việc thu hồi Đài Loan bị dòng họ Trịnh Thành Công chiếm trong nhiều năm.

Cha Thành Công là Trịnh Chi Long đã hàng nhà Thanh nhưng Thành Công vẫn một lòng thờ nhà Minh, không thần phục nhà Thanh. Năm 1662, Trịnh Thành Công được sự giúp sức của Hà Đình Bân (phiên dịch cho người Hà Lan), đánh đuổi người Hà Lan trên đảo, chiếm toàn bộ Đài Loan.

Sau khi Trịnh Thành Công chết, họ Trịnh truyền 3 thế hệ qua Trịnh Kinh tới Trịnh Khắc Xương vẫn giữ Đài Loan. Theo đề nghị của Tổng đốc Phúc Kiến là Diêu Khải Thánh, Khang Hi quyết định tấn công Đài Loan nhân có tranh chấp trong nội tộc họ Trịnh. Ông sai Diêu Khải Thánh đánh Đài Loan. Khải Thánh thi hành chính sách vừa đánh vừa dụ của Khang Hi, kết quả dụ được 13 vạn dân Đài Loan quy phục[10].

Theo sự tiến cử của Diêu Khải Thánh, Khang Hi bất chấp sự phản đối của nhiều người, sai thủ hạ cũ của Trịnh Thành Công là Thi Lang làm đề đốc thủy sư Phúc Kiến phụ trách việc đánh Đài Loan. Nhưng sau khi nhận chức, Thi Lang lại bất đồng quan điểm với Diêu Khải Thánh về việc tiến quân. Khang Hi cho Thi Lang toàn quyền quyết định việc chiến dịch đánh Đài Loan. Mùa hè năm 1683, Thi Lang ra quân một trận đánh bại quân chủ lực họ Trịnh, chiếm được Bành Hồ. Thế cùng, tháng 8 năm đó họ Trịnh xin đầu hàng.

Theo đề nghị của Thi Lang, Khang Hi xóa bỏ chủ trương bỏ Đài Loan để trao cho người Hà Lan. Ông điều quân và dân tới sống tại đảo, xây dựng các huyện Phượng Sơn, Đài Loan, Chư La trên đảo trở thành đơn vị hành chính của Trung Quốc.

Xung đột biên giới phía bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với nước Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc Khang Hi còn phải đánh dẹp trong nước thì quân Nga liên tiếp tấn công vùng Hắc Long Giang của Trung Quốc. Sa hoàng còn xây dựng căn cứ Yaksa để dễ bề tấn công Trung Quốc.

Đầu năm 1682, Hoàng đế Khang Hi lên biên giới xem xét tình hình để tổ chức kháng cự. Vào năm 1683, ông bổ nhiệm Tát Bố Tố làm tướng quân Hắc Long Giang tới Ái Huy triển khai phòng ngự.

Vào năm 1685, ông sai đô đốc Bành Xuân và Tát Bố Tố chia hai đường thủy bộ tấn công Yaksa, hạ được thành này và rút về Ái Huy.

Quân Nga điều đại bác từ kinh thành Moskva tới, kéo thêm viện binh từ Nerchinsk tấn công trở lại. Khang Hi lại sai Tát Bố Tố tấn công Yaksa lần thứ 2 vào năm 1686. Sau 3 tháng giao tranh ác liệt, cuối cùng hai bên đều cầm cự. Tới năm 1689, hai bên ký kết hòa ước Nerchinsk xác định biên giới 2 nước. Hòa ước này đảm bảo hòa bình cho biên giới Nga – Trung trong hơn 100 năm[11][12].

Chiến tranh với người Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Một mặt tấn công chính diện, mặt khác Sa hoàng còn giúp cho các tộc Mông Cổ phía bắc tấn công nhà Thanh. Do Sa hoàng ủng hộ, Cát Nhĩ Đan ngày càng lớn mạnh, thống nhất các bộ lạc Mông và năm 1690 mang quân tấn công vào Nội Mông, chỉ còn cách Bắc Kinh 90 km.

Khang Hi bèn thân chinh đi đánh Cát Nhĩ Đan, bất chấp sự phản đối của nhiều đại thần muốn cầu hòa. Hai bên giao chiến ác liệt tại Ô Lan Bố Thông. Cát Nhĩ Đan bố trí phòng thủ "thành lạc đà", dùng hàng ngàn con lạc đà trói chân nằm dưới đất, trên lưng xếp đầy hòm gỗ đựng chăn đệm ướt tạo ra bức thành dài[13]. Nhưng sau đó thành lạc đà bị quân Thanh dùng đại bác bắn vỡ. Cát Nhĩ Đan phải phá vây bỏ chạy.

Năm 1696, Cát Nhĩ Đan lại liên kết với Sa hoàng, mang 3 vạn quân[13] tấn công Trung Quốc lần thứ 2. Khang Hi lại thân chinh mang 10 vạn quân[13] đi đánh, chia làm 3 cánh: Tát Bố Tố phía đông, Phí Dương Cổ chỉ huy phía tây và ông tự mình đi trung quân. Kết quả quân Thanh thắng trận, đuổi được Cát Nhĩ Đan.

