Minh Tư Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Tư Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Ming Chongzhen.jpg
Chân dung của Sùng Trinh đế.
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 2 tháng 10 năm 162725 tháng 4 năm 1644
(&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000206.000000206 ngày)
Tiền nhiệm Minh Hy Tông
Kế nhiệm Minh An Tông
Thông tin chung
Tên húy Chu Do Kiểm
Niên hiệu Sùng Trinh: 5/2/162825/4/1644
(&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000080.00000080 ngày)
Thụy hiệu Trang Liệt đế
Trang Liệt Mẫn hoàng đế
莊烈愍皇帝
Miếu hiệu Tư Tông (思宗)[1]
Thân phụ Minh Quang Tông
Thân mẫu Lưu thị
Sinh 6 tháng 2, 1611(1611-02-06)[2]
Mất 25 tháng 4, 1644 (33 tuổi)
An táng Tư Lăng

Minh Tư Tông (chữ Hán: 明思宗) hay Sùng Trinh đế (崇禎帝; 6/2/1611-25/4/1644) có tên là Chu Do Kiểm (朱由檢) được xem là vị vua thứ 17 và cuối cùng của triều đại nhà Minh và ông cũng là vị hoàng đế người Hán cuối cùng cai trị Trung Quốc trước khi triều đình rơi vào tay nhà Thanh của người Mãn Châu. Các sử gia Trung Hoa còn dùng miếu hiệu Minh Nghị Tông để gọi ông. Ông còn được nhà Nam Minh truy thụy khác là Thiệu thiên Dịch đạo Cương minh Khác kiệm Quỹ văn Phấn võ Đôn nhân Mậu hiếu Liệt hoàng đế (紹天繹道剛明恪儉揆文奮武敦仁懋孝烈皇帝). Nhà Thanh tiến vào trung nguyên truy đặt miếu hiệu và thụy hiệu cho ông là Hoài Tông Trang Liệt hoàng đế.[3]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Do Kiểm là con thứ 5 của Minh Quang Tông Chu Thường Lạc và là em cùng cha khác mẹ của Minh Hy Tông Chu Do Hiệu. Ông sinh ngày 24 tháng 12 âm lịch năm Vạn Lịch thứ 38, theo dương lịch là đầu năm 1611. Mẹ ông là Lưu thị không được vua cha sủng ái. Năm 1614 khi ông lên 4 tuổi thì mẹ ông qua đời, ông được giao cho Thị vệ Lý Tuyển dạy dỗ.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1622 lúc 18 tuổi, Chu Do Kiểm được phong làm Tín vương, ở cung Huân Cần. Lúc này ông mới biết ngôi mộ mẹ mình chôn ở Sơn Tây[4].

Năm 1627, vua anh Minh Hy Tông lâm bệnh nặng. Hy Tông không có con trai, vì vậy lúc lâm chung đã di chiếu cho Chu Do Kiểm lên kế vị.

Hai ngày sau khi vua anh qua đời, Chu Do Kiểm lên nối ngôi ở điện Trung Cực, tức là Minh Tư Tông. Ông đổi niên hiệu là Sùng Trinh.

Trừ Ngụy Trung Hiền[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Minh đã sa sút từ thời ông nội Sùng Trinh là Minh Thần Tông[4]. Từ thời Hy Tông, quyền hành trong triều đã lọt vào tay hoạn quan Ngụy Trung Hiền - đứng đầu Đông xưởng. Trung Hiền câu kết với nhũ mẫu của Hy Tông là Khách thị lũng đoạn triều chính.

Minh Tư Tông vừa lên ngôi, trong nội bộ thế lực Ngụy Trung Hiền có rạn nứt. Ngự sử Dương Duy Hoàn có thù với Thôi Trình Tú là người cầm đầu quân sĩ dưới quyền Trung Hiền, bèn tố cáo Trình Tú. Vua Sùng Trinh bèn cách chức Thôi Trình Tú đuổi về quê.

Tiếp sau đó có thư tố cáo 10 tội trạng của Ngụy Trung Hiền như dám sánh ngang với hoàng đế, mưu hại hoàng hậu và tự luyện quân trong cung… Sùng Trinh lập tức triệu Ngụy Trung Hiền vào cung. Trung Hiền sợ hãi sai bèn mang của quý biếu Từ Ứng Nguyên là người từng hầu hạ Sùng Trinh khi làm Tín vương.

