Lục bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lục bộ hay sáu bộ là thuật ngữ chỉ sáu cơ quan chức năng cao cấp trong tổ chức triều đình quân chủ Á Đông.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Phủ phụ chánh triều vua Duy Tân. Từ trái sang phải: Tôn Thất Hân (thượng thư bộ hình), Nguyễn Hữu Bài (thượng thư bộ lại), Huỳnh Côn (thượng thư bộ lễ), Hoàng thân Miên Lịch, Lê Trinh (thựơng thư bộ công), Cao Xuân Dục (thượng thư bộ học)

Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư, giúp việc có tả thị lang, hữu thị lang (thời Lý - Trần - ) hoặc tham tri (thời Nguyễn). Chức vị hàng thứ ba thời Nguyễn là thị lang.

Dưới cấp bộ là ty. Đứng đầu mỗi ty là lang trung với viên ngoại lang và chủ sự giúp sức.[1]

Năm 1089, Lý Nhân Tông bắt đầu đặt các bộ nhưng chưa đủ. Đời Trần có các bộ đặt dưới quyền điều khiển của tướng quốc.

Đầu thời Lê sơ, có hai bộ là bộ Lại và bộ Lễ[2].

Đến đời Lê Nghi Dân (1459) triều đình nước Việt được tổ chức dựa theo hệ thống của Trung Hoa mới chính thức đặt đủ Lục bộ.

Thời Lê Thánh Tông vẫn giữ nguyên và đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của hoàng đế. Các triều đại sau tiếp tục duy trì.

Quan văn, quan võ được xếp theo 6 bộ: bộ Lại; bộ Lễ; bộ Hộ; bộ Binh; bộ Hìnhbộ Công.

Bộ Lại[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Lại
Tranh vẽ Bộ Lại thời nhà Nguyễn

Bộ Lại hoặc Lại bộ là bộ giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn. Đứng đầu Bộ Lại là Thượng thư bộ Lại (Lại bộ Thượng thư).

Những quan bộ Lại danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Cư Trinh (1716 - 1767): Danh thần đời Nguyễn Phúc Khoát, quê Thừa Thiên, Huế. Ông là người văn võ song toàn, đỗ hương cống, làm quan Thượng thư Bộ Lại. Nhiều lần cầm binh đánh dẹp, khai hoang lập ấp, phát triển bờ cõi phía Nam, lập công lớn trong việc chiêu dụ, mở nước, an dân. Ông rất được trọng vọng bởi am tường chính trị, doanh điền, ngoại giao, có bản tính liêm khiết và phong thái tao nhã. Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, độc đáo nhất là Độc Am thi tậpbài vè 340 câu Sãi vãi.[3]

Bộ Lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Bộ Lễ thời nhà Nguyễn

Bộ Lễ giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, thi cử, áo mũ, ấn tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chầu mừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng lục, đạo lục, giáo phường, đồng văn nhã nhạc. Bộ này trông coi việc tổ chức và kiểm soát vấn đề thi cử (thi Nho học khoa cử) chọn người tài ra giúp triều đình; tương đương với bộ học thời cận đại và bộ giáo dụcbộ văn hóa thông tin ngày nay.

Những quan bộ Lễ danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa khoa Quý Mùi (1463), được cử đi sứ Trung Quốc năm 1470, được thăng Thượng thư bộ Lễ năm 1483 (niên hiệu Hồng Đức 14), người khởi xướng việc chuẩn hóa định danh tiến sĩ theo quy định năm 1472 của vua Lê Thánh Tông, một trong những người lập nên các bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn miếu - Quốc tử giám, thành viên của Tao đàn nhị thập bát tú.
  • Nguyễn Sư Mạnh đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Được bổ làm quan Thượng thư Bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu, cử đi sứ Trung Quốc năm 1500.[4]
  • Phạm Gia Mỗ (1476 - 1548): Văn thần thời Lê sơ và Mạc, quê Hải Dương. Giỏi ứng biến, nhiều mưu lược, đỗ tiến sĩ năm 1505, làm quan Thượng thư Bộ Lễ. Nhà Lê suy yếu, ông kết thông gia và ngầm giúp đỡ Mạc Đăng Dung lộng quyền, đảo chính, lập ra nhà Mạc, nên được thăng tới chức Thái sư (Tể tướng). Ông nổi tiếng bởi bản tính hoạt bát và tác phong quyết đoán.[3]
  • Phan Huy Vịnh (1800 - 1870): Danh sĩ đời Tự Đức, quê Hà Tĩnh. Đỗ cử nhân năm 1828, làm quan Thượng thư Bộ Lễ. Am hiểu văn hoá, có tài thi ca, lại từng hai lần đi sứ Trung Quốc, ông để lại nhiều bài thơ du ký rất hay và bản dịch Tỳ bà hành (của Bạch Cư Dị) được coi là tác phẩm dịch thuật thành công nhất của văn học Việt Nam.[3]

Bộ Hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiết hơn xem tại bài bộ Hộ
Tranh vẽ Bộ Hộ thời nhà Nguyễn

Bộ Hộ thời Lê giữ việc ruộng đất, nhân khẩu, kho tàng, thu phát, bổng lộc, đồ cống nạp, thuế khoá, muối và sắt. Bộ Hộ thời Nguyễn giữ chính sách điền thổ, hộ khẩu, tiền thóc, điều hòa nguồn của cải nhà nước.

Một vài quan bộ Hộ danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Tông Khuê (1692-1766): Danh thần thời Lê Mạt, quê Thái Bình. Rất giỏi văn chương, đỗ tiến sĩ năm 29 tuổi, làm quan đến Thị lang bộ Hộ và từng hai lần thống lĩnh đoàn đi sứ Trung Quốc. Khảng khái, cương trực và tài hoa, ông được sĩ phu đương thời ngưỡng mộ, đánh giá là một trong bốn người giỏi nhất kinh đô (Tràng An tứ hổ).
  • Phạm Phú Thứ