Sang năm 1697, Cát Nhĩ Đan tấn công lần thứ 3. Khang Hi lại phải thân chinh một lần nữa. Lần này Cát Nhĩ Đan thất bại nặng, phải chạy về căn cứ Y Lợi, nhưng Y Lợi đã bị cháu là Sách Vọng A Na Bố Đan làm phản chiếm giữ. Cát Nhĩ Đan định chạy sang Tây Tạng nhưng đường đi bị quân Thanh ngăn trở. Nhiều thủ hạ đầu hàng quân Thanh, Cát Nhĩ Đan bèn tự vẫn chết trong tuyệt vọng[13][14].

Sau này Sách Vọng A Na Bố Đan lại mang quân chiếm Tây Tạng. Năm 1720 Khang Hi điều binh đánh đuổi Sách Vọng, hộ tống Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 về Tây Tạng. Từ đó nhà Thanh cử sứ thần và quân sĩ tới chiếm lĩnh vùng Tây Tạng[15]. Từ năm 1722, Khang Hi phái quân tiến vào Urumqi, mở đầu việc chiếm giữ Tân Cương sau này[4].

Xây dựng đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Khang Hi cai trị, lãnh thổ Trung Quốc phía đông giáp biển, phía nam giáp Đại Việt, phía tây vượt Thông Lãnh, phía bắc đến Siberi. Từ trước đến thời Khang Hi, Trung Quốc chưa từng có thời kỳ nào lãnh thổ rộng lớn, thống nhất, đa sắc tộc và được quản lý hiệu quả, lâu dài như vậy[4].

Chế độ quan lại[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất quốc gia, Khang Hi bắt tay vào chỉnh đốn bộ máy quan lại. Ông thực thi thưởng phạt nghiêm minh, chiêu nạp nhân tài trong toàn quốc để thu dụng[14].

Khang Hi luôn dậy sớm từ 3 giờ sáng làm việc[16]. Ông không hài lòng về tình trạng quan lại tham ô, ức hiếp dân chúng. Trong những lần đi tuần thú, ông được các quan lại địa phương dâng mỹ nữ nhưng ông kiên quyết từ chối và còn trách phạt viên quan đó. Điều này được xem là hiếm có trong các vị vua Trung Quốc[16].

Ông rất chú trọng chỉnh đốn bộ máy chính quyền. Ông nghiêm trị những viên quan đục khoét dân như Tuần phủ Sơn Tây là Mục Nhĩ Trại, Tổng đốc Hồ Quảng là Sái Dục Vinh, Tri phủ Thái Nguyên là Triệu Phương Chiếu, Tổng đốc Lưỡng Giang là Cát Lễ giáng chức nhiều người có tội khác. Nhiều vị quan thanh liêm được ông cất nhắc[14][17].

Phát triển kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm tăng cường kiểm soát Giang Nam sau khi dẹp loạn Tam phiên, từ năm 1684 Khang Hi nhiều lần đi tuần thú vùng này. Việc đi tuần thú của Khang Hi góp phần ổn định xã hội Giang Nam và thúc đẩy kinh tế nơi đây phát triển.

  • Xóa bỏ chế độ khoanh đất sản xuất: Năm 1669, Khang Hi hạ lệnh xóa bỏ chế độ khoanh đất sản xuất theo kiểu nông nô, song bị Ngao Bái ngăn trở nên không thực thi được hiệu quả. Năm 1685, ông cho thi hành lệnh này một lần nữa, nhờ vậy đất đai được trả về tay nông dân[14].
  • Xây dựng các công trình thủy lợi: công trình thủy lợi nổi bật nhất thời Khang Hi là đê sông Hoàng Hà. Ông đã dồn tâm huyết suốt 30 năm để trị thủy dòng sông này. Ban đầu ông sai đại thần Cận Phụ vốn nổi tiếng về nghề nông lo việc này. Sau khi Cận Phụ mất, ông trực tiếp tham gia vào việc này[18]. Trong 6 lần ông đi tuần sát xuống phía nam, lần nào cũng quan tâm tới thủy lợi sông Hoàng Hà. Việc làm thủy lợi sông Hoàng Hà đảm bảo sự thông suốt của Đại Vận Hà (kênh đào lớn từ thời Tùy), giúp vận chuyển hàng triệu tấn lương thực trong nước.
  • Khuyến khích khẩn hoang: Khang Hi cho thi hành chính sách khuyến khích khai khẩn, ai có công khai khẩn thì được hưởng. Ông yêu cầu các quan lại phải thực thi, trong 5 năm phải khẩn hoang hết vùng đất do mình cai trị[18]. Ông ra lệnh kêu gọi lưu dân tham gia sản xuất nông nghiệp, bất kể ai dù là người bản địa hay di cư đều xếp vào Bảo, Giáp để tham gia khẩn hoang. Lưu dân tham gia khẩn hoang được sở hữu một phần đất đai, do đó họ được đảm bảo chỗ ở và nguồn kiếm sống. Nhờ chính sách này, sản lượng lương thực trong nước tăng từ 527 vạn tấn lên 581 vạn tấn[14].
  • Giảm nhẹ thuế khóa: Thấy rõ bài học mất nước của triều Minh do chính sách thuế khóa nặng nề, ông cho thi hành cải cách thuế. Trong thời gian làm vua, ông dã cho 3 lần miễn thuế cho các địa phương, miễn thu lương thực 2 lần cho phía nam[19]. Khi có mất mùa hoặc có chiến tranh, ông đều hạ lệnh giảm thu tiền mặt và thu lương thực. Trước đây, thuế thu theo đầu người ("đinh ngân"), nhiều người không đủ tiền nộp. Năm 1712, ông tuyên bố lấy năm trước (1711) làm năm chuẩn để tính số đinh toàn quốc, về sau nếu số đinh gia tăng cũng không phải nộp thêm. Việc này gọi là "thịnh thế tư đinh, vĩnh bất gia phú" (Thêm tráng đinh thời thịnh, mãi không tăng thuế). Chính sách này làm giảm gánh nặng cho dân, góp phần ổn định xã hội.