Nhờ sự biện bạch của Ứng Nguyên, Sùng Trinh giảm tội cho Trung Hiền, hạ lệnh đi Phượng Dương trông coi mộ tổ vua nhà Minh. Trung Hiền lên đường mang theo các tùy tùng. Sùng Trinh sợ Trung Hiền mang theo nhiều người sẽ làm loạn, bèn sai Cẩm y vệ đuổi theo bắt lại. Trung Hiền đi đến Phụ Thành[5], được tin bị truy đuổi, biết không thoát nên thắt cổ tự vẫn.

Sau khi Ngụy Trung Hiền chết, Sùng Trinh sai người đến bắt Khách thị, bắt giết hết gia quyến họ Ngụy và họ Khách. Những người cùng cánh với Ngụy, Khách cũng bị xử tội như Ngụy Lương Phụ, Thôi Trình Tú, Lưu Chí Viễn, Ngụy Quảng Vi, Lý Thực, Cố Bình Nghiêm… Ngụy Trung Hiền đã chết vẫn bị mang phanh thây xé xác vào đầu năm 1628[6].

Đồng thời, Sùng Trinh còn hạ lệnh dỡ bỏ hết các từ đường do Ngụy Trung Hiền xây dựng ở các địa phương và khôi phục lại danh dự cho đảng Đông Lâm đối địch với họ Ngụy và bị hại trước đây. Việc thanh trừng nhanh chóng phe Ngụy, Khách của vua Sùng Trinh khiến nhiều người khâm phục[7].

Chính sách cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Để khắc phục những tệ nạn xảy ra từ các đời vua trước, Minh Tư Tông có ý định thực hiện cải cách, quy hoạch nhân sự mới, đốc thúc bộ máy vận hành. Ông chăm chú việc triều chính, thức khuya dậy sớm, tự mình xem văn bản vì sợ các quan lại sao nhãng không tâu báo hết[8]. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách của Sùng Trinh không mang lại hiệu quả.

Trọng dụng hoạn quan[sửa | sửa mã nguồn]

Để xây dựng đội ngũ nhân sự mới, Sùng Trinh không tự mình lựa chọn bổ nhiệm đại thần, cũng không nghe theo sự tiến cử của mọi người mà dùng cách bốc thăm: Ông tập hợp bá quan vào cung Càn Thanh, sai ghi họ tên từng người bỏ vào trong bình vàng, rồi vái lạy trời xanh phù hộ và dùng đũa gắp thăm[9]. Kết quả lần đó Tiền Long Tích, Lý Tiêu, Lại Tông Đạo, Dương Cảnh Thìn, Chu Đạo Đăng, Lưu Hồng Huấn trúng thăm và được cất nhắc.

Tuy nhiên, những người này đều vốn có quan hệ rất sâu với cánh Ngụy Trung Hiền trước đây nên ý tưởng rất khác với Minh Tư Tông. Điều đó khiến Tư Tông không bằng lòng và bãi chức họ[10], rồi bổ nhiệm những người trong đảng Đông Lâm đối nghịch Đông Xưởng như Hàn Khoáng, Thành Cơ Mệnh, Chu Diên Nho, Hà Như Sủng, Tiền Tượng Khôn... Nhưng sang năm 1630 những người này đều bị bãi chức nốt vì vụ án Viên Sùng Hoán.

Tuy vừa thanh trừng hoạn quan Ngụy Trung Hiền nhưng chỉ 1 năm sau Sùng Trinh lại lập tức trọng dụng lực lượng hoạn quan khác trong triều mà không có bố trí nhân sự xứng đáng[11].

Việc sử dụng hoạn quan ngày càng có quy mô lớn. Tới tháng 4 năm 1631, Sùng Trinh khôi phục lại chế độ giám quân do các thái giám đảm nhiệm, ở biên giới gọi là giám thị, trong các trấn nội địa thì gọi là giám quân. Các thái giám này có quyền hành rất lớn, được tham gia việc quân và được Sùng Trinh sử dụng làm mật thám trong quân đội[12].

Không chỉ khống chế quân sự, hoạn quan còn được trọng dụng vào việc kinh tế của đất nước. Hoạn quan Trương Di Hiến được giám sát việc chi thu của Bộ Công và Bộ Hộ, có đặc quyền ngang với Tổng đốc, được xây riêng nha môn gọi là Tổng lý Hộ Công, đứng trên 2 vị Thượng thư 2 bộ này[12].

Các quan lại trong triều đều bị hoạn quan theo dõi dò xét. Việc trọng dụng hoạn quan của Sùng Trinh bị một số đại thần như Cao Biêu, Ngụy Trình Nhuận, Cao Hoằng Đỗ phản đối, nhưng Sùng Trinh không nghe theo và cách chức những người phản đối. Đông Xưởng lại khôi phục quyền lực như khi Ngụy Trung Hiền còn sống. Năm 1640 Sùng Trinh nghe theo lời gièm của Đông Xưởng giết chết Thượng thư Bộ Hộ là Tôn Cư Tương.

