Minh Thành Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Thành Tổ
明成祖
明太宗.jpg
Hoàng đế nhà Minh
Trị vì 17 tháng 7, 140212 tháng 8, 1424
(&0000000000000022.00000022 năm, &0000000000000026.00000026 ngày)[1]
Tiền nhiệm Minh Huệ Đế
Kế nhiệm Minh Nhân Tông
Thông tin chung
Hậu phi
Hậu duệ
Tên thật Chu Lệ (hay "Đệ")
朱棣
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu Vĩnh Lạc
永樂
Thụy hiệu Thể thiên Hoằng đạo Cao minh Quảng vận Thánh vũ Thần công Thuần nhân Chí hiếu Văn hoàng đế
體天弘道高明廣運聖武神功純仁至孝文皇帝
Khải thiên Hoằng đạo Cao minh Triệu vận Thánh vũ Thần công Thuần nhân Chí hiếu Văn hoàng đế
啓天弘道高明肇運聖武神功純仁至孝文皇帝
(thụy đổi tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 17 (1538) thời Minh Thế Tông)
Miếu hiệu Thái Tông
Thành Tổ
(đổi tháng 9 năm Gia Tĩnh thứ 17 (1538) thời Minh Thế Tông)
Triều đại Minh
Thân phụ Thái Tổ Cao hoàng đế Chu Nguyên Chương
Thân mẫu Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã thị
Sinh 17 tháng 4 năm Chí Chính thứ 20 nhà Nguyên
2 tháng 5 năm 1360
Ứng Thiên (nay là Nam Kinh)
Mất 18 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 22 nhà Minh
12 tháng 8, 1424 (64 tuổi)
Yumuchuan (nay là Ujimqin, Nội Mông Cổ)
An táng Trường lăng

Minh Thành Tổ (chữ Hán: 明成祖, 2 tháng 5 năm 136012 tháng 8 năm 1424), tên thật là Chu Lệ (hay Đệ) (朱棣), dân tộc Hán, là vị hoàng đế thứ ba của nhà Minh, tại vị 1402 – 1424, tại vị 22 năm, niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂). Ông được coi là vị vua kiệt xuất nhất của triều đại nhà Minh, và là một trong các hoàng đế kiệt xuất nhất trong lịch sử của Trung Quốc.

Chu Đệ vốn được phong làm Yên Vương (燕王) vào tháng 5 năm 1370, đóng đô ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Sau một loạt chiến dịch thành công chống quân Mông Cổ, ông bắt đầu củng cố quyền lực của mình ở phía bắc và tiêu trừ các đối thủ, tiêu biểu như đại tướng Lam Ngọc. Chu Đệ ban đầu chấp nhận sự chỉ định của vua cha Chu Nguyên Chương về người kế vị là đứa cháu trai Chu Doãn Văn. Tuy nhiên việc hoàng đế mới bắt đầu giáng chức và tiêu diệt những ông chú quyền lực đã buộc Yên Vương hành động. Ông lật đổ cháu trai là Kiến Văn Hoàng đế trong một cuộc nội chiến, vốn bất lợi cho ông vào thời gian đầu, đem quân từ Bắc Bình (Bắc Kinh) đánh xuống thủ đô Nam Kinh để giành ngai vàng vào năm 1402.

Minh Thành Tổ đã bắt đầu triều đại của mình bằng việc hợp pháp hóa việc lên ngôi với việc xóa bỏ toàn bộ thời gian trị vì của người cháu và thiêu hủy hay sửa đổi các tài liệu có liên quan đến tuổi thơ và cuộc nổi loạn của mình. Điều này dẫn đến việc thanh trừng vô số quan viên ở Nam Kinh và ban thẩm quyền đặc biệt ngoài vòng pháp luật cho chình sách bí mật của hoạn quan. Ông nối tiếp chính sách tập trung của cha mình, tăng cường thể chế của đế quốc và thành lập thủ đô mới tại Bắc Kinh. Để kiểm soát các quan viên ông cho cải cách khoa cử thay vì chế độ đề cử và bổ nhiệm như dưới thời cha mình. Ông theo đuổi một chính sách đối ngoại bành trướng và đã tiến hành nhiều chiến dịch quy mô lớn chống lại quân Mông Cổ. Nhằm tăng cường ảnh hưởng của mình trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Ông thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa điều khiển. Trịnh Hòa (1371-1433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc Úc, qua bán đảo Ả Rập và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận châu Mỹ. Nhà vua cho sửa và mở lại Đại Vận hà và vào khoảng năm 1407 đến năm 1420, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Tử Cấm Thành. Dưới thời ông, các học giả đương thời đã hoàn thành công trình đồ sộ Vĩnh Lạc đại điển.

Năm 1424, Minh Thành Tổ băng hà khi đang tiến hành chiến dịch chinh phạt Mông Cổ lần thứ 5 ở sa mạc Gobi. Ông được an táng tại Trường lăng trong Minh Thập Tam lăng, nằm ở phía bắc thành Bắc Kinh.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Đệ sinh năm 1360 tại Nam Kinh, là con trai thứ tư của Chu Nguyên ChươngMã hoàng hậu. Khi Chu Đệ được sinh ra, cha của ông Chu Nguyên Chương đang lãnh đạo Trung Quốc chiến đấu chống lại nhà Nguyên đang trên đà sụp đổ. Chu Đệ trở thành hoàng tử nhà Minh khi Chu Nguyên Chương xưng đế năm 1368 với niên hiệu Hồng Vũ. Hồng Vũ Hoàng đế giám sát việc giáo dục các hoàng tử rất nghiêm ngặt, cho các con của mình nắm giữ binh quyền các phiên tại đất phong và đều có quân đội riêng để tự vệ. Trong suốt niên hiệu Hồng Vũ (1368-1398), lực lượng phiên vương đã làm rất tốt vai trò thay mặt vua cha thống trị các phiên, vì Hồng Vũ hoàng đế không tin tưởng ngoại thần, và bảo vệ biên cương tốt khỏi sự xâm lược của các lực lượng Mông Cổ.

Năm 1370, Chu Đệ được phong làm Yên Vương. Vua cha đã giao quyền lực nắm giữ thành Bắc Bình, 1 khu vực quan trọng tạo tiền đề cho việc giành ngôi hoàng đế của ông sau này.

Lớn lên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1380, Chu Đệ và gia đình của ông chuyển từ thủ đô Nam Kinh đến Bắc Bình (con trai cả là Chu Cao Sí sinh năm 1378, sau này là Minh Nhân Tông), nó từng là thủ đô của triều đại người Mông CổTrung Hoa, có kích thước tương tự như Hoàng cung ở Nam Kinh, so với các Hoàng tử anh em của ông, ông được nhận vùng đất phong có điều kiện tốt nhất cho phát triển. Ông đã tạo ra xung quanh mình một hệ thống quan lại tương đương với 1 triều đình độc lập. Hơn nữa, bên cạnh có tướng Từ Đạt (là cha vợ của ông và là ông ngoại của Minh Nhân Tông),Thành Bắc Bình có vị trí quan trọng và được mở rộng để làm các căn cứ quân sự chính ở phía bắc.Từ đó, ông đã thực hiện nhiều chiến dịch thành công chống lại quân Mông Cổ dọc theo biên giới. Từ Đạt bệnh nặng vào năm 1384 và được gọi trở lại Nam Kinh. Ông giao cho con trai quyền chỉ huy 30 vạn quân, kế tục lòng trung thành của ông với hoàng tử Chu Đệ. Bắc Bình được tổ chức tốt trong 19 năm Chu Đệ nắm quyền. Tuy nhiên các chiến thắng của quân Minh ở phía bắc dưới thời Hồng Vũ không phải do Chu Đệ, mà do người họ hàng bên vợ của thái tử là đại tướng Lam Ngọc chỉ huy.