Cùng nhiều đóng góp tích cực, Khang Hi vẫn còn hạn chế về việc duy trì lợi ích thái quá cho những người quý tộc Mãn châu[20].

Với vấn đề văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Khang Hi cũng rất chú trọng tới văn hóa. Ham học từ nhỏ, Khang Hi tiếp tục học tập suốt đời. Ông rất quan tâm tới truyền thống văn hóa cổ xưa của người Hán, đã học qua các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Sử ký, Hán thư, Tư trị thông giám... Ông biết cách dùng văn hóa Hán để tận dụng tài năng của các tri thức người Hán giúp việc trong bộ máy chính quyền[4].

Khang Hi xem những tư tưởng cơ bản của Nho giáo như Tam cương ngũ thường, trung hiếu tiết nghĩa là nền tảng trị quốc. Việc áp dụng mạnh tư tưởng đó là một nguyên nhân giúp ông thống nhất quốc gia, khiến mâu thuẫn dân tộc tương đối hòa dịu[4]. Ngoài việc giữ thông lệ khoa cử cũ, ông còn mở ra chế độ khoa cử mới, có tên là "bác học hồng từ khoa". Ông cũng thu hút những nhân tài cũ của nhà Minh vào bộ máy[16].

Năm 1716, ông ban lệnh soạn bộ Khang Hi tự điển gồm 42 quyển, 47.035 chữ Hán, có giá trị rất lớn[15]. Bên cạnh đó, ông còn ra lệnh soạn "Toàn Đường thi", "Bội văn vận phủ". Ông tổ chức đo đạc trên toàn quốc và ban hành cuốn bản đồ "Hoàng dư toàn lãm đồ".

Khác với triều đình nhà Minh và các đời vua Thanh đầu tiên luôn cảnh giác với người phương Tây, Khang Hi tỏ ra cởi mở tiếp thu những thành tựu văn hóa của họ. Nhà Minh và các vua Thanh trước chỉ lợi dụng các giáo sĩ, cho vào truyền giáo nhằm học cách soạn lịch pháp và chế súng ống, ngoài ra rất dè dặt với lớp người này. Khang Hi tiếp cận sâu hơn với người phương Tây để tiếp nhận nhiều học thuật từ họ trong các lĩnh vực: toán học, y học, địa lý học, thiên văn học[21].

Trong triều đình, ông trọng dụng hai người Tây Dương. Người thứ nhất là Adam Schall von Bell (Thang Nhược Vọng), quốc tịch Đức, Giám đốc Đài thiên văn Bắc Kinh, được Khang Hi gọi là Thông Minh Giáo sư. Người thứ hai là Ferdinan Verbiest (Nam Hoài Nhân), người Bỉ, có khả năng luyện kim, đúc súng. Cả hai đều có những đóng góp lớn lao trong công cuộc bình định Trung Quốc của Khang Hi. Johann Adam Schall von Bell bị nhóm người Dương Quang Tiên vu cáo và bị sát hại. Sau này ông ân hận, giải oan cho giáo sĩ Johann Adam Schall và công khai thừa nhận lịch pháp phương Tây chính xác hơn lịch truyền thống của Trung Quốc[22].

Năm 1713, ông gửi một số thanh niên Trung Quốc sang Pháp du học. Ông biết chơi viôlông, thích sử dụng đồng hồ Tây phương. Khang Hi chân thành học hỏi các giáo sĩ phương Tây về các ngành kỷ hà học, thiên văn học. Ông tổ chức cho các nhà khoa học Trung Hoa và phương Tây cùng hợp tác biên soạn những bộ sách kiến thức hỗn hợp đông – tây về thiên văn học, số học, âm nhạc như Lịch Tượng khảo thành, Số lý tinh uẩn, Luật lữ chính nghĩa… Ông hấp thu tri thức địa đồ học phương Tây để vẽ địa đồ toàn quốc; ông so sánh y học phương Tây và với học thuật Trung Quốc. Ngoài ra ông còn tìm hiểu triết học phương Tây[20].

Hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy có những đóng góp tích cực, Khang Hi cũng có những tì vết đối với văn hóa Trung Hoa đương thời. Nhằm bảo vệ quyền lợi riêng của quý tộc Mãn Thanh, ông đã ra tay đàn áp nhiều trí thức người Hán trong các vụ án văn chương ("văn tự ngục") khi ông cho rằng họ có lời lẽ và câu văn ảnh hưởng tới lợi ích của Đại Thanh, đã xử họ rất nặng[16][23].

Sau này, do có sự can thiệp của Giáo hội Công giáo Rôma vào phương thức truyền giáo của các giáo sĩ khiến Khang Hi bất đồng, ông bèn ra lệnh "bế quan tỏa quốc", cấm họ không được phép truyền giáo tại Trung Quốc nữa[24].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Khang Hi vốn đã lập con lớn Dận Nhưng làm thái tử, song Dận Nhưng đạo đức kém, tính tình xấu xa[25] nên ông liền phế truất. Trước ngôi thái tử bỏ trống, các hoàng tử kéo bè cánh để tranh giành ngôi thừa kế, trong đó những người có ý định tranh ngôi là hoàng tử thứ 4 Dận Chân, hoàng tử thứ 8 Dận Tự, hoàng tử thứ 9 Dận Đường, hoàng tử thứ 14 Dận Đề.