Đời sống xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Minh từ thời Minh Thần Tông đã có nhiều biểu hiện suy yếu. Các quý tộc, đại thần cùng nhau tích trữ của cải làm giàu, bóc lột dân chúng, Sùng Trinh không có biện pháp nào cải thiện được. Chi dùng của hoàng gia mỗi năm là hơn 1 triệu lạng bạc trắng[13]. Thuế thu ngày càng cao khiến nhân dân cơ cực, nhiều nơi bị đói kém, phải tha hương, ăn thịt lẫn nhau[14]. Quan lại địa phương không có cách cứu tế lại tăng cường trưng thu thuế khiến dân chúng không chịu nổi, nhiều nơi nổi dậy chống triều đình.

Sùng Trinh đứng trước tình hình đó không ra biện pháp khắc phục. Trước những đề nghị tiếp tế cho những nơi bị đói, Sùng Trinh thẳng thừng từ chối[15].

Sau đó ông lại ra lệnh bỏ các dịch trạm, mà người làm việc ở đây vốn là những sĩ tốt lương bổng thấp và nông dân nghèo. Các trạm dịch bị giải thể khiến hàng vạn dịch tốt không còn đường sống, cũng nổi dậy chống triều đình khiến phong trào nông dân ngày càng mạnh[16].

Để trấn áp các cuộc khởi nghĩa, Sùng Trinh cần có tiền, do đó lại ra lệnh tăng thêm thuế. Tháng 12 năm 1629, lệnh tăng thêm mỗi mẫu 3 li, ban đầu công bố chỉ thực hiện trong 1 năm nhưng sau đó lại cho thực hiện dài hạn, thu được thêm 2,8 triệu lượng. Sang năm 1639 tăng thuế lần thứ 2 thu được 16,7 triệu lượng, tới năm 1640 lại tăng lần thứ 3 thu được 16,9 triệu lượng[17].

Từ khi lên ngôi, Minh Tư Tông luôn tự nhận mình nghèo nhưng trong kho tàng riêng (nội noa) của ông luôn chứa số lượng lớn vàng bạc châu báu. Sự tham lam của Sùng Trinh và các vương hầu được các sử gia đánh giá là “xem tiền tài hơn mạng sống”[15][18].

Đối phó với Hậu Kim và khởi nghĩa nông dân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Sùng Trinh tại vị phải đối phó với 2 nguy cơ lớn về quân sự: sự uy hiếp của chính quyền Hậu Kim của người Nữ Chân nổi lên từ thời Minh Thần Tông và các cuộc nổi dậy của nông dân như Bạch Thủy, Vương Nhị, Cao Nghênh Tường, Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung… Nguyên do các cuộc khởi nghĩa nông dân vì đời sống khổ cực, mất mùa đói kém[19].

Cách chức Dương Hạc, dùng Hồng Thừa Trù[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phía Tây Bắc, Sùng Trinh theo đề nghị của Vương Tượng Cán thường dùng biện pháp vỗ về, lấy của cải tặng các bộ tộc này để giữ yên vùng biên giới.

Đối với các cuộc khởi binh của nông dân, Sùng Trinh theo kế của Dương Hạc, sai đi phát chẩn lương thực và phủ dụ. Tại vùng Thiểm Tây, Dương Hạc phủ dụ được Thần Nhất Khôi. Nhưng các lực lượng nổi dậy sau đó vẫn không dẹp yên được hoàn toàn mà vẫn chống đối triều đình.

Vì vậy sang năm 1630 Sùng Trinh thấy biện pháp này không hiệu quả bèn cách chức Dương Hạc, sai Hồng Thừa Trù làm tổng đốc quân sự Tam Biên, thống lĩnh các tướng tại đây. Sau chiến thắng ở Tây Hào, Hồng Thừa Trù cơ bản dẹp yên được vùng Thiểm Tây.

Giết Viên Sùng Hoán[sửa | sửa mã nguồn]

Để chống lại quân Hậu Kim đang nổi lên ở phía đông bắc, Sùng Trinh cho trọng dụng lại Viên Sùng Hoán, vốn là đại tướng bị Hy Tông xử phạt. Viên Sùng Hoán được phong làm Thượng thư Bộ Binh, tổng đốc Liêu Đông trấn thủ Sơn Hải quan đánh bại nhiều cuộc tấn công của quân Hậu Kim. Nỗ Nhĩ Cáp Xích không thể tiến vào trung nguyên được, bị trúng đạn của Viên Sùng Hoán, không lâu sau qua đời, con là Hoàng Thái Cực lên thay, tiếp tục cuộc nam chinh.