Lam Ngọc trong quân đội nhà Minh chỉ đứng sau các danh tướng khai quốc như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân. Ông vốn được ví như Vệ Thanh nhà Hán, Lý Tĩnh nhà Đường do có công đánh dẹp người Mông Cổ, mở rộng bờ cõi nhưng do kiêu ngạo nên bị Thái Tổ ghét. Chu Đệ biết cha không thích Lam Ngọc bèn dùng kế, vu oan cho Lam Ngọc mưu phản. Thái Tổ vốn có ý giết Ngọc, sai Cẩm Y Vệ vào cuộc, bắt giữ cả nhà Lam Ngọc rồi tru di chín họ cùng 2 vạn người. Thái tử mất đi một người ủng hộ hùng mạnh, còn Chu Đệ thì không còn đối thủ trong quân đội nhà Minh ở phía bắc. Đây cũng là tiền đề để Chu Đệ cướp ngôi sau này, khi triều đình không còn danh tướng nào so được với ông.

Năm 1392 thái tử Chu Tiêu con cả của Minh Thái Tổ qua đời, là người mà Minh Thái Tổ có ý định truyền ngôi, và sau đó ý định lập người kế vị của Minh Thái Tổ trở nên thất thường, khó đoán. Ông không tin tưởng nhiều vào các con trai và với cả Chu Đệ. Mối quan hệ của Chu Đệ với cha ông vẫn được giữ vững, nên Chu Đệ chờ đợi để xem ai sẽ được chỉ định kế nhiệm. Trái với kỳ vọng, cha ông đã chọn cho cháu nội là Chu Doãn Văn (Minh Huệ Đế).

Năm 1398, Hồng Vũ Hoàng đế qua đời và cháu nội của ông Chu Doãn Văn lên ngôi. Triều đình mới có 1 khởi đầu tồi tệ khi Minh Huệ Đế cấm cả chú ruột Chu Đệ tham dự lễ tang của cha mình ở Nam Kinh. Khi Chu Đệ mang quan quân về kinh viếng cha, ông đã bị quân triều đình chặn lại ở Hoài An với lý do 3 vị thế tử con ông đã được tân hoàng giữ lại thủ hiếu giùm ông, bắt ông phải quay về Bắc Bình. Chu Đệ phải quay về trong nhục nhã. Ông lúc đó đã khóc nói: "Cùng là cốt nhục chí thân, sao lại làm nhục ta quá vậy?". Sau khi Chu Đệ về đến nhà thì cáo bệnh giả ốm, không lâu sau thì "phát điên" để tránh bị nghi ngờ bởi hoàng đế vì ông là phiên vương lớn mạnh nhất và để bảo đảm an toàn cho 3 người con trai.

Triều đình của Huệ Đế có những nghi ngại về sức mạnh của các ông chú vì họ nắm giữ các vùng đất được phong như các vương quốc với sức mạnh quân sự lớn và nguồn lực tài chính dồi dào. Huệ Đế và các đại thần của ông đã tìm cách cải cách hệ thống đế quốc và tiêu diệt sức mạnh của hoàng tử. Nhưng điều này chắc chắn đã gặp sự kháng cự của các hoàng tử. Chu Đệ là thành viên Hoàng tộc có sức ảnh hưởng lớn nhất trong các hoàng thân quốc thích, và ông cho rằng mình mới là người xứng đáng thừa kế ngôi vị hoàng đế.

Giành được ngai vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng thành Nam Kinh

Mở màn Tĩnh Nan chi dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chu Đệ cố gắng kiến nghị với hoàng đế ở Nam Kinh, nhưng đã thất bại, Chu Đệ đã tìm cách giải cứu 3 người con trai đang làm con tin ở kinh thành. Khi biết tin các con đã an toàn thoát khỏi tay hoàng đế, ông đã quyết định hành động. Năm 1399, ông tuyên bố chiến tranh với lý do rằng đó là " Cứu vua cháu khỏi sự thao túng của bọn quan lại tiếm quyền".Cuộc nội chiến bắt đầu rất thuận lợi cho Huệ Đế. Ông có nhiều quân và tài chính mạnh hơn và một vị trí chiến lược tốt hơn. Khá nhanh chóng là quân đội triều đình đã tấn công đến Bắc Bình, nhưng Bắc Bình phòng thủ tốt trước những cuộc tấn công dữ dội. Một quan viên của Minh Huệ Đế đã hiến kế ly gián, Huệ Đế nghe theo, sai sứ giả mang tiền tài đến Bắc Bình, vốn đang được trấn thủ bởi con trưởng của Chu Đệ là Chu Cao Sí, cùng với lời hứa nếu giao nộp Bắc Bình sẽ được giữ lại tước vị Yên Vương và được thế tập về sau. Biết tính cha đa nghi, Chu Cao Sí bắt ngay sứ giả và đem cả người lẫn vật đến giao cho Chu Đệ ngoài tiền tuyến. Chu Đệ cho chém sứ giả, lại đem tiền đó thưởng cho Chu Cao Sí để khen thưởng vỗ về, bảo đảm cho hậu phương vững chắc. Chu Đệ còn cho người tung tin rằng mình là con đẻ của Mã Hoàng hậu để hợp pháp việc thừa kế ngai vàng. Ông còn phao tin rằng chính mình mới là người được Thái Tổ chọn để truyền ngôi nhưng đã bị Chu Tiêu và những kẻ ủng hộ cản trở.

Công phá kinh thành[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Đệ sau đó đã thay đổi chiến lược quân sự. Điều đầu tiên, ông đặt trọng tâm quân đội vào kỵ binh Mông Cổ. Trong khoảng thời gian 20 năm nắm quyền tại miền Bắc Trung Quốc, có nhiều bộ lạc Mông Cổ đã đầu hàng và hết lòng trung thành với ông. Thời gian đầu cuộc chiến nhờ lực lượng này đã giúp ông sống sót các cuộc tấn công của triều đình. Nhưng lực lượng tinh nhuệ này không thể chịu được sự tấn công của kỵ binh hoàng gia. Điều thứ hai, trái với quân của Chu Đệ chỉ huy, quân của Huệ Đế giành được sự trung thành rất lớn quân đội và trong nhân dân. Điều thứ 3, thay vì tấn công Nam Kinh nơi có phòng thủ tốt thì Chu Đệ dẫn quân về phía Tây. Trận chiến xảy ra nhưng quân của Huệ Đế đã không thể đánh bại Chu Đệ. Nhờ vào tin tình báo từ các tướng lĩnh và hoạn quan bị Huệ Đế ngược đãi, Chu Đệ đã lập nên một chiến thuật đánh-và-chạy vào các kho lương dọc suốt Đại Vận Hà, trong khi tránh giao tranh trực tiếp với đại quân triều đình. Cho đến năm 1402, quân của Chu Đệ đã tấn công và cướp phá Từ Châu, Tô Châu và Dương Châu. Vào mùa xuân năm 1402, Chu Đệ chọc thủng phòng tuyến quân sự và dẫn quân xuống phía Nam sông Dương Tử khi bí mật mua chuộc người bên phe hoàng đế. Nhờ tướng Trần Tuyên phản bội, Chu Đệ đã nắm được trong tay hạm đội sông Dương Tử và dễ dàng vượt sông. Ngày 13-7-1402 cổng thành Nam Kinh mở do sự phản bội của Lý Cảnh Long và một người em cùng cha khác mẹ của Chu Đệ là Cốc Vương Chu Huệ. Trong lúc hỗn loạn, cung điện đã bị đốt cháy, Chu Đệ tìm thấy 3 xác chết cháy đen không còn nhận dạng được nên mọi người cho rằng Huệ Đế tự sát cùng vợ và con trai cả. Các quần thần đều cùng nhau tôn ông làm hoàng đế, ban đầu ông từ chối để tỏ lòng khiêm nhường, Chu Đệ đồng ý rằng năm sau sẽ lấy là Vĩnh Lạc nguyên niên. Chu Đệ làm lễ lên ngôi 4 ngày sau, 17-7-1402, ở tuổi 42 sau khi đi viếng thăm nơi chôn cất của cha mình, Hồng Vũ hoàng đế.