Khang Hi chưa lập ai làm thái tử thì ông qua đời năm 1722 tại Bắc Kinh, hưởng thọ 69 tuổi, ở ngôi 61 năm, là hoàng đế ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc[16][26][27].

Các sử gia ghi nhận có nhiều ghi chép khác nhau về việc qua đời và truyền ngôi của Khang Hi. Có ý kiến cho rằng ông bị hoàng tử thứ tư Dận Chân đầu độc sát hại để lên nối ngôi (tức là vua Ung Chính)[28]. Có ý kiến cho rằng Khang Hi không bị giết; ông vốn có ý định truyền ngôi cho hoàng tử thứ 14 là Dận Để[29] - trong di chiếu ông đã viết "truyền ngôi cho con trai thứ 14". Khi ông qua đời, hoàng tử thứ tư là Dận Chân đã liên kết với Tổng đốc Xuyên Thiểm Niên Canh Nghiêu và Cửu Môn Đề Đốc Long Khoa Đa sửa chữ "thập" (十 - mười) thành chữ "vu" (于 - cho), vì vậy nghĩa di chiếu hiểu là "truyền ngôi cho con trai thứ 4"[30].

Hoàng tử thứ tư Dận Chân lên nối ngôi, tức vua Ung Chính.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiếu Thành Nhân hoàng hậu Hách Xá Lý thị (孝诚仁皇后 赫舍里氏, 1653 – 1674), cháu gái của Sách Ni (索尼), sinh được hai hoàng nam là Thừa Hỗ (mất sớm) và Nhị hoàng tử - Thái tử Dận Nhưng.
  2. Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝昭仁皇后 钮祜禄氏, 1653 - 1678), con gái của Át Tất Long (遏必隆), nghĩa nữ của Ngao Bái (鳌拜).
  3. Hiếu Ý Nhân hoàng hậu Đông Giai thị (孝懿仁皇后 佟佳氏, mất 6189), con gái của Quốc cữu Đông Quốc Duy (佟國維).
  4. Hiếu Cung Nhân hoàng hậu Ô Nhã thị (孝恭仁皇后 乌雅氏, 1660 - 1723), nguyên là Đức phi (德妃). Sinh được ba hoàng nam: Tứ hoàng tử Dận Chân (胤禛), Lục hoàng tử Dận Tộ (胤祚) và Thập Tứ hoàng tử Dận Đề (胤禵).
  5. Khác Huệ Hoàng quý phi Đông Giai thị (悫惠皇贵妃 佟佳氏, 1668–1743), tên thật là Đông Giai Biệt Sở Khắc (佟佳别楚克), em gái ruột của Hiếu Ý Nhân hoàng hậu, được phong làm Quý phi (贵妃). Sau khi Hiếu Thành, Hiếu Chiêu và Hiếu Ý các hoàng hậu đều tạ thế, Đông Quý phi làm chủ hậu cung. Đến thời Ung Chính được tôn làm Hoàng Khảo Hoàng quý phi (皇考皇贵妃), đến thời Càn Long được tôn làm Hoàng Tổ Thọ Kì Hoàng Quý Thái phi (皇祖寿祺皇贵太妃).
  6. Đôn Di Hoàng quý phi Qua Nhĩ Giai thị (惇怡皇贵妃瓜尔佳氏, 1683–1768), nguyên là Hòa phi (和妃). Được Ung Chính tôn làm Hoàng Khảo Quý phi (皇考贵妃), Càn Long tôn làm Hoàng Tổ Ôn Huệ Hoàng Quý Thái phi (皇祖温惠皇贵太妃). Sinh một hoàng nữ (mất sớm).
  7. Kính Mẫn Hoàng quý phi Chương Giai thị (敬敏皇贵妃章佳氏, mất 1699), tên thật là Chương Giai Phúc Ngưng, nguyên là Thứ phi (庶妃), khi chết truy phong Mẫn phi (敏妃). sinh được một hoàng nam là Thập Tam hoàng tử Dận Tường, hai hoàng nữ sau hạ giá lấy Thương Tân và Đa Nhĩ Tể.
  8. Ôn Hy quý phi Nữu Hỗ Lộc thị (温僖贵妃钮祜禄氏), em gái ruột của Hiếu Chiêu Nhân hoàng hậu. Khang Hy năm thứ 20 (1682), tháng 12, tấn phong Quý phi. Khang Hy thứ 33 (1694), ngày 3 tháng 11, Quý phi mất. Sinh được một hoàng nam là Thập hoàng tử Dận Hề, một hoàng nữ chết non.
  9. Thuận Ý Mật phi Vương thị (顺懿密妃 王氏, 1668–1744), Mật tần (密嫔) của Khang Hi, là người Hán. Được Ung Chính tôn làm Hoàng Khảo Mật phi (皇考密妃), Càn Long tôn làm Hoàng Tổ Thuận Ý Mật Thái phi (皇祖順懿密太妃). Sinh được ba hoàng nam: Thập Ngũ hoàng tử Dận Vu, Thập Lục hoàng tử Dận Lộc, Thập Bát hoàng tử Dận Giới. Dận Giới chết yểu lúc lên 8 tuổi.