Trong lúc đó, những người cùng cánh cũ của Ngụy Trung Hiền vu oan Sùng Hoán có ý định làm phản hàng địch khiến Sùng Trinh nghi ngờ.

Năm 1630, Hoàng Thái Cực sau nhiều lần tấn công không được, phải tránh Viên Sùng Hoán, mang 10 vạn quân không đi qua Cẩm châu, Ninh Viễn và Sơn Hải quan mà vòng qua đường Mông Cổ tiến vào Trường Thành, đánh chiếm Tuân Hóa. Viên Sùng Hoán nghe tin vội mang quân về bảo vệ kinh thành, kịp thời tới Thông châu trước quân Hậu Kim, đánh lui Hậu Kim ở Quảng Cừ Môn.

Hoàng Thái Cực thấy Viên Sùng Hoán bất ngờ xuất hiện ở Thông châu rất kinh ngạc, bèn dùng kế phản gián, phao tin Sùng Hoán thả lỏng khiến quân Hậu Kim mới tiến được tới Bắc Kinh và mình đã hẹn với Viên Sùng Hoán kết liên minh dưới chân thành. Hoàng Thái Cực cố ý nói lộ việc này ra ngoài, rồi thả cho một tù binh là hoạn quan họ Dương trốn thoát về. Viên hoạn quan trở về liền báo cho Sùng Trinh biết. Hoàng Thái Cực còn cho viết văn bản mật ước rải ra ngoài thành Bắc Kinh.

Sùng Trinh nghe tin cho là thật, bèn hạ lệnh cho Cẩm Y vệ bắt ngay Viên Sùng Hoán giam vào ngục[20]. Sau đó Viên Sùng Hoán bị xử lăng trì tại cầu Cam Thạch. Những người can ngăn đều bị giáng chức. Cái chết của Viên Sùng Hoán khiến cho quân Hậu Kim từ lúc đó ngày càng chiếm thế chủ động chiến trường.

Giết Hùng Văn Xán[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1637, Hùng Văn Xán được phong làm Thượng thư Bộ Binh kiêm Hữu phó đô ngự sử, tổng đốc Hà Nam, Sơn Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên đi trấn áp cuộc khởi nghĩa của Trương Hiến Trung. Hùng Văn Xán có 10 vạn quân, khí thế mạnh mẽ, bao vây nhiều lớp khiến Trương Hiến Trung không chống nổi, phải dâng thư về triều xin đầu hàng.

Sùng Trinh chấp nhận cho Trương Hiến Trung đầu hàng. Hiến Trung mang vài vạn hàng binh đóng ở Bạch Sa châu, cách Cốc Thành (Hồ Bắc) 15 dặm dựng nhà làm ruộng. Nhiều đại thần nghi ngờ Hiến Trung không thực lòng đầu hàng, đề nghị nên phân tán quân sĩ của Hiến Trung đi, nhưng Sùng Trinh không tán thành.

Sang năm 1639, Trương Hiến Trung lại khởi binh phản lại triều đình. Sùng Trinh không nhận lỗi do mình thả lỏng Hiến Trung mà quy lỗi cho Hùng Văn Xán tiếp nhận cho Hiến Trung đầu hàng, sai bắt Văn Xán bỏ ngục rồi sau đó tử hình[21].

Giết Trần Tân Giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Viên Sùng Hoán bị giết, quân Hậu Kim ngày càng chiếm ưu thế. Năm 1636, Hoàng Thái Cực đổi tên nước là Thanh, liên tiếp uy hiếp biên giới nhà Minh.

Năm 1642, Sùng Trinh sai Hồng Thừa Trù mang 10 vạn quân ra giúp Tổ Đại Thọ chống quân Thanh. Hai tướng ngăn chặn đánh lui được Hoàng Thái Cực. Nhưng sau đó Sùng Trinh lại nghe theo Phương Nhược Kỳ cho rằng quân Thanh yếu ớt phải xuất kích tiêu diệt, vì vậy bắt các tướng phải tổ chức tiến công quân Thanh, không được phòng thủ. Kết quả quân Minh đại bại, bị tiêu diệt hoàn toàn, cả Tổ Đại Thọ và Hồng Thừa Trù đều bị bắt. Sùng Trinh ban đầu cho rằng Hồng Thừa Trù tử trận vì nước nên sai làm nghi lễ, sau mới biết tin Thừa Trù hàng Thanh mới hủy bỏ việc này[22].