Thanh trừng[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn cai trị của Huệ Đế đã bị xóa bỏ trong các hồ sơ lịch sử, thời gian bị thiếu chỉ đơn giản là thêm vào thời kỳ MinhThái Tổ. Đầu tiên, hoàng đế mới Chu Đệ thực hiện thanh trừ trên quy mô lớn, tất cả các đại thần và gia đình họ. Phần lớn của các quan lại bị loại bỏ. Nhiều người tự tử, vì họ khinh miệt Minh Thành Tổ cướp ngôi. Một vấn đề lớn là 2 người con trai còn lại của Huệ Đế và ba anh em của Chu Đệ. Để loại bỏ kẻ địch tiềm năng họ đã bị hành hình. Hai vạn người đã trở thành nạn nhân của cuộc thanh trừng.[2] Người anh trai cả đã mất của Chu Đệ là Chu Tiêu, vốn được Huệ Đế truy phong làm hoàng đế cũng bị ông giáng xuống làm Ý Văn Thái tử.

Một quan viên trung thành của Huệ Đế là Phương Hiếu Nhụ, vốn được coi là bậc đại nho đương thời, không chịu quy hàng Chu Đệ khi Nam Kinh đã bị công phá, còn miệt thị ông là đồ phản tặc. Chu Đệ giận lắm, muốn giết ông nhưng đã bị một người thân tín là hòa thượng Đạo Diễn khuyên can: "Nay giết Nhụ thì tiệt hết cái nòi đọc sách trong thiên hạ, vậy còn ai dám ra sức vì bệ hạ?". Chu Đệ nghe theo, sai người bắt Phương Hiếu Nhụ viết một đạo chiếu thư giả của Thái Tổ để hợp pháp hóa việc kế vị của mình vì Hiếu Nhụ là người đứng đầu bách quan, bù lại sẽ cho Hiếu Nhụ giữ lại chức quan cùng với tăng thêm bổng lộc, dù rằng chính Hiếu Nhụ là người ra các kế sách triệt phiên, dẫn đến cái chết của người em ruột của Thành Tổ. Phương Hiếu Nhụ nhận lấy giấy bút rồi viết lên bốn chữ to: "Yên tặc soán vị". Chu Đệ xem xong hận ông lắm nhưng vẫn tiếc, cho đòi ông đến rồi hỏi: "Ngươi không sợ bị tru di chín họ sao?". Phương Hiếu Nhụ đáp lại: "Tru di mười họ thì đã làm sao?". Chu Đệ không nhịn nữa, sai người bắt hết thân tộc chín họ của Phương Hiếu Nhụ, lại bảo rằng: "Đã thế thì gom hết môn sinh, bạn bè, hàng xóm của nó lại cho đủ mười họ", tổng cộng hơn nghìn người đều bị hành quyết. Đây là việc "Tru di thập tộc" nổi tiếng, trước chưa từng có, sau không xuất hiện, làm nổi bật sự tàn bạo của Chu Đệ.

Chính sách đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như cha mình, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, MInh Thành Tổ Chu Đệ là một vị hoàng đế chăm chỉ và nghiêm khắc. Ông không đắm mình vào xa hoa chốn cung đình mà luôn thể hiện người năng động và táo bạo.

Lại trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tàn sát các quan lại cũ của Minh Huệ Đế, chính quyền trung ương có những thiếu sót rất lớn về quan viên. Minh Thành Tổ vì vậy rất khao khát những người đọc sách có tài nguyện ý ra giúp mình. Ngay khi lên ngôi ông đã hạ lệnh mở ân khoa tuyển chọn sĩ tử vào triều làm quan để lấp các chỗ trống, tuy nhiên ông cũng rất khắt khe với việc gian lận. Thời Hồng Vũ, Minh Thái Tổ vì ít đọc sách nên không đặt nặng việc khoa cử, chỉ bổ nhiệm các thân tín, Thành Tổ cho cải cách khoa cử để hấp dẫn tầng lớp trí thức ra sức làm quan giúp mình. Ông đặt rất nhiều tâm huyết vào việc tuyển chọn nhân tài, thậm chí ông còn có những nguyên tắc riêng khi dùng người. Mặc dù là người độc đoán, Vĩnh Lạc cũng chứng tỏ mình là người sáng suốt và khôn ngoan khi biết tiếp thu có chọn lọc ý kiến của các cố vấn.

Để giúp đỡ cho công việc của hoàng đế, Vĩnh Lạc hoàng đế đã cho thành lập một cơ quan mới là Nội các tập hợp các đại thần thân tín với người đứng đầu được gọi là Thủ phụ. Nội các sẽ giúp hoàng đế quản lý Lục bộ và các sự kiện quan trọng của đế quốc, chia sẻ và giảm bớt gánh nặng cho hoàng đế. Đây là việc không bao giờ xảy dưới triều Hồng Vũ hoàng đế, một người độc tài và không bao giờ tin tưởng thần tử của mình. Tuy nhiên đây cũng là tác hại lớn, khi các hoàng đế đời sau từ Anh Tông bắt đầu sa vào hưởng lạc, không quan tâm triều chính nên không còn giữ được sự khống chế với Nội các. Quyền lực của Nội các càng lúc càng lớn, có quyền bổ nhiệm quan viên, kiểm soát ngân khố và thậm chí là điều động quân đội. Người đứng đầu Nội các, sau hoàng đế, mới là người thực sự điều khiển đất nước như Nghiêm Tung hay thậm chí lấn át cả hoàng đế như Trương Cư Chính. Đây là một trong những điều dẫn đến sự suy vong của nhà Minh. Thành Tổ còn là một vị vua nghiêm khắc với quan lại tham nhũng, trừng phạt họ giống như cha mình là Thái Tổ. Quan viên tham ô 60 lượng bạc thì chém đầu, nhiều hơn thì lột da.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 4 năm chiến tranh tranh giành ngai vàng, đất nước đã phải hứng chịu nặng nề những hậu quả của chiến tranh, nhân khẩu giảm mạnh, làng mạc ruộng đồng bị phá hủy. Đất nước phải đối mặt với sự suy giảm cả về kinh tế và dân số. Tân hoàng đế Vĩnh Lạc có những kế hoạch lâu dài và phổ thông để tăng cường và ổn định nền kinh tế mới, nhưng trước hết ông phải loại bỏ những kẻ bất đồng. Hoàng đế tạo ra một hệ thống kiểm duyệt phức tạp, cách chức các tham quan tung tin đồn bất lợi với nền kinh tế. Để tăng cường nền kinh tế và chống sự suy giảm dân số, Vĩnh Lạc cho thu hồi đất đai để ban phát lại cho dân nghèo đã mất đất trong chiến tranh, giảm thuế ở các vùng bị tàn phá nặng nề nhất. Việc làm này đã giúp ông sử dụng nhiều nhất lực lượng lao động có thể, và tối đa hóa sản lượng dệt may và nông nghiệp. Ông tuy là người tàn bạo nhưng trong những năm ông trị vì, dân số đã khôi phục và phát triển, số lượng người chết vì đói rét rất ít.

Minh Thành Tổ bất đồng ý kiến với cha mình về thương nghiệp. Nếu như hoàng đế Hồng Vũ là người bài xích giai cấp thương nhân, ra lệnh bế quan tỏa cảng ức chế thương nghiệp thì Vĩnh Lạc lại cho mở cửa, xây cảng biển và cho thái giám thân tín của mình là Trịnh Hòa thực hiện các chuyến du hành ra đại dương để tìm các đối tác thông thương và khám phá ra các vùng đất mới. Điều này đã tăng thêm thu nhập cho đế quốc, phục vụ cho các công trình xây dựng tốn kém và các cuộc chinh phạt quy mô.