  10. Thuần Dụ Cần phi Trần thị (纯裕勤妃 陈氏, mất 1754), Cần tần (勤嫔) của Khang Hi, là người Hán. Được Ung Chính tôn làm Hoàng Khảo Cần phi (皇考勤妃), Càn Long tôn làm Hoàng Tổ Thuần Dụ Cần Thái phi (皇祖純裕勤太妃). Sinh một hoàng nam là Thập Thất hoàng tử Dận Lễ.
  11. Vinh phi Mã Giai thị (荣妃 马佳氏, mất 1727), con gái của Viên ngoại lang Cái Sơn. Năm Khang Hi thứ 16, tấn phong làm Vinh tần, đến năm Khang Hi thứ 20 phong làm Vinh phi. Sinh được 5 hoàng nam: Thừa Thụy (mất sớm), Tái Âm Sát Hồn (mất sớm), Trường Hoa (mất sớm), Trường Sinh (mất sớm) và Tam hoàng tử Dận Chỉ; một hoàng nữ: Cố Luân Vinh Hiến công chúa, hạ giá lấy Ô Nhĩ Cổn.
  12. Nghi phi Quách Lạc La thị (宜妃 郭络罗氏, mất 1733), con gái của Tá lĩnh Tam Quan thuộc Chính Lam Kỳ (正藍旗). Năm Khang Hi thứ 16 được phong Nghi tần, đến năm Khang Hi thứ 22 được phong Nghi phi. Là phi tần được sủng ái nhất của Khang Hi, ỷ sủng sinh kiêu. Sinh ba hoàng nam: Ngũ hoàng tử Dận Kì, Cửu hoàng tử Dận Đường và Thập Nhất hoàng tử Dận Tư.
  13. Huệ phi Nạp Lạt thị (惠妃 那拉氏, mất 1732), con gái của Lang trung Tác Nhĩ Hòa (索爾和), đầu tiên được phong làm Thứ phi (庶妃). Năm Khang Hi thứ 16, được phong Huệ tần (惠嬪), đến năm Khang Hi thứ 20 được phong Huệ phi. Sinh được hai hoàng nam: Thừa Khánh (mất sớm) và Đại hoàng tử Dận Thì.
  14. Lương phi Vệ thị (良妃 卫氏, mất 1711), cung nhân của Tân giả khố, năm Khang Hi thứ 39 phong làm Lương tần (良嬪), không lâu sau thăng lên Lương phi. Sinh một hoàng nam: Bát hoàng tử Dận Tự.
  15. Thành phi Đái Giai thị (成妃 戴佳氏, mất 1740), tức Thành tần, tên thật là Đái Giai Kim Huyên. Sinh một hoàng nam: Thất hoàng tử Dậu Hựu.
  16. Tuyên phi Bác Nhĩ Tể Cát Đặc thị (宣妃 博尔济吉特氏, mất 1736), là người Mông Cổ, cháu gái của Điệu phi của Thuận Trị.
  17. Định phi Vạn Lưu Ha thị (定妃 万琉哈氏, 1661–1757), tên thật là Vạn Lưu Ha A Linh Bảo, con gái của Tha Nhĩ Bật. Định tần của Khang Hi, được Ung Chính tôn làm Hoàng Khảo Định phi (皇考定妃), là phi tử sống thọ nhất trong số các phi tần của Khang Hi. Sinh một hoàng nam: Thập Nhị hoàng tử Dận Đào.
  18. Bình phi Hách Xá Lý thị (平妃 赫舍里氏, mất 1696), em gái của Hiếu Thành Nhân hoàng hậu. Sinh một hoàng nam nhưng mất sớm.
  19. Tuệ phi Bát Nhĩ Tể Cát Đặc thị (慧妃 博尔济吉特氏, mất 1670), con gái của Khoa Nhĩ Thẩm Tam đẳng Thai Cát A Úc Tích (台吉阿郁錫).
  20. An tần Lý thị (安嬪李氏), An Quý nhân của Khang Hi, được Ung Chính tôn làm Hoàng Khảo An tần.
  21. Kính tần Chương Giai thị (敬嬪章佳氏).
  22. Đoan tần Đổng thị (端嬪董氏).
  23. Hy tần Hách Xá Lý thị (僖嫔赫舍里氏).
  24. Thông tần Nạp Lạt thị (通嫔纳喇氏),
  25. Tương tần Cao thị (襄嫔高氏).
  26. Cẩn tần Sắc Hách Đồ thị (谨嫔色赫图氏).
  27. Tĩnh tần Thạch thị (静嫔石氏).
  28. Hy tần Trần thị (熙嫔陈氏).
  29. Mục tần Trần thị (穆嫔陈氏).
  30. Quý nhân Quách Lạc La thị
  31. Quý nhân Viên thị
  32. Quý nhân Trần thị
  33. Quý nhân Triệu Giai thị
  34. Thứ phi Nữu Hỗ Lộc thị
  35. Thứ phi Trương thị
  36. Thứ phi Lưu thị
  37. Thứ phi Vương thị
  38. Thứ phi Đổng thị