Từ đó nhà Minh không còn đủ thực lực chống quân Thanh phía đông bắc nữa. Hoàng Thái Cực mang quân bao vây Ninh Viễn. Lo lắng về tình hình đông bắc, Minh Tư Tông quyết định nghị hòa với Hoàng Thái Cực. Ông nghe theo Dương Tự Xương bí mật sai Trần Tân Giáp đi thương lượng và lệnh cho Tân Giáp giữ kín nội dung nghị hòa vì sợ mất uy thế của “thiên triều” đối với ngoại tộc, không muốn công khai với mọi người về việc triều Minh phải đứng ngang hàng với Mãn Thanh trong hòa đàm[21][23].

Trần Tân Giáp sai Mã Thiệu Du sang trại Hoàng Thái Cực thương lượng. Bàn bạc xong, Mã Thiệu Du viết nội dung vào văn bản trình Trần Tân Giáp. Tân Giáp xem xong để trên kỷ. Gia nhân tưởng là văn bản đê điều hàng ngày bèn mang đi sao chép thành nhiều bản. Chỉ qua mấy hôm, nội dung nghị hòa đã loan khắp kinh thành, Trần Tân Giáp bị chỉ trích dữ dội.

Sùng Trinh nghe tin bèn bắt Trần Tân Giáp trách cứ về tội dám tự nghị hòa với Hậu Kim. Tân Giáp không nhận tội vì làm theo lệnh của vua. Sùng Trinh nhất định hạ lệnh xử tử Tân Giáp để bịt đầu mối, bất chấp nhiều lời can ngăn[24].

Thượng thư Bộ Lại là Tạ Thăng biết chân tướng sự việc bèn nói cho mọi người biết việc nghị hòa do bản ý của Sùng Trinh. Sùng Trinh vì mất thể diện bèn cách chức Tạ Thăng.

Nước mất thân vong[sửa | sửa mã nguồn]

Quân thua đất mất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc đó tình hình triều Minh ngày càng nghiêm trọng. Phía đông bắc quân Thanh uy hiếp nặng nề, bên trong quân khởi nghĩa Lý Tự ThànhTrương Hiến Trung ngày càng lớn mạnh. Lý Tự Thành nêu cao khẩu hiệu “chia ruộng đất cho dân cày, miễn nộp lương thực”, “không đi phu” khiến dân chúng nhiều nơi hưởng ứng. Năm 1641, Lý Tự Thành đánh chiếm Lạc Dương, phát triển lực lượng lên hàng triệu người, còn Trương Hiến Trung cũng đánh chiếm Hán Dương, Vũ Xương, Nhạc châu, Trường Sa, Bảo Khánh…[25][26].

Tháng 8 năm 1643, Minh Tư Tông cử Tôn Truyền Đình làm Binh bộ Thượng thư mang 10 vạn quân ra dẹp quân nổi dậy. Tôn Truyền Đình đánh từ Đồng Quan, còn Tả Lương Ngọc mang quân Hà Nam, Tứ Xuyên cùng tiến. Lý Tự Thành tập trung quân tinh nhuệ ở Hồ Quảng tới Hà Nam, dụ Tôn Truyền Đình vào sâu và đánh cho đại bại. Nhiều trấn đầu hàng Lý Tự Thành.

Đầu năm 1644, Sấm vương Lý Tự Thành tự xưng là hoàng đế, đặt tên nước là Đại Thuận và chia quân làm 2 đường tiến đánh Bắc Kinh. Lý Tự Thành viết thư cho Sùng Trinh, ra tối hậu thư tới ngày 15 tháng 3 phải đầu hàng; đồng thời viết thông báo đi các nơi công bố tội trạng của vua quan nhà Minh.

Không rời Bắc Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sùng Trinh muốn điều động Ngô Tam Quế về cứu viện, nhưng Tam Quế bị mắc ở biên cương không thể quay về, do đó Sùng Trinh thôi ý định triệu hồi Tam Quế. Ông sai thái giám tới đôn đốc phòng thủ Sơn Hải Quan, Đức châu, Tô châu, Thiên Tân, Lâm Thanh…

Nhưng tin thất trận liên tiếp báo về. Sang tháng 3 âm lịch, Lý Tự Thành bắt sống Tấn vương Chu Cầu Quế, còn Tuần phủ Sái Mậu Đức tự vẫn; Trương Hiến Trung vây hãm Trùng Khánh, giết Đoan vương Chu Thường Hạo và Tuần phủ Trần Sĩ Kỳ. Các trấn Ninh Vũ, Đại Đồng, Bảo Định, Tuyên Phủ đều thất thủ. Tướng Đỗ Huấn từ phủ Đại Danh ra nghênh đón đầu hàng Lý Tự Thành. Minh Tư Tông không tin, cho rằng Đỗ Huấn tử tiết vì nước nên phong cho con em Huấn làm quan[27].