Các công trình xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Lạc cho thực hiện cuộc tái thiết lớn Đại Vận hà, trong những năm ông trị vì công trình Đại Vận hà gần như đã được hoàn thành và Đại Vận hà được dùng để di chuyển các hàng hóa nhập khẩu đến từ khắp nơi trên thế giới. Việc này cũng giúp cho giao thông phát triển, lương thực từ phía nam có thể dễ dàng vận chuyển ra phía bắc đảm bảo cho các cuộc chinh phạt Mông Cổ của hoàng đế.

Việc tiếp theo của Vĩnh Lạc là muốn dời đô về phía bắc mà kinh đô chính là Bắc Bình, thủ phủ cũ của ông khi còn là Yên Vương, mặc dù vấp phải nhiều sự phản đối của các đại thần, phần nhiều là do tổ huấn của vua cha Thái Tổ phải định đô ở Kim Lăng để tránh sự xâm lược từ Nhung Địch phía bắc. Nhưng sau khi được một số tướng lĩnh khuyên can rằng Kim Lăng nằm ở vị trí dễ bị công phá bởi pháo binh và không tin tưởng vào hệ thống phòng thủ của thành phố do nhìn vào tấm gương của Minh Huệ Đế, cộng thêm tư tưởng: "Thiên tử thủ biên cương", Vĩnh Lạc vẫn quyết định dời đô về Bắc Bình và cho đổi tên là Bắc Kinh (hay Yên Kinh) còn Kim Lăng đổi thành Nam Kinh. Nam Kinh vẫn có Lục bộ riêng và được trấn thủ bởi em vợ của hoàng đế, con trai của đại tướng khai quốc Từ Đạt. Ở Bắc Kinh, Vĩnh Lạc cho thực hiện một mạng lưới công trình đồ sộ, một nơi mà có thể đặt được được các cơ quan chính phủ và là nơi cư trú cho các thành viên hoàng thất. Để thực hiện công trình này Vĩnh Lạc đã cho huy động hơn 10 vạn dân phu, và sau 13 năm dài đầy đắng cay (1407-1420), Tử Cấm thành đã được hoàn thành và trở thành thủ đô cho hai đế quốc Minh-Thanh trong 500 năm tiếp theo.

Trong khi Minh Thái Tổ muốn bản thân và con cháu được chôn ở Hiếu lăng, Nam Kinh thì việc dời đô của Thành Tổ đã làm xuất hiện một việc cấp thiết là phải kiến tạo một lăng mộ hoàng gia mới. Sau khi được cố vấn bởi các thầy địa lý phong thủy, Vĩnh Lạc chọn một vùng đất phía bắc thành Bắc Kinh làm nơi xây dựng mộ phần của mình và các hoàng đế tiếp theo. Trong hơn 200 năm tiếp theo, 13 vị hoàng đế nhà MInh đã được chôn cất tại đây.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1403), Thành Tổ cho người biên soan một bộ bách khoa toàn thư, lấy tên là Vĩnh Lạc đại điển, với chủ biên là Thủ phụ đầu tiên của nhà Minh là Giải Tấn, một học giả tài danh đương thời cùng với 147 học giả khác. Bộ sách được biên soạn với mục đích gìn giữ bảo vệ văn hóa và văn học Trung Quốc bằng chữ. Đến năm 1408, bộ sách được hoàn thành, trở thành bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới và là bộ sách đồ sộ nhất của thể loại này, tuy nhiên vì quá to lớn, nên bộ sách không được in ra mà chỉ có 1 bản duy nhất, đến nay đã gần như mất dần với thời gian.

Minh Thành Tổ còn là người khoan dung với các tư tưởng triết học khác với mình (nhà vua là người theo đạo Khổng Mạnh), đối xử bình đẳng với các tôn giáo Phật-Đạo-Nho. Mặc dù các nho sinh đương thời xem ông là kẻ đạo đức giả, việc đối xử khoan dung và bình đẳng tôn giáo đã giúp ông có được sự yêu quý của nhân dân, củng cố sự thống nhất đế quốc. Việc xem trọng văn hóa truyền thống đã dấy lên làn sóng căm ghét văn hóa Mông Cổ còn sót lại ở Trung Quốc, hoàng đế xem việc ăn mặc, đặt tên, nói năng như người Mông Cổ là rác rưởi và ra lệnh cấm tiệt. Đạo Hồi dưới triều ông cũng rất phát triển, nhà vua đã ra lệnh xây thêm 2 nhà thờ Hồi giáo để truyền giáo. Ông được nhân dân đương thời gọi là "Vị Phật năng động".

Triệt phiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, nhận biết được tác hại của các phiên vương đối với hoàng quyền mà chính bản thân mình là ví dụ điển hình và thành công nhất, Thành Tổ quyết tâm triệt phiên. Nhưng rút được bài học từ Minh Huệ Đế triệt phiên quá vội vàng, thậm chí là mất hết nhân tính khi tru diệt nhiều phiên vương và không cân nhắc các biện pháp quân sự tương xứng, cũng như không muốn đế quốc mới thống nhất lại bị chia cắt và tàn phá bởi thêm 1 cuộc nội chiến nữa, Thành Tổ sử dụng các biện vỗ về an ủi các vương ngoài mặt nhưng ngấm ngầm thực hiện các mưu đồ suy yếu các phiên. Các phiên vương dần bị bãi bỏ binh quyền và thu giảm đất phong trong suốt thời kỳ trị vì của Thành Tổ. Cuối cùng các phiên vương trở thành những kẻ sống xa hoa lãng phí, ăn no nằm chờ chết và trở thành gánh nặng của đế quốc.

Ninh Vương Chu Quyền, người em thứ 17 của Thành Tổ, là một trong những đồng minh trung thành nhất và góp nhiều công lao trong việc giành lấy ngai vàng cho vua anh. Lực lượng của Ninh Vương là mạnh nhất sau Yên Vương thời đó, nên Thành Tổ lúc khởi sự đã hứa khi sự thành sẽ cùng hưởng chung thiên hạ với NInh Vương. Tuy nhiên khi lên ngôi, nhà vua đã ép Ninh Vương phải rời bỏ đất phong và chuyển về một vùng đất nghèo nàn hơn và bị bãi bỏ binh quyền. Ninh Vương chết trong uất ức, còn con cháu ông cũng mang lòng bất mãn với triều đình. Đỉnh điểm là hậu duệ Chu Thần Hào của Ninh Vương nổi binh làm phản dưới thời Chính Đức của Minh Vũ Tông, tuy nhiên đã bị đàn áp và thất bại, dòng dõi của Ninh Vương bị giết hết và biến mất.

Trị an[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thành Nam Kinh bị phá, Minh Huệ Đế đốt cung điện và Thành Tổ sai người tìm thấy một xác chết cháy đen không nhận biết được nên Thành Tổ nghi ngờ rằng Huệ Đế dùng kế kim thiền thoát xác và đang lẩn trốn trong dân gian. Thành Tổ lên ngôi lập tức hạ lệnh tái lập cơ quan mật vụ đầy tai tiếng dưới thời cha mình là Cẩm Y Vệ. Nhiệm vụ của Cẩm Y Vệ là bắt giữ và tra tấn các quan viên trung thành với Minh Huệ Đế, giám sát và có quyền bắt giữ các quan viên bị nghi ngờ là mang lòng phản nghịch, nhưng trọng yếu nhất là tìm và diệt "Kiến Văn dư đảng" bao gồm cả Huệ Đế dù sống hay chết. Cẩm Y Vệ được Thành Tổ giao cho một tướng lĩnh thân cận đã lập được nhiều công lao trong Tĩnh Nan chi dịch là Kỷ Cương làm Cẩm Y Vệ Chỉ huy sứ. Kỷ Cương ỷ được Thành Tổ yêu quý nên hoành hành ngang ngược, không việc ác nào không làm, thậm chí còn lén sai người chọn trong các tú nữ dâng lên cho hoàng đế để cướp những người đẹp nhất về cho mình.