Hoàng nam[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú
Thừa Thụy
承瑞
5/11/1667 10/7/1670 Vinh phi Mất sớm
Thừa Hỗ
承祜
4/1/1670 3/3/1672 Hiếu Thành Nhân hoàng hậu Mất sớm
Thừa Khánh
承慶
21/3/1670 26/5/1671 Huệ phi Mất sớm
Tái Âm Sát Hồn
賽音察渾
24/1/1672 6/3/1674 Vinh phi Mất sớm
1 Dận Đề
胤禔
12/3/1672 7/1/1735 Huệ phi Được phong Trực Quận vương (直郡王) năm 1698;
Bị tước bỏ tước hiệu năm 1708;
Chôn cất theo lễ nghi dành cho Bối tử
Trường Hoa
長華
11/5/1674 12/5/1674 Vinh phi Mất sớm
2 Dận Nhưng
胤礽
6/6/1674 27/1/1725 Hiếu Thành Nhân hoàng hậu Đầu tiên có tên là Bảo Thành (保成);
Được phong Thái tử năm 1675;
Bị phế bỏ tước vị năm 1708;
Tái phong Thái tử năm 1709;
Bị phế bỏ tước vị năm 1712;
Sau khi mất được phong làm Lý Thân vương (理親王), thụy là Mật (密)
Trường Sinh
長生
12/8/1675 27/4/1677 Vinh phi Mất sớm
Vạn Phủ
萬黼
4/12/1675 11/3/1679 Thông tần Nạp Lạt thị Mất sớm
3 Dận Chỉ
胤祉
23/3/1677 10/7/1732 Vinh phi Được phong Thành Quận vương (誠郡王) năm 1698;Thành Thân Vương năm 1709
Bị giáng xuống làm Bối tử năm 1730;
Được phục hiệu sau khi mất, ban cho thụy là Ẩn (隱)
4 Dận Chân
胤禛
13/12/1678 8/10/1735 Hiếu Cung Nhân hoàng hậu Được phong Bối lặc năm 1698, Ung Thân vương (雍親王) năm 1709;
Lên ngôi lấy hiệu là Ung Chính vào ngày 27/11/1722
Dận Tán
胤禶
10/4/1679 30/4/1680 Thông tần Mất sớm
5 Dận Kì
胤祺
5/1/1680 10/7/1732 Nghi phi Được phong Bối lặc năm 1698; Hằng Thân vương (恆親王) năm 1698;
Được ban thụy là Ôn (溫)
6 Dận Tộ
胤祚
5/3/1680 15/6/1685 Hiếu Cung Nhân hoàng hậu Mất sớm
7 Dận Hựu
胤祐
19/8/1680 18/5/1730 Thành phi Được phong Bối lặc năm 1698;
Được phong Bối lặc năm 1698; Thuần Quận vương (淳郡王) năm 1709;
Được phong Thuần Thân vương (淳親王) vào 5/1723;
Được ban thụy là Độ (度)
8 Dận Tự
胤禩
29/3/1681 5/10/1726 Lương phi Được phong Bối lặc năm 1698;Liêm Thân vương (廉親王) năm 1723;
Bị tước bỏ tước hiệu và xóa tên khỏi hoàng gia năm 1726;
Bị buộc phải đổi tên thành Akina (阿其那) ("lợn")
Được phục hiệu sau khi mất năm 1778
Dận Vũ
胤䄔
13/9/1683 17/7/1684 Quý nhân Quách Lạc La thị Mất sớm
9 Dận Đường
胤禟
17/10/1683 22/9/1726 Nghi phi Được phong Bối tử năm 1709;
Bị tước bỏ tước hiệu và xóa tên khỏi hoàng gia năm 1725;
Bị buộc phải đổi tên thành Sesihei (塞思黑) ("chó")
Được phục hiệu sau khi mất năm 1778
10 Dận Ngã
胤䄉
28/11/1683 18/10/1741 Ôn Hy Quý phi Được phong Đôn Quận vương (敦郡王) năm 1709;
Bị tước bỏ tước hiệu năm 1724;
Được phong tước Phụ Quốc CônG (輔國公) năm 1737
Chôn cất theo lễ nghi dành cho Bối tử
11 Dận Tư
胤禌
8/6/1685 22/8/1696 Nghi phi Mất sớm
12 Dận Đào
胤祹
18/1/1686 2/9/1763 Định phi Được phong Bối tử năm 1709; phong Lí Quận Vương năm 1722;giáng xuống Bối tử 1724;phong Lí Quận Vương 1730, phong Lí Thân vương (履親王) năm 1735;
Được ban thụy là Ý (懿)
13 Dận Tường
胤祥
16/11/1686 18/6/1730 Kính Mẫn Hoàng quý phi Được phong Bối Tử năm 1709;bị tước tước vị và giam lỏng năm 1712;được thả và phong Di Thân vương (怡親王) năm 1722;
Là một trong 12 Thiết mạo tử vương của nhà Thanh
14 Dận Đề
胤禵
16/1/1688 13/1/1756 Hiếu Cung Nhân hoàng hậu Tên khai sinh là Dận Trinh (胤禎);
Được phong Bối tử năm 1709; phongTuân Quận vương (恂郡王) năm 1723; giáng làm Trấn Quốc Công rồi thăng Bối tử năm 1725; tước bỏ tước vị và giam lỏng trong Thọ Hoàng Điện năm 1726; được thả và phong Trấn Quốc Công năm 1737; phong Bối lặc năm 1747; tái phong Tuân Quận vương năm 1748
Được ban thụy là Cần (勤)
Dận Ki
胤禨
23/2/1691 30/3/1691 Bình phi Mất sớm
15 Dận Vu
胤禑
24/12/1693 8/3/1731 Thuần Ý Mật phi Được phong Bối lặc năm 1726; phong Du Quận vương (愉郡王) năm 1730;
Được ban thụy là Khác (恪)
16 Dận Lộc
胤祿
28/7/1695 20/3/1767 Thuần Ý Mật phi Được cho thừa tước của Trang Thân vương Thạc Tái;
Thừa tước Trang Thân vương (莊親王) năm 1723;
Được ban thụy là Khác (恪)
17 Dận Lễ
胤禮
24/3/1697 21/3/1738 Thuần Dụ Cần phi Được phong Quả Quận vương (果郡王) năm 1723;phong Quả Thân Vương năm 1728
Được ban thụy là Nghị (毅)
18 Dận Giới
胤祄
15/5/1701 17/10/1708 Thuần Ý Mật phi Mất vì bệnh sởi tại Tị Thử Sơn Trang
19 Dận Cát
胤禝
25/10/1702 28/3/1704 Tương tần Cao thị Mất sớm
20 Dận Vi
胤禕
1/9/1706 30/6/1755 Tương tần Được phong Bối lặc năm 1726
21 Dận Hi
胤禧
27/2/1711 26/6/1758 Hi tần Trần thị Được phong Bối tử và thăng Bối lặc năm 1730; phong Thận Quận vương (慎郡王) vào 12/1735
Được ban thụy là Cảnh (靖)
22 Dận Hỗ
胤祜
10/1/1712 12/2/1744 Cẩn tần Sắc Hách Đồ thị Được phong Bối lặc năm 1730;
Được ban thụy là Cung Cần (恭勤)
23 Dận Kì
胤祁
14/1/1714 31/8/1785 Tĩnh tần Thạch thị Được phong Bối lặc năm 1730;
Được ban thụy là Thành (誠)
24 Dận Bí
胤祕
5/7/1716 3/12/1773 Mục tần Trần thị Được phong Hàm Thân vương (諴親王) năm 1733;
Được ban thụy là Khác (恪)
Dận Viên
胤禐
2/3/1718 2/3/1718 Quý nhân Trần thị Mất sớm ngay sau khi sinh