Lý Kiến Thái nghe tin Tổng đốc Đại Danh là Khương Tương hàng Đại Thuận, bèn viết biểu khẩn cấp gửi về triều, đề nghị Sùng Trinh đưa thái tử Chu Tử Lãng chạy xuống phía nam vì thế quân Đại Thuận rất mạnh không thể chống nổi. Trong triều có những ý kiến tán đồng, nhưng Minh Tư Tông nhất định không nghe theo. Ông họp đại thần và nói rằng[28]:

Không phải trẫm là hoàng đế mất nước mà các thần đều là bề tôi mất nước

Minh Tư Tông còn ra chiếu tự kể tội mình đã mắc sai lầm để ổn định lòng người. Trước tình hình nguy cấp, ông đề nghị các vương hầu đóng góp tiền bạc, lương thảo. Nhiều đại thần đề nghị ông xuất tiền của trong kho (nội noa) ra để cứu vãn tình hình, nhưng Sùng Trinh nhất định không chịu, rồi nhỏ lệ khóc và nói rằng kho đã hết sạch[18].

Đường cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 3, quân Đại Thuận tiến đánh Nam Bình. Tổng binh nhà Minh là Lý Luyện tự vẫn. Quân khởi nghĩa phóng hỏa đốt cháy hưởng điện của 12 lăng nhà Minh. Ngay đêm đó Lý Tự Thành vượt sông Sa Hà tiến thẳng đến Bắc Kinh.

Trong thành, một số thái giám báo tin ra ngoài cho quân Đại Thuận biết và hẹn ngày mở cổng thành. Thái giám Tào Hóa Thuần được sai giữ thành lại cho rằng nếu Ngụy Trung Hiền còn sống có thể đã không xảy ra việc như vậy, Sùng Trinh trong lúc hoảng loạn nghe theo, lại sai người thu thập xác Ngụy Trung Hiền để chôn cất[29].

Trong kinh thành nháo nhác, tới ngày 16 Sùng Trinh mới biết tin quân địch đã đến. Trưa ngày 16, quân Đại Thuận hoàn tất việc bao vây thành và bắt đầu tấn công. Quân Đại Thuận đánh vào Lư Cầu Kiều và Bình Tắc Môn, Chương Nghĩa Môn. Ba đại doanh đóng bên ngoài bảo vệ cổng thành đều tan vỡ, quân trang và kho thuốc súng đều lọt vào tay quân Đại Thuận.

Quân Minh bị thiếu ăn nhiều ngày đã oán giận, nên lúc đó nhiều người đào ngũ hoặc ngồi yên không chiến đấu. Hoạn quan Đỗ Huấn đã hàng Lý Tự Thành gửi thư dụ hàng nhưng Sùng Trinh không tiếp nhận thư.

Ngày 18 tháng 3, quân Đại Thuận đã đến rất gần, các hoạn quan mà ông trọng dụng lũ lượt ra hàng. Tào Hóa Thuần, Vương Tương Nghiêu, Vương Đức Hóa mang 300 tiểu thái giám ra quy phục Lý Tự Thành. Thành ngoài thất thủ. Một thái giám khác cũng theo lệnh Lý Tự Thành vào thành đề nghị ông nhường ngôi, nhưng ông không chấp nhận[30].

Tự vẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 18, Minh Tư Tông viết lệnh giao việc đốc quân phò tá thái tử cho Chu Thuần Thần, nhưng khi gọi các thái giám mang lệnh đi thì không còn ai[31].

Sùng Trinh biết cơ nghiệp đã mất, bèn gọi Chu hoàng hậu tới đưa cho rượu độc uống tự vẫn trước. Sau đó ông bảo Viên quý phi treo cổ tự vẫn, nhưng sợi dây đứt và Viên phi rơi xuống đất. Sùng Trinh liền tự tay chém chết Viên phi.

Sau đó ông giao thái tử Chu Tử Lãng, Định vương Chu Tử Quýnh và Vĩnh vương Chu Tử Chiếu cho các ngoại thích họ Điền, họ Chu trốn đi và dặn phải mai danh ẩn tích, nếu có cơ hội phải báo thù. Còn lại 2 công chúa Trường Bình và Chiêu Nhân, Sùng Trinh lấy tay áo che và vung kiếm chém, Trường Bình đã lớn, giơ tay lên đỡ, bị chém đứt cánh tay phải lăn ra bất tỉnh. Còn công chúa Chiêu Nhân ít tuổi, bị Sùng Trinh chém chết.