Trái ngược với cha mình là Thái Tổ và người tiền nhiệm là Huệ Đế, những người mang ác cảm với hoạn quan, còn treo bảng hoạn quan can chính thì giết không tha, Thành Tổ lại cực kỳ tín nhiệm hoạn quan, vì nhờ các hoạn quan bị Huệ Đế ngược đãi đã bán tin mật của triều đình cho Thành Tổ, còn đem dâng Nam Kinh cho Thành Tổ. Khi Kỷ Cương dính vào án mưu phản, Kỷ Cương xin Thành Tổ niệm tình công lao bao năm nay, xin được chịu chết một mình và xin hoàng đế tha cho cả họ. Thành Tổ ban đầu cũng mủi lòng, nhưng khi nghe bọn tay chân của Kỷ Cương báo lại các việc làm của hắn trong đó có việc cướp tú nữ, Thành Tổ giận lắm, sai người tru di hết chín họ của Kỷ Cương, bản thân Kỷ Cương và đứa cháu bị lăng trì cắt từng miếng thịt. Qua sự việc này, Thành Tổ thấy Cẩm Y Vệ quyền hành lớn quá, che cả tai mắt nhà vua nên quyết định lập thêm một cơ quan mật vụ nữa để phân quyền với Cẩm Y Vệ. Năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1420), Thành Tổ cho thành lập Đông Tập Sự xưởng, gọi tắt là Đông Xưởng, do 1 hoạn quan thân tín đứng đầu, gọi là Xưởng công. Đông Xưởng cũng có nhiệm giám sát bách quan, truy bắt và tiêu diệt các phần tử phản nghịch với thêm 1 nhiệm vụ trọng yếu nữa là cùng Cẩm Y Vệ giám sát lẫn nhau. Việc này đã mở màn cho hoạn quan bước lên vũ đài chính trị, khi các nha môn của triều đình dần rơi vào tay hoạn quan, còn các hoạn quan được phái đi trấn thủ khắp các nơi trên đất nước. Việc tranh chấp giữa Xưởng và Vệ, các quan lại sĩ lâm và lực lượng hoạn quan vô tình đã đẩy nhà Minh vào bờ vực bất ổn rồi đến suy yếu và diệt vong, khi các quân chủ đời sau không còn đủ khả năng để kiểm soát hoàn toàn các lực lượng này. Các hoạn quan nhà Minh đã vì lợi ích bản thân mà làm suy yếu đế quốc điển hình là Vương Chấn, Uông Trực, Lưu Cẩn và nổi tiếng nhất vì đã trực tiếp làm nhà Minh đi đến bờ diệt vong là Ngụy Trung Hiền.

Chính sách đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Mông Cổ tuy đã bị đuổi ra khỏi Trung Quốc bởi hoàng đế Hồng Vũ nhưng vẫn là một kình địch đáng gờm của nhà Minh. Quân Mông Cổ du mục vẫn còn gây ra một số bất ổn cho nhà Minh. Vĩnh Lạc đã chuẩn bị để loại trừ mối đe dọa này. Ông sửa chữa hệ thống phòng thủ phía Bắc và xây dựng đội quân liên minh ở vùng đệm với Mông Cổ. Chiến lược của ông là để buộc người Mông Cổ vào phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc và tiến hành tiến đánh định kì vào Mông Cổ để làm tê liệt sức mạnh của họ. Ông thậm chí còn thành công trong việc buộc Mông Cổ trở thành một chư hầu nhà Minh, và tiến hành cô lập người Mông Cổ. Thông qua chiến đấu, Minh Thành Tổ đã đánh giá cao tầm quan trọng của kỵ binh trong chiến trận và đã dành nhiều nguồn lực để phát triển nó. Vĩnh Lạc dành cả đời để đánh Mông Cổ, có cả thắng thua, tuy nhiên qua các cuộc chinh phạt này biên giới nhà Minh được mở rộng và trong lần chinh phạt thứ 2 đã giúp cho Đại Minh có được hòa bình ở phía bắc trong bảy năm. Ông thực hiện 5 cuộc viễn chinh vào sa mạc GobiSiberia và nghiền nát những tàn tích còn sót của triều đại nhà Nguyên, sau khi chúng đã bỏ chạy xa về phía bắc do bị đánh bại bởi Chu Nguyên Chương, diễn ra từ năm 1410 đến năm 1424.

Lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Minh gửi sứ giả đến Đông Mông Cổ đòi nước này phải thần phục và cống nạp cho nhà Minh. Năm 1409, Bunyashiri thủ lĩnh Đông Mông Cổ cho chém sứ giả nhà Minh. Ngược lại, Mahmud của Ngõa Lạt Mông Cổ (Tây Mông Cổ) lại cho sứ thần đến cống nạp cho nhà Minh vào năm 1408. Nhà Minh đã lợi dụng mối quan hệ này một cách thành công trong việc chống lại Đông Mông Cổ.

Mùa đông năm 1409, Vĩnh Lạc triệu tập quân đội, trưng thu lương thảo chuẩn bị cho chiến tranh. Tháng ba năm 1410, nhà vua rời khỏi Bắc Kinh với 10 vạn đại quân, 3 vạn xe chở lương thảo. Khi đến bờ bắc sông Kerulen, hoàng đế cho khắc vào đá :"Năm Vĩnh Lạc thứ 8, Hoàng đế nhà Đại Minh đã qua đây với 6 đạo quân để chinh phạt bọn kẻ cướp Man Di".

Bunyashiri muốn bỏ chạy khỏi quân Minh, nhưng Arughtai không đồng ý nên hai thủ lĩnh Mông Cổ mang theo quân của mình đi theo 2 hướng khác nhau. Quân Minh đuổi theo Bunyashiri, đánh bại và tiêu diệt gần hết đội quân này, tuy nhiên Bunyashiri trốn thoát với một số cận vệ. Sau đó, quân Minh đuổi theo và đánh bại Arughtai, còn Arughtai cũng trốn thoát được quân Minh. Vĩnh Lạc hoàng đế trở về Bắc Kinh vào tháng 9.

Arughtai sau khi bị đánh bại, vì sợ sức mạnh quân sự của nhà Minh và muốn có hàng hóa qua buôn bán nên đồng ý thần phục và cống nạp cho nhà MInh. Còn Bunyashiri bị quân Ngõa Lạt bắt và giết vào năm 1412.

Lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đình nhà nhà Minh ngày càng coi thường và có thái độ tiêu cực với Ngõa Lạt. Hoàng đế Vĩnh Lạc từ chối khen thưởng cho Mahmud và quân Ngõa Lạt những người đã chiến đấu chống lại Bunyashiri và Arughtai. Mahmud ngày càng tức giận vì bị coi thường bởi vua Minh và đã bắt giữ sứ đoàn nhà Minh, nên Vĩnh Lạc phải phái một hoạn quan đến đảm bảo an toàn và phóng thích cho sứ đoàn.

Cảm thấy bị đe dọa, Mahmud đã huy động 3 vạn quân Ngõa Lạt Mông Cổ tiến đến sông Kerulen chống lại nhà Minh vào năm 1413. Cuối năm đó, Arughtai thông báo cho nhà Minh là Mahmud đã vượt sông Kerulen chuẩn bị khai chiến với quân Minh. Tháng 4 năm 1414, Vĩnh Lạc xuất quân khỏi Bắc Kinh để đối đầu với Ngõa Lạt. Quân Minh tiến đến Kerulen, và gặp phải quân Ngõa Lạt ở thượng nguồn sông Tula. Quân Ngõa Lạt bị choáng với các cuộc pháo kích của pháo binh nhà Minh nên bị tổn thất nghiêm trọng và buộc phải rút lui. Mahmud trốn thoát cùng với Delbek, một khả hãn bù nhìn. Vĩnh Lạc khải hoàn về Bắc Kinh vào tháng 8.

