Minh Thành Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Thành Tổ
明成祖
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Yongle-Emperor1.jpg
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 17 tháng 7, 140212 tháng 8, 1424[1]
Tiền nhiệm Minh Huệ Đế
Kế nhiệm Minh Nhân Tông
Tên thật
Chu Lệ (hay Đệ) (朱棣)
Tước hiệu
Hoàng đế
Niên hiệu
Vĩnh Lạc (永樂)
Thụy hiệu Khải thiên Hoằng đạo Cao minh
Triệu vận Thánh vũ Thần công
Thuần nhân Chí hiếu Văn hoàng đế
啓天弘道高明肇運聖武神功純仁
至孝文皇帝
Miếu hiệu Thái Tông
Thành Tổ
Triều đại Nhà Minh (明)
Thân phụ Minh Thái Tổ
Thân mẫu Mã hoàng hậu
Sinh 2 tháng 5 năm 1360
Mất 12 tháng 8 năm 1424
Trung Quốc
An táng Trường lăng (長陵)

Minh Thành Tổ (chữ Hán: 明成祖) hay Minh Thái Tông (明太宗),[2] (2 tháng 5 năm 136012 tháng 8 năm 1424) là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Vĩnh Lạc Đế là tên gọi theo niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂) của ông. Tên thật của ông là Chu Lệ (hay Đệ) (朱棣), thụy hiệuVăn Đế (文帝). Ông soán ngôi Minh Huệ Đế và cai trị từ năm 1402 – 1424, được xem là “Người sáng lập thứ hai của nhà Minh”.[3] Ông là vị Hoàng đế kiệt xuất của triều Minh, đồng thời là một trong những ông hoàng lỗi lạc của Trung Quốc.

Mục lục

[sửa] Lên ngôi

Chu Lệ là con trai thứ của Minh Thái Tổ, vốn đã được phụ hoàng phong làm Yên vương cai quản vùng xung quanh Bắc Kinh (vùng đất thuộc nước Yên thời Chiến Quốc). Năm 1398, Thái Tổ qua đời, do Thái tử Chu Tiêu chết sớm nên con thái tử là Chu Doãn Văn lên ngôi, tức là Minh Huệ Đế.

Huệ Đế thường lo về nạn phiên vương (chư hầu) mạnh thế có thể làm nguy cho triều đình như Loạn 7 nước thời Tây Hán, đem chuyện đó bàn với hai thân vương - một người là hoàng tử - tìm cách giải quyết, rồi tước trừ năm sáu phiên vương, một số bị xử tử.[4]

Yên vương Chu Lệ, vốn giỏi dùng binh, lại có nhiều tướng sĩ, thấy mình bị canh chặt quá, sợ không thoát khỏi cái họa của năm sáu phiên vương kia. Ngoài ra, ông cũng muốn nhân cơ hội chiếm ngôi của cháu và lấy cớ là để giết hai thân vương của Huệ Đế đã “gây tai họa” và ra tay trước, nên ông cử binh về đánh kinh đô, và gọi đạo quân đó là tĩnh nạn (binh dẹp nạn ở triều đình).[4]

Ở triều đình, các tướng giỏi đã bị Minh Thái Tổ giết hết rồi, không còn ai chống cự nổi với quân tĩnh nạn nên đại bại. Minh Huệ Đế sai sứ đến xin nghị hòa với Yên vương, nhưng không thành. Cuối cùng, cung điện phát hỏa, Huệ Đế không biết sống chết ra sao. Có người bảo Huệ Đế bị chết cháy, cũng có người bảo Huệ đế trốn làm sư phương Nam.[4]

Năm 1402, Chu Lệ trở thành Hoàng đế Minh Thành Tổ, ngày 23 tháng 1 năm 1403 ông đặt niên hiệu là Vĩnh Lạc.

[sửa] Cai trị

[sửa] Đối nội

Tượng Minh Thành Tổ.

[sửa] Giết Phương Hiếu Nhụ

Giống như phụ hoàng, ông nổi tiếng về sự tàn nhẫn, một mặt giết nhiều bề tôi triều trước, làm liên lụy đến vô số người khác, một mặt sai Văn học bác sĩ là Phương Hiếu Nhụ thảo tờ “chiếu lên ngôi” cho hợp lệ hơn.