Hoàng nữ[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Sinh Mất Hạ giá Hôn phu Hậu duệ Mẫu thân
1 Hoà Thạc Uyển Nghi công chúa 23/12/1668 11/1671 Thứ phi Trương thị
2 Hoà Thạc Trinh Thuần công chúa 17/4/1671 8/1/1674 Thứ phi Đổng thị
3 Cố Luân Vinh Hiến Công chúa
固倫榮憲公主
20/6/1673 29/5/1728 7/1691 Bác Nhĩ Tế Cát Đặc Ô Nhĩ Cổn của Ba Lâm bộ
博爾濟吉特烏爾袞
Vinh phi
4 Hoà Thạc Uyển Trang công chúa 16/3/1674 1678 Thứ phi Trương thị
5 Hòa Thạc Đoan Tĩnh Công chúa
和碩端靜公主
9/6/1674 4/1710 11 hoặc 12/1692 Ô Lương Hãn Cát Nhĩ Tang
烏梁罕噶爾臧
Quý nhân Triệu Giai thị
6 Cố Luân Khác Tĩnh Công chúa
固倫恪靖公主
4/7/1679 1735 1697 Khách Nhĩ Khách Quận vương Bác Nhĩ Tể Cát Đặc Đôn Đa Bố Đa Nhĩ Tể
博尔济吉特氏喀尔喀郡王敦多布多尔济
Quý nhân Quách Lạc La thị
7 Cố Luân Thục Trang công chúa 5/7/1682 9/1682 Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
8 Hoàng bát nữ 13/7/1683 cuối 7 hoặc đầu 8/1683 Hiếu Ý Nhân hoàng hậu
9 Cố Luân Ôn Hiến Công chúa
固倫溫憲公主
10/11/1683 8 hoặc 9/1702 10 hoặc 11/1700 Đông Giai Thuấn An Nhan
佟佳舜安顏
Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
10 Cố Luân Thuần Khác Công chúa
固倫純愨公主
20/3/1685 1710 1706 Bác Nhĩ Tể Cát Đặc Sách Lăng
博爾濟吉特策棱
Bác Nhĩ Tể Cát Đặc Thành Cổn Trát Bố
博爾濟吉特成袞札布
Thông tần
11 Hoà Thạc Kính Tuệ công chúa 24/10/1685 6 hoặc 7/1686 Ôn Hy quý phi
12 Cố Luân Bình Hiển công chúa 14/6/1686 cuối 2 hoặc 3/1697 Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
13 Hòa Thạc Ôn Khác Công chúa
和碩溫恪公主
1/1/1688 7 hoặc 8/1709 1706 Bác Nhĩ Tể Cát Đặc Thương Tân
博爾濟吉特倉津
Kính Mẫn Hoàng quý phi
14 Hòa Thạc Khác Tĩnh Công chúa
和碩愨靖公主
16/1/1690 1736 1706 Nhất đẳng nam Tôn Thừa Vận
一等男孫承運
Quý nhân Viên thị
15 Hòa Thạc Đôn Khác Công chúa
和碩敦恪公主
3/2/1691 1/1710 1 hoặc 2/1709 Bác Nhĩ Tể Cát Đặc "Thai Cát" Đa Nhĩ Tể
博爾濟吉特台吉多爾濟
Kính Mẫn Hoàng quý phi
16 Hoà Thạc Anh Duệ công chúa 27/11/1695 10 hoặc 11/1707 Thứ phi Vương thị
17 Hoà Thạc Ngọc Lễ công chúa 12/1/1699 12/1700 Thứ phi Lưu thị
18 Cố Luân Hiểu Minh công chúa 17/11/1701 Đôn Di Hoàng quý phi
19 Hoà Thạc Đoan Ý công chúa 30/3/1703 cuối 2 hoặc 3/1705 Tương tần Cao thị
20 Hoàng nhị thập nữ 20/11/1708 1 hoặc đầu 2/1709 Thứ phi Nữu Hỗ Lộc thị
Dưỡng trưởng nữ Cố Luân Thuần Hi Công chúa 1671 1741 Con gái trưởng của Cung Thân vương Thường Trữ - em trai của Thanh Thánh Tổ, và Thứ phúc tấn Tấn thị