Arughtai viện cớ bị bệnh nên không tham gia cuộc chiến, còn Mahmud muốn nối lại hòa bình với nhà Minh, mặc dù Vĩnh Lạc nghi ngờ sự trung thực của Mahmud. Dù sao, vào năm 1416, Mahmud và Delbek đã bị Arughtai tấn công và giết chết.

Lần thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Arughtai muốn nhận được phần thưởng của mình vì đã cung cấp tình báo cho quân Minh. Tuy nhiên, Vĩnh Lạc chỉ ban cho Arughtai và mẹ mình tước hiệu chứ không phải các đặc quyền kinh tế. Việc này khiến Arughtai ngày càng thù địch nhà Minh và bắt đầu tấn công các thương đoàn phía bắc Trung Quốc. Năm 1421, Arughtai ngừng gửi cống nạp cho nhà Minh. Năm 1422, Arughtai tấn công và phá hủy 1 vài pháo đài phía bắc nhà Minh. Việc này đã buộc nhà Minh phải chuẩn bị cho cuộc chinh phạt thứ 3.

Ở triều đình nhà Minh, các đại thần của Vĩnh Lạc khuyên can ông không nên động binh vì quốc khố sẽ trở nên trống rỗng. Vĩnh Lạc bỏ ngoài tai những lời này, trong số các vị thượng thư khuyên can, 1 người tự sát còn 2 người thì bị bỏ ngục.

Tháng 4 năm 1422, Vĩnh Lạc khởi 23 vạn đại quân từ Bắc Kinh tiến đến Dolon, nơi Arughtai đang đóng trại. Quân Minh gây hoảng sợ cho Arughtai, kẻ bị buộc phải tránh giao chiến với quân Minh và rút vào thảo nguyên. Quân Minh đáp trả bằng các cuộc cướp bóc vào trại của Arughtai. Tình huống bực bội này đã làm cho Vĩnh Lạc chuyển hướng tấn công và cướp bóc đẫm máu sang bộ tộc Urianghai, trong khi bộ tộc này không hề dính dáng đến sự thù địch của Arughtai. Những kiểu tấn công này được lập lại trong các chiến dịch sau. Quân Minh trở về Bắc Kinh vào tháng 9.

Lần thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1423, Vĩnh Lạc phát động một đòn tấn công phủ đầu vào lực lượng của Arughtai vào tháng tám. Tuy nhiên Arughtai lại tránh giao chiến với quân Minh. Ésen Tugel, một tướng lĩnh của Đông Mông Cổ đã đầu hàng nhà Minh. Quân Minh về Bắc Kinh vào tháng 12.

Lần thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Arughtai tiếp tục các cuộc tấn công cướp bóc vào Khai Bình và Đại Đồng. Năm 1424, Vĩnh Lạc đáp trả bằng cách phát động chiến dịch thứ 5 đánh Mông Cổ, ông tập hợp quân đội ở Bắc Kinh và Tuyên Phủ, vào tháng tư thì khởi binh đánh Arughtai. Cũng như các lần trước, Arughtai tránh giao chiến với quân Minh và lui về thảo nguyên. Các tướng lĩnh nhà Minh đề nghị truy kích Arughtai bằng cách thọc sâu vào thảo nguyên Mông Cổ nhưng Vĩnh Lạc, lúc này đã già, cho rằng làm vậy là quá sức mình, đã hạ lệnh lui quân.

Đại Ngu - Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Minh Trung Quốc dưới triều đại Vĩnh Lạc (1424)

Đại Việt, với tên gọi mới Đại Ngu từ năm 1400, là 1 vấn đề hóc búa trong suốt triều đại của Minh Thành Tổ. Năm 1406, Hoàng đế Vĩnh Lạc chính thức đáp lại các thỉnh cầu từ Trần Thiêm Bình - người xưng là dòng dõi nhà Trần đã bị nhà Hồ lật đổ năm 1400. Tuy nhiên khi trở về nước, Trần Thiêm Bình và tướng lĩnh, quân đội nhà Minh đi cùng đã bị quân nhà Hồ đánh bại và bủa vây. Tướng Hoàng Trung phải nhượng bộ xin giao nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ bắt giết để được mở đường rút quân về nước.

Để đáp lại sự sỉ nhục này, hoàng đế Vĩnh Lạc đã đem 2 đạo quân xâm lược Đại Ngu. Với thất bại của nhà Hồ năm 1407, Trung Quốc đã bắt đầu âm mưu đồng hóa 1 cách lâu dài. Vĩnh Lạc cho người đốt hết những sách vở, phá hủy những bia đá có khắc văn tự của người Việt, bắt những thợ thủ công có tay nghề cao người Việt thiến đi rồi đưa về Trung Quốc để phục dịch, lại đàn áp, tăng sưu thuế bắt người Việt phải phục dịch quân Minh. Nhưng những nỗ lực đó vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của người Việt. Nhiều cuộc nổi dậy nổ ra chống lại các bộ máy xâm lược nhà Minh. Minh Thành Tổ đã điều các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ sang dẹp các cuộc cuộc khởi nghĩa mà lớn nhất ban đầu là phong trào của các quý tộc nhà Trần cũ là Trần NgỗiTrần Quý Khoáng. Sau khi họ Trần thất bại, vào đầu năm 1418 một cuộc nổi dậy lớn do Lê Lợi khởi xướng. Do thời gian Hoàng đế Vĩnh Lạc qua đời đúng vào năm 1424, các lực lượng người Việt dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiếm gần như toàn bộ lại vương quốc. Năm 1427, Minh Tuyên Tông đã từ bỏ những nỗ lực bắt đầu bởi ông nội của ông và chính thức thừa nhận nền độc lập của Việt Nam với điều kiện Đại Việt chấp nhận tình trạng chư hầu và phải cống nạp người vàng tượng trưng cho Liễu Thăng bị giết ở ải Chi Lăng mỗi lần đi sứ. Lê Lợi sáng lập triều đại nhà Hậu Lê.

Timurid[sửa | sửa mã nguồn]

Timur Lenk sau khi đã thành lập nên đế quốc Timurid của mình, bắt đầu lên kế hoạch chinh phục Trung Quốc. Vì việc này ông đã thành lập liên minh với nhà Bắc Nguyên và cho bắt giữ một phái đoàn của nhà Minh. Tháng 12 năm 1404, Timur phát động một chiến dịch quân sự chống lại nhà Minh, tuy nhiên quân đội của ông đã phải hứng chịu cái lạnh và dịch bệnh ở bờ sông Sihon, nơi ông đóng quân. Đó là một trong những mùa đông khắc nghiệt nhất trong lịch sử, tương truyền quân của Timur đã phải đào sâu mấy chục thước vào lòng đất để tìm nước. Bản thân Timur mất vì bệnh ở trong quân vào tháng 2 năm 1405, trước khi đến được biên giới Trung Quốc. Chiến dịch bị hủy bỏ và phái đoàn nhà Minh được trả về.

Tây Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1403, Vĩnh Lạc cho gửi sứ giả và lễ vật đến Tây Tạng để mời Deshin Shekpa, người đứng đầu phái Kagyu, đến thăm kinh đô của mình, có vẻ như nhà vua đã mơ thấy Quán Thế Âm. Sau một chuyến hành trình dài, Deshin Shekpa tới Nam Kinh vào năm 1407, cưỡi trên một con voi thẳng tới cung điện nơi có hàng vạn nhà sư chờ để đón ông.

Deshin Shekpa khuyên hoàng đế rằng có nhiều tôn giáo khác nhau cho những người khác nhau, có nghĩa là không tôn giáo nào tốt hơn tôn giáo nào. Nhiều người còn cho rằng đã thấy điềm lành trên trời khi Deshin Shekpa ở tại Nam Kinh. Deshin Shekpa còn thực hiện một số nghi lễ cho hoàng gia. Vĩnh Lạc đã tặng ông rất nhiều vàng lụa.