Khi ông ra quân đánh kinh sư, một vị hòa thượng dặn:

"Phương Hiếu Nhụ tất không hàng đâu, nhưng xin ông đừng giết. Giết Nhụ thì cái nòi đọc sách[5] trong thiên hạ sẽ tuyệt mất".[4]

Vì vậy, khi gọi Hiếu Nhụ, Yên vương vỗ về ngay:

"Tiên sinh đừng làm khổ thân, tôi chỉ muốn theo Chu Công mà giúp Thành Vương đấy thôi".[6]

Hiếu Nhụ hỏi:

"Thành vương ở đâu?"

Ông đáp:

"Hắn tự thiêu chết rồi".

Hiếu Nhụ lại hỏi:

"Thế sao không lập con Thành vương?"

Yên vương nói:

"Đó là việc trong nhà trẫm".[4]

Nói rồi, Thành Tổ sai người đưa giấy bút cho Hiếu Nhụ:

"Thảo tờ chiếu để ban bố cho thiên hạ, không nhờ tiên sinh thì không được".

Hiếu Nhụ ném bút xuống đất:

"Chết thì chết, không chịu thảo".[4]

Minh Thành Tổ cả giận, sai phanh thây Hiếu Nhụ giữa chợ.[7] Vợ và con Hiếu Nhụ đều tự tử. Họ hàng, bè bạn trước sau đều bị giết tơi hàng trăm người.[4]

[sửa] Dời đô về Yên Kinh

Lên ngôi rồi, Minh Thành Tổ quyết định bỏ Nam Kinh ở Kim Lăng mà dời đô lên Bắc Kinh (Yên Kinh). Nguyễn An, một người thợ Đại Ngu bị bắt về Trung Quốc trong cuộc chiến 1407, là người thiết kế và xây cất thành Bắc Kinh.

Bắc Kinh dưới triều Nguyên đã được xây dựng lại cho rộng hơn, rực rỡ hơn, rất tốn kém, nay Minh Thành Tổ lại cho sửa sang, xây cất và mở rộng hơn nữa. Cho tới nay, thành phố này là trung tâm của nền văn minh Trung Hoa, lớn hơn Nam Kinh nhiều.

Thành Tổ còn phá thành của nhà Nguyên, xây lại thành mới vuông vức với chu vi trên 21 cây số, tường cao 13 thước, tất cả có chín cái cửa lớn.[4]

[sửa] Thành tựu về văn hóa

Trong các năm 1403 đến 1408, Minh Thành Tổ cho soạn bộ sách Vĩnh Lạc đại điển. Đây là một bộ bách khoa toàn thư đầu tiên và đồ sộ của Trung Quốc.

[sửa] Đối ngoại

[sửa] Người Trung Quốc ra hải ngoại

Dưới thời Minh Thành Tổ, Trung Quốc trở thành một quốc gia cường thịnh. Khác với nhà Nguyên chủ trương hướng vào lục địa, nhà Minh từ thời Minh Thành Tổ thực hiện một chính sách hướng ra đại dương, mở mang thám hiểmthương mại bằng cách tổ chức các đội thuyền buôn cực lớn hoạt động ở Thái Bình DươngẤn Độ Dương, do đô đốc Trịnh Hòa chỉ huy. Người Trung Quốc còn cạnh tranh thương mại với người Ả Rập vốn cũng đang làm chủ vịnh Bengal.

[sửa] Đánh Mông Cổ

Sau khi lên ngôi, ông đặt kinh đô tại vị trí kinh đô cũ Yên Kinh của nhà Nguyên, xây dựng lại hệ thống vạn lý trường thành, làm cơ sở chinh phạt quân Mông Cổ

Ông cũng theo chính sách đời nhà Hán, vừa dùng vũ lực, vừa vỗ về, vừa dùng ngoại giao để chia rẽ các rợ du mục, chủ ý để phá thế mạnh của Mông Cổ.

Thành Tổ đã nhiều lần chiêu dụ người Mông, nhưng họ chưa phục. Vì thế, có lần ông sai một viên tướng đi đánh nhưng thất bại, phải rút về. Sau Thành Tổ phải thân chinh đánh dẹp. Năm 1410 ông đem 100.000 quân với 30.000 cỗ xe chở lương thực, quân nhu, và một số tặng vật để lấy lòng người Olrat, mà yêu cầu họ trung lập. Quân Mông đại bại trong cuộc chiến này, tuy nhiên sau đó họ phục hồi và chống lại. Minh Thành Tổ phải thân chinh ba lần nữa, một lần - năm 1422 - ông dẫn một đoàn quân 235.000 người 117.000 cỗ xe, mỗi cỗ hai con lừa.[4] Quân Mông Cổ trốn thoát về phía Tây, quân Minh cướp bóc được rất nhiều rồi trở về. Hai cuộc chiến sau, 1423 và 1424, kết quả cũng như vậy, và trong cuộc chiến cuối ông thình lình mất.[4]