Trong tiểu thuyết võ hiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Kí của nhà văn Kim Dung viết năm 1972, Khang Hi đã được xây dựng là một hoàng đế kiệt xuất, văn võ song toàn bên cạnh nhân vật hư cấu Vi Tiểu Bảo. Tuy nhiên tác phẩm cũng có những chi tiết thực như diệt trừ Ngao Bái, chiến tranh với Nga, Mông Cổ.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đương thời, một giáo sĩ người phương Tây từng làm việc cạnh Khang Hi mô tả ông như sau[31]:

Hoàng đế là người tầm thước, hiền từ, chín chắn, cử chỉ đoan trang. Ông có vẻ bề ngoài uy nghiêm bất kể nhìn từ phương diện nào… Ông là người … hiểu biết rất nhiều lĩnh vực khoa học, hàng ngày đều dốc sức tìm tòi nghiên cứu, lại phải giải quyết công việc trong nước, vì thế buổi sáng và buổi tối ông đều định ra một thời gian nhất định để học tập

Khang Hi là vị vua thông minh, tài hoa, cẩn thận, cần cù, sống giản dị, tính tình khoan hòa, nhưng can đảm và cầm quân giỏi. Hàng ngày, ông thường tự tay xử lý 300-400 bản tấu, sớ, nhiều đêm làm việc tới tận canh ba[32]. Các sử gia Trung Hoa ví ông với Đường Thái Tông, còn các học giả phương Tây cho rằng triều đại ông rực rỡ như triều Sa hoàng Pyotr Đại đế (1682 - 1725) của nước Nga dưới Vương triều Romanovvua Louis XIV (16381715) của nước Pháp dưới vương triều Bourbon đương thời[6].

Dù còn một số hạn chế, Khang Hi được đánh giá là vị hoàng đế có nhiều thành tích chính trị và có nhiều ảnh hưởng trong lịch sử vương triều Thanh[33]. Dưới thời cai trị của Khang Hi, vương triều Thanh mới thành lập đi vào con đường cường thịnh. Thời kỳ ông cai trị có cả thành tích văn và võ, củng cố cơ sở thống trị cho nhà Thanh một cách vững chắc. Ông đã để lại sự khai sáng cho đường lối cai trị đất nước vững vàng sang thế kỷ 18 cho người cháu nội là Càn Long, được các sử gia gọi là "Khang Càn thịnh thế"[34].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh (2011), Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, NXB Văn hóa thông tin
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suycủa các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 3, NXB Văn hóa thông tin
  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, NXB Đà Nẵng
  • Tiêu Lê, Mã Ngọc Chu, Lã Diên Đào (2004), 100 người đàn ông có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gia
  • Jonathan, Spence. Emperor of China: Self-Portrait of K'ang-hsi. Jonathan Cape (1974) ISBN 0-224-00940-0

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schirokauer, Conrad. A Brief History of Chinese Civilization(Thompson Wadsworth, 2006), tr. 234-235.
  2. ^ Ông có thể được xem là hoàng đế thứ tư của nhà Thanh, tính từ người đặt nền móng cho nhà Thanh là Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người xưng Hãn vương nhưng được tôn hiệu Hoàng đế sau khi chết, trên thực tế chưa giữ ngôi vị Hoàng đế một ngày nào.
  3. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 609
  4. ^ a ă â b c Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 390
  5. ^ a ă Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 473
  6. ^ a ă Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 384
  7. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 537
  8. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 389
  9. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 476
  10. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 612
  11. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 613
  12. ^ Năm 1858, lợi dụng nhà Thanh suy yếu, quân Nga quay lại và chiếm giữ vùng này cho tới nay, hiện là Nertohinska của Nga
  13. ^ a ă â b Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 480
  14. ^ a ă â b c Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 614
  15. ^ a ă Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 481
  16. ^ a ă â b c Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 615
  17. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 388
  18. ^ a ă Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 386
  19. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 387
  20. ^ a ă Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 392
  21. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 535-537
  22. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 391
  23. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 482
  24. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 391-392
  25. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 593
  26. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 472
  27. ^ Tiêu Lê, Mã Ngọc Chu, Lã Diên Đào, sách đã dẫn, tr 479. Các nhà nghiên cứu thống nhất theo quan điểm không tính các vị vua truyền thuyết như Hoàng Đế, Chuyên Húc, Nghiêu, Thuấn
  28. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 586
  29. ^ Theo Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 587: tên gọi của 2 anh em theo âm và cả chữ trong tiếng Hán đều rất giống nhau
  30. ^ Thương Thánh, sách đã dẫn, tr 616
  31. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 581-582
  32. ^ Tiêu Lê, Mã Ngọc Chu, Lã Diên Đào, sách đã dẫn, tr 481
  33. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 383
  34. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 384-385

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]