Ngoài vấn đề tôn giáo, Vĩnh Lạc còn muốn thành lập một liên minh với Tây Tạng, thậm chí còn muốn gửi quân đến giúp thống nhất Tây Tạng dưới trướng của phái Kagyu nhưng Deshin Shekpa từ chối vì lúc này một phần Tây Tạng vẫn còn nằm dưới quyền những người ủng hộ nhà Nguyên. Năm 1408, Deshin Shekpa rời khỏi Nam Kinh về Tây Tạng.

Những cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Vì mong muốn mở rộng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ra khắp thế giới, Minh Thành Tổ đã tài trợ cho các chuyến thám hiểm hoành tráng và dài hạn của Trịnh Hòa. Trong khi thuyền buôn Trung Hoa tiếp tục đến Nhật Bản, Lưu CầuĐông Nam Á trước và sau thời Vĩnh Lạc, các chuyến đi của Trịnh Hòa là những chuyến thám hiểm thế giới quan trọng duy nhất bằng đường biển của Trung Quốc. Chuyến thám hiểm đầu tiên do Trịnh Hòa chỉ huy khởi hành vào năm 1405, 18 năm trước khi Henry Nhà hàng hải bắt đầu các chuyến du hành khám phá của người Bồ Đào Nha. Bảy chuyến thám hiểm diễn ra từ năm 1405 đến 1433, đoàn thám hiểm đã đến các trung tâm thương mại của Châu Á thời đó. Một số chiếc thuyền được coi là thuyền chèo bằng gỗ lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Năm 1406, hoàng đế Vĩnh Lạc cảm thấy kinh hãi khi người Lưu Cầu cho thiến nhiều bé trai để đưa đến phục vụ cho hoàng đế. Vĩnh Lạc trả lại những đứa bé này, nói chúng vô tội và không đáng bị như thế, lại hạ lệnh cho người Lưu Cầu sau này không được làm thế nữa. Sau cái chết của Timur, kẻ định xâm lược Trung Hoa, quan hệ ngoại giao giữa nhà Minh và Shakhrukh, vua của Ba Tư và Transoxania đã được cải thiện đáng kể. Hai nước đã cho trao đổi các phái đoàn chính thức vào một số dịp.

Các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa là những thành tựu vượt bậc về kỹ thuật và công tác hậu cần của Trung Hoa. Những người thừa kế của Vĩnh Lạc, Hồng HiTuyên Đức, lại cho rằng các chuyến thám hiểm này là gánh nặng với ngân khố quốc gia. Hoàng đế Hồng Hi cho chấm dứt các chuyến đi, tuy nhiên một chuyến thám hiểm cuối cùng được diễn ra vào những năm Tuyên Đức. Các hậu duệ của hoàng đế Tuyên Đức cho đè nén và hủy bỏ nhiều tư liệu, thông tin về các chuyến hải hành của Trịnh Hòa.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chọn ngôi Thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Thành Tổ có 4 con trai, 3 người đầu được sinh bởi Từ Hoàng hậu, người con út chết non. Trong đó người con thứ 3 Chu Cao Toại tuổi nhỏ, nên ngôi Thái tử là cuộc tranh giành giữa người con trưởng Chu Cao Sí và con thứ là Chu Cao Húc. Chu Cao Sí dáng người mập mạp, lại hay bệnh tật từ nhỏ, tính tình lại hiền lành, thích đọc sách, trái ngược với Thành Tổ là người tàn nhẫn và hiếu võ nên vua không thích người con này. Chu Cao Húc lại giống cha, diện mạo khôi ngô, tính nóng nảy lại thích giết người, võ nghệ giỏi giang, không thích đọc sách, khi có loạn Tĩnh Nan, cầm quân một phía chống lại quan quân triều đình, lúc Thành Tổ gặp nguy từng lấy thân ra chắn cho cha, nên được vua rất yêu thích.

Thành Tổ lên ngôi, muốn lập con thứ, nhưng bị Từ Hoàng hậu và các đại thần phản đối, lý do là theo tổ chế phải lập trưởng không lập ấu, vả lại Cao Sí lúc chiến tranh ở hậu phương gìn giữ căn cứ trước quân triều đình, chi viện cho đại quân, công lao không kém Cao Húc, lại không phạm lỗi lầm, phải lập làm Thái tử. Vua còn do dự, các đại thần tâu rằng: "Xin hãy xem cháu của bệ hạ". Chu Cao Húc dòng dõi không vượng, ít con. Còn dòng Chu Cao Sí thì thịnh vượng, con trưởng của Cao Sí là Chu Chiêm Cơ tuổi nhỏ lại gan dạ, tính thông minh, giỏi cả văn võ. Thành Tổ không thích con trưởng nhưng lại cực kỳ quý đứa cháu này. Tương truyền 100 ngày trước khi Minh Thái Tổ mất, lúc ấy vợ của Chu Cao Sí đang mang thai, Yên Vương Chu Đệ nằm mộng thấy cha mình trao cho ông ngọc tỷ ám chỉ rằng ngôi vua sẽ thuộc về ông. Chu Đệ tỉnh dậy, cùng ngày Chu Chiêm Cơ ra đời, Chu Đệ cho rằng đứa bé là điềm lành, khi lớn lên lại thông minh gan dạ, Chu Đệ cho rằng đứa cháu chính là Thái Tổ đầu thai nên quý lắm. Khi nghe các đại thần tâu, vua quyết định ngay, lập Chu Cao Sí làm thái Thái tử.

Chu Cao Húc thấy vậy tức lắm, bàn mưu với Kỷ Cương muốn học cha mình, đem quân tạo phản. Mưu mô bị phát giác, Kỷ Cương bị tru di, còn Chu Cao Húc bị bắt đến trước mặt Thành Tổ. Vua giận lắm, muốn giết Cao Húc. Thái tử lại niệm tình anh em, xin tha chết cho Cao Húc, vua liền mắng Thái tử là đồ lòng dạ đàn bà nhưng quả thật không nỡ giết con. Chu Cao Húc lại lập lời thề độc nếu mang lòng phản nghịch nữa thì bị ném vào vạc dầu. Vua bèn hỏi cháu là Chu Chiêm Cơ, lúc này mới hơn 10 tuổi: "Chú của của cháu mang lòng phản, Trẫm ở đây nó không dám làm gì, Trẫm không còn nữa, nó lại mưu nghịch thì sao?", Chu Chiêm Cơ đáp rằng :"Cháu không sợ". Vua nghe thế vui lắm liền tha mạng cho Chu Cao Húc, nhưng bị biếm đi làm Hán Vương ở Vân Nam. Sau này vào thời Tuyên Đức, Chu Cao Húc lại muốn làm phản, Chu Chiêm Cơ đích thân dẫn quân đến bắt được, hành quyết mấy người con trai của Hán Vương cùng mấy trăm quan viên. Còn Chu Cao Húc thì bị trói vào cột mà thiêu tới chết cho ứng với lời thề.

Hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Thành Tổ lấy con gái của đại tướng Từ Đạt làm vợ, lên ngôi thì phong bà làm Hoàng hậu, chẳng may bà mất sớm, vua thương tiếc lắm, không lập hoàng hậu nữa. Sau có người con gái Triều Tiên dâng lên cho vua, xinh đẹp lại thông minh, vua yêu lắm, lập làm Quyền phi. Khi vua đi đánh Mông Cổ, bà cũng tháp tùng theo. Tuy nhiên sau đó bà lại mắc bệnh chết ở trong hành cung, vua điều tra thì cho rằng đây là mưu sát nhưng là nhắm vào chính Thành Tổ. Vua ngay sau đó bắt giết hơn 3000 người phục dịch để trả thù, rồi sai người sang Triều Tiên tìm người nhà Quyền phi chu cấp cho vàng bạc. Có tin đồn rằng trong những năm cuối đời nhà vua đã bị chứng bất lực, nhưng đến nay vẫn chưa thể chứng thực.