[sửa] Đánh An Nam

Về phía Nam, Thành Tổ cũng quan tâm mở mang bờ cõi. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và đổi quốc hiệu sang Đại Ngu, con là Hồ Hán Thương sang dâng biểu sang nhà Minh, nói là nhà Trần hết người, Thương là cháu ngoại lên thay, được Thành Tổ phong làm An Nam Quốc vương. Sau đó, một người tên Trần Thiêm Bình tự nhận là con vua Trần Nghệ Tông qua tâu rõ tình hình và xin binh phục thù. Minh Thành Tổ cho sứ sang trách, họ Hồ dâng biểu tạ tội.[4] Thành Tổ cho 5000 quân đưa Thiêm Bình về nước, đến Chi Lăng, quân nhà Hồ đánh bại quân Minh, bắt và giết Thiêm Bình.[4]

Sau sự kiện trên, ông đã sai tướng Trương Phụ cầm đầu đoàn quân viễn chính sang xâm chiếm Đại Ngu, đã đánh bại nhà Hồ và bắt cha con Quý Ly đưa về Trung Quốc, sau khi nhà Hồ sụp đổ, ông đã đặt Bố chính ti để cai trị đất Đại Việt

Khi đoàn quân viễn chinh sắp lên đường, Thành Tổ ra lệnh cho tướng Chu Năng:

Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách vở của đạo Phậtđạo Lão, còn thì mọi sách vở, văn tự, cả những dân ca, sách dạy trẻ (...) đều phải đốt hết, một mảnh, một chữ cũng không chừa. Những bia nào Trung Hoa xây dựng từ trước thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy cho hết...

—Minh Thành Tổ[4]

Câu nói trên cho thấy chính sách tàn bạo của nhà Minh đối với người An Nam.

Quý tộc nhà Trần bất bình, phất cờ khởi nghĩa, lập nên nhà Hậu Trần. Minh Thành Tổ phái Trương Phụ qua An Nam lần nữa (1413) mới dẹp được.[4] Vua Trần Trùng Quang tự vẫn trong khi bị giải về Trung Quốc.

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, được Nguyễn Trãi giúp. Sau 10 khởi nghĩa, quân Lam Sơn đánh đuổi quân Minh ra khỏi An Nam (1427). Tuy nhiên, Minh Thành Tổ đã mất trước đó (1424) nên không phải nuối nhục.[4]

[sửa] Qua đời

Ngày 1 tháng 4 năm 1424, Minh Thành Tổ phát động chiến dịch lớn của sa mạc Gobi để tiêu diệt các đạo quân Mông Cổ quấy phá. Ngày 12 tháng 8 năm 1424, Thành Tổ đột ngột qua đời,[4]. Ông được an táng ở Trường lăng, ngôi mộ chính giữa và lớn nhất trong Minh thập tam lăng (明十三陵).

Thái tử Chu Cao Sí lên thay, tức là Minh Nhân Tông (Hồng Hi Đế - 1424–1425).


[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

  • Cuốn Lịch sử thế giới tập II, của Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang.
  • Nguyễn Hiến Lê (1997), Sử Trung Quốc, Chương VII (2): Huệ đế - Loạn tĩnh nạn - Thành Tổ (1403 – 1424).
  • Atwell, William S. "Time, Money, and the Weather: Ming China and the "Great Depression" of the Mid-Fifteenth Century," The Journal of Asian Studies (Volume 61, Number 1, 2002): 83-113.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng tại đây tính theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Miếu hiệu là Thái Tông, sau được Hoàng đế Minh Thế Tông đổi thành Thành Tổ.
  3. ^ Atwell (2002), 84.
  4. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p Nguyễn Hiến Lê (1997) "Sử Trung Quốc", Chương VII (2)
  5. ^ Tức người theo đạo thánh hiền.
  6. ^ Chu Công Đán đời nhà Chu là em của vua Vũ Vương, giữ chức nhiếp chính, giúp vua Thành Vương lúc đó còn nhỏ. Yên vương Lệ cũng là chú của Huệ Đế, tự coi mình như Chu Công và coi Huệ Đế như Thành Vương.( theo chú thích trong Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê)
  7. ^ Có sách chép khác: Yên vương dọa giết chín họ Hiếu Nhụ, Nhụ đáp: Giết cả mười họ cũng chẳng sao. Sau đó chín họ của Nhụ bị tru di.