Minh Tư Tông cải trang thành dân thường, dẫn theo hơn 10 nội giám bỏ trốn. Canh 3 đêm đó ra cửa Đông Hoa, tới cửa Tế Bắc thì sợ đến phía nam sẽ bị cản lại, bèn men theo ngõ hẹp vòng ra Tiền Môn, không ra được phải vòng qua An Định môn. Loanh quanh vẫn không ra được bèn trở về cung, đích thân gióng chuông định bàn bạc với các quan, nhưng không còn ai tới ngoài người thái giám trung thành Vương Thừa Ân[32].

Sáng ngày 19 tháng 3 (tức ngày 25 tháng 4 dương lịch), quân Đại Thuận được các thái giám mở cổng thành ồ ạt tiến vào thành. Sùng Trinh bèn cùng Vương Thừa Ân bỏ chạy, trèo lên núi Vạn Thọ (tức Môi Sơn, nay là Cảnh Sơn), bước tới dưới một gốc cây hòe ở đình Thọ Hoàng, từng là kiểm duyệt nội thao của hoàng đế. Ông cởi bỏ hoàng bào, giận dữ viết lên vạt áo[33]:

Trẫm đức mỏng phận hèn, bị trời quở phạt, dẫn tới nghịch tặc kéo thẳng vào kinh sư, đều do các bề tôi hại trẫm. Trẫm chết, chẳng còn mặt mũi nào nhìn thấy tổ tông, tự vứt bỏ mũ áo, lấy tóc che mặt, để mặc cho giặc phanh thây, không thương hại tới một người dân chúng.

Sau đó Minh Tư Tông đi chân đất mặc quần áo nhẹ, rối tóc che mặt, đứng đối diện với Vương Thừa Ân và treo cổ tự vẫn. Năm đó ông 33 tuổi, tính theo tuổi ta là 35 tuổi[34]. Vương Thừa Ân cũng tuẫn quốc theo chủ cùng với trên 40 người nữa.

An táng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tư Lăng (nhà Minh)

Quân dân Bắc Kinh nghênh đón vua Đại Thuận Lý Tự Thành. Lý Tự Thành tịch thu được từ kho riêng (nội noa) của Sùng Trinh, kiểm được còn 37 triệu lạng bạc, 1,5 triệu lạng vàng chứ không phải đã hết như Sùng Trinh từng tuyên bố[35].

Lý Tự Thành treo thưởng 1 vạn lạng bạc cho ai tìm được Sùng Trinh. Ngày 21 tháng 3, người ta phát hiện ra vua Sùng Trinh chết đã cứng tại Môi Sơn.

Ngày hôm sau, quân Đại Thuận mang quan tài, dựng thi thể Sùng Trinh và Chu hoàng hậu ra ngoài đặt ở cửa Đông Hoa để bêu trước dân chúng. Đầu tháng 4 năm đó, Lý Tự Thành sai mang xác Sùng Trinh và Chu hoàng hậu ra táng chung tại mộ của Điền quý phi ở huyện Xương Bình[36].

Sau này, khi nhà Thanh tiến vào Trung Nguyên, để lấy lòng người Hán, đã xây dựng kiến trúc trên phần mộ Điền quý phi, nâng cấp lên thành quy mô to lớn, đặt tên là Tư lăng[37].

Thụy hiệu, miếu hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Sùng Trinh qua đời, các hoàng thân nhà Minh còn lập ra nhà Nam Minh để khôi phục chính quyền, chống lại Đại Thuận và quân Thanh. Phúc vương Chu Do Tung tôn ông là Tư Tông Liệt hoàng đế. Sau vì chữ "Tư" không đẹp nên đổi gọi là Nghị Tông.

Đường vương Chu Duật Kiện nối ngôi (1645) sửa tôn hiệu cho ông là Uy Tông Đoan hoàng đế.

Đến thời nhà Thanh, Thanh Thế Tổ đặt hiệu cho Sùng Trinh là Hoài Tông, nhưng theo lễ thì triều vua sau đối với vua triều trước không đặt miếu hiệu mà chỉ đặt thụy hiệu[38], nên vào năm 1659 đã thay nội dung bia của lăng tẩm, chỉ đặt thụy hiệu cho ông là Trang Liệt Mẫn hoàng đế.

Thông tin cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hiến Mẫn Thái tử Chu Tử Lãng
  2. Hoài Ản vương Chu Tử Huyễn
  3. Định Ai vương Chu Tử Quýnh
  4. Vĩnh Điệu vương Chu Tử Chiếu
  5. Điệu Linh vương Chu Tử Hoán
  6. Điệu Hoài vương Chu Tử Sán
  7. Điệu Lương vương, không rõ tên, con Quý phi họ Điền, mất sớm khi mới 3 tuổi.