Mất[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đi đánh Mông Cổ lần thứ 5, bất lực khi không thể đuổi theo kẻ địch nhanh nhẹn, Vĩnh Lạc từ bực bội chuyển sang trầm cảm, rồi thành bệnh, cõ lẽ là những cơn đột quỵ nhỏ. Ông băng hà khi đang hành quân về Bắc Kinh vào tháng 8 năm 1424, hưởng dương 64 tuổi. Tin ông mất được giữ kín, cho đến lúc về đến Bắc Kinh mới phát tang. Con trưởng ông là Thái tử Chu Cao Sí lên nối ngôi, tức là Minh Nhân Tông. Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc hoàng đế được chôn cất ở Trường Lăng trong Minh Thập Tam Lăng, phía bắc Bắc Kinh.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời của MInh Thành Tổ là một sự truy cầu quyền lực, uy danh và vinh quang. Ông bị coi là phản nghịch, thoán vị cháu của mình, nhưng đã chứng minh được bản thân xứng đáng là hoàng đế hơn, là một người có thể tiếp nối các di sản của Minh Thái Tổ. Ông trái lại với tổ huấn của vua cha, dời đô về bắc, mở cửa buôn bán, thực hiện các chiến dịch tấn công thẳng vào quân Mông Cổ nhưng triều Minh dưới thời ông hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự, bản đồ được mở rộng. Nhờ vào các cuộc hải trình của Trịnh Hòa, Trung Quốc biết được thêm nhiều vùng đất mới trên thế giới. Ông chăm chỉ làm việc để gìn giữ và phát huy văn hóa truyền thống Trung Quốc. Các cải cách của Thành Tổ về kinh tế, giáo dục và quân sự đem lại những lợi ích chưa từng có cho người dân và đất nước. Các thành tựu về quân sự và tài cầm quân của ông chỉ có một số ít người trên thế giới có thề sánh được. Bản đồ nhà Minh dưới thời Vĩnh Lạc là to lớn nhất, tuy nhiên sau khi ông mất thì nhân dân các nước bị đô hộ đó đều giành lại được lãnh thổ và độc lập. Quân đội nhà Minh lúc cực thịnh dưới thời ông có hơn 1 triệu 2 trăm nghìn người, tuy nhiên đội quân này đã mất các khả năng thực hiện các chiến dịch phản công vì các quân chủ đời sau không biết gì về quân sự. Ông cũng đã đặt nền móng cho sự loạn chính của hoạn quan và chế độ gián điệp đã hàm oan bao nhiêu người, dẫn đến sự bất ổn và suy vong của nhà Minh. Triều đại của ông được xem là một phước lành nhưng đầy máu tươi của nhân dân Trung Quốc.

Minh Thành Tổ giành được ngai vàng trên chiến trường nên vẫn thường được xem như là vị hoàng đế khai quốc thứ 2 của nhà Minh. Công lao của ông với đất nước, văn trị hay võ công, đều chỉ có thể so sánh với các vị đại đế như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Tống Thái Tổ. Hoàng đế Khang Hy nhà Thanh đã từng viết về triều đại và sự cai trị của ông: "Trị long Đường Tống" (cai trị tốt hơn cả Đường Tống).

Cũng như cha mình là Thái Tổ, Thành Tổ được nhớ đến nhiều như một trong các bạo quân nổi tiếng trong lịch sử. Tuy nhiên khác với cha, ông không tru sát các công thần giúp mình giành thiên hạ mà vẫn trọng dụng họ. Khi biết ái phi của mình bị mưu sát, ông đã hạ lệnh lăng trì 3000 cung nhân phục vụ bị cho là có liên quan đến cái chết của ái phi và ngồi chứng kiến cuộc hành hình. Ông trọng dụng thái giám, một lệ không tốt khi các quân chủ đời sau không lo việc nước mà giao hết cho hoạn quan như Anh Tông, Hiến Tông,Vũ Tông và nổi bật là Hy Tông. Ông cho bắt bớ, tra tấn và tàn sát các quan viên trung thành với Huệ Đế và gia quyến của họ. Ông cũng tự biết mình tàn bạo quá, đã cho người đúc chuông Vĩnh Lạc để thể hiện sự ăn năn và hối hận, tuy nhiên khi băng hà ông cũng để lại chiếu bắt 30 cung nga xinh đẹp phải thắt cổ rồi bồi táng chung với ông. Bất chấp những điều này, Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc hoàng đế Chu Đệ vẫn được xem như một kiến trúc sư và nhà gìn giữ văn hóa, lịch sử, chế độ và là một hoàng đế có ảnh hưởng lớn đối với Trung Quốc.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nhân Hiếu Văn hoàng hậu Từ thị.
  2. Chiêu Hiến quý phi Vương thị (昭献贵妃 王氏, ? - 1420).
  3. Chiêu Ý quý phi Trương thị (昭懿貴妃 張氏).
  4. Cung Hiến Hiền phi Quyền thị (恭献贤妃 权氏, ? - 1410), người Triều Tiên.
  5. Trung Kính Chiêu Thuận Hiền phi Dụ thị (忠敬昭順賢妃 喻氏, ? - 1421).
  6. Khang Mục Ý Cung Huệ phi Ngô thị (康穆懿恭惠妃 吳氏).
  7. Cung Thuận Vinh Mục Lệ phi Trần thị (恭順榮穆麗妃 陳氏).
  8. Đoan Tĩnh Cung Huệ Thục phi Dương thị (端靜恭惠淑妃 楊氏).
  9. Cung Hòa Vinh Thuận Hiền phi Vương thị (恭和榮順賢妃 王氏).
  10. Chiêu Huệ Cung Ý Thuận phi Vương thị (昭惠恭懿順妃 王氏).
  11. Huệ Mục Chiêu Kính Thuận phi Tiền thị (惠穆昭敬順妃 錢氏).
  12. Khang Huệ Trang Thục Lệ phi Hàn thị (康惠莊淑麗妃 韓氏), người Triều Tiên, tuẫn táng cùng Thành Tổ.
  13. Khang Tĩnh Trang Hòa Huệ phi Thôi thị (康靖莊和惠妃 崔氏), người Triều Tiên.
  14. An Thuận Huệ phi Long thị (安順惠妃 龍氏).
  15. Chiêu Thuận Đức phi Lưu thị (昭順德妃 劉氏).
  16. Khang Ý Thuận phi Lý thị (康懿順妃 李氏).
  17. Huệ Mục Thuận phi Quách thị (惠穆順妃 郭氏).
  18. Trinh Tĩnh Thuận phi Trương thị (貞靜順妃 張氏).
  19. Thuận phi Nhậm thị (順妃任氏).
  20. Chiêu nghi Lý thị (昭儀李氏).
  21. Tiệp dư Lữ thị (婕妤呂氏).
  22. Cung Vinh mỹ nhân Vương thị (恭榮美人王氏).
  23. Cảnh Huệ mỹ nhân Lọ thị (景惠美人盧氏).
  24. Trang Huệ mỹ nhân (莊惠美人).
  • Con trai:
  1. Trưởng hoàng tử Chu Cao Sí [朱高炽], tức Minh Nhân Tông, mẹ là Nhân Hiếu Văn hoàng hậu.
  2. Hán vương Chu Cao Hú [朱高煦, 1380 - 1420], mẹ là Nhân Hiếu Văn hoàng hậu.
  3. Triệu Giản vương Chu Cao Toại [朱高燧, 1383 - 1431], mẹ là Nhân Hiếu Văn hoàng hậu.
  4. Tứ hoàng tử Chu Cao Tuấn [朱高爔, 1392], mẹ là Khang Mục Ý Cung Huệ phi Ngô thị, chết non.
  • Con gái:
  1. Vĩnh An công chúa (永安公主).
  2. Vĩnh Bình công chúa (永平公主).
  3. An Thành công chúa (安成公主).
  4. Hàm Trữ công chúa (咸宁公主).
  5. Thường Trữ công chúa (常宁公主).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng tại đây tính theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Chu Đệ, từ ngai vàng đẫm máu đến sở thích giết người, Báo điện tử người đưa tin