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khôn Nghi Công chúa, không rõ tên, con Hoàng hậu họ Chu, mất sớm.
  2. Trường Bình công chúa Chu Ngọc Anh, con Vương Thuận phi, Chu Hoàng hậu nuôi dưỡng, gả cho Phò mã Chu Thế Hiển[39]. Về sau bị vua cha chặt tay, chết vì bệnh 2 năm sau đó (1646).
  3. Chiêu Nhân công chúa, không rõ tên, về sau bị vua cha giết.
  4. Và 3 hoàng nữ mất sớm, không thấy chép thông tin thêm.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Có những ý kiến khác nhau đánh giá về Minh Tư Tông Chu Do Kiểm. Đương thời, Minh sử là sách do nhà Thanh soạn cho rằng Chu Do Kiểm mất nước vì không may mắn, còn bản thân ông là vị vua tốt, siêng năng cần cù làm việc, chọn cái chết vẻ vang[40].

Cát Kiếm Hùng cho rằng Minh Tư Tông là người ngang bướng cố chấp, chỉ muốn làm theo ý mình[41]. Mặt khác, tuy cho rằng Minh Tư Tông nói câu “Trẫm không phải là vua mất nước” là muốn che giấu lỗi lầm của mình, nhưng Cát Kiếm Hùng cũng đồng tình với ý kiến cho rằng ông là vị vua không gặp may, vì những yếu tố làm dấy lên phong trào nông dân phản kháng triều đình đã hình thành từ những đời vua trước[42].

An Tác Chương nhìn nhận Minh Tư Tông chỉ là vị vua tầm thường, hôn quân bất tài, tính tình hay thay đổi; tự cao tự đại không chịu nhìn nhận lỗi lầm của mình, làm mất lòng tin của quân dân cả nước[43].

Hồ Hán Sinh cho rằng Sùng Trinh gặp tình hình khó khăn đã vội vã và nôn nóng muốn thay đổi cục diện, dẫn tới hàng loạt quyết sách sai lầm, trong đó có vấn đề nhân sự; lại thêm lòng dạ hẹp hòi, thích xu nịnh, đa nghi, ghét lời nói thẳng… làm cho tham vọng trị quốc an dân, chấn hưng nhà Minh của ông hoàn toàn sụp đổ[38].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • An Tác Chương (1996), Chuyện những kẻ bạo tàn trong lịch sử, NXB Văn hóa thông tin
  • Vương Thiên Hữu chủ biên (2004), Mười sáu hoàng đế triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 3, NXB Văn hóa thông tin
  • Hồ Hán Sinh (2002), Bí mật lăng tẩm triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, tập 3, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Miếu hiệu do Phúc vương (福王), vị vua tự phong của Nam Minh truy tặng. Miếu hiệu này ít được ghi nhận trong sử sách, mặc dù nhà Nam Minh nhanh chóng đổi miếu hiệu thành Nghị Tông (毅宗), và sau đó thành Uy Tông (威宗). Nhà Thanh truy tặng Sùng Trinh đế miếu hiệu Minh Hoài Tông (懷宗).
  2. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng lấy theo lịch Gregory. Nó không phải là lịch Julius còn được dùng tại Anh quốc tới năm 1752.
  3. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 833
  4. ^ a ă An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 226
  5. ^ Nay là huyện Phụ Thành, Hà Bắc
  6. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 834
  7. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 231
  8. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 897
  9. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 846
  10. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 847
  11. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 232
  12. ^ a ă An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 234
  13. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 289
  14. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 249
  15. ^ a ă Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 291
  16. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 250
  17. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 251
  18. ^ a ă An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 253
  19. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 868
  20. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 242
  21. ^ a ă An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 244
  22. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 883
  23. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 891
  24. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 246
  25. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 252
  26. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 917
  27. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 257-258
  28. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 926
  29. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 928
  30. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 406
  31. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 261
  32. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 263
  33. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 931
  34. ^ Hồ Hán Sinh, sách đã dẫn, tr 360. Chu Do Kiểm sinh ngày 24/12 âm lịch năm Vạn Lịch thứ 38, theo âm lịch là 1610 nhưng theo dương lịch đã sang năm 1611, vì vậy tính tuổi dương chỉ có 33 nhưng tuổi âm đã là 35
  35. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 254
  36. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 932
  37. ^ Hồ Hán Sinh, sách đã dẫn, tr 366
  38. ^ a ă Hồ Hán Sinh, sách đã dẫn, tr 361
  39. ^ Theo Minh sử thì do Chu Hoàng hậu sinh, cùng lúc với Chu Tử Quýnh.
  40. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 225-226
  41. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 9
  42. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 284
  43. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 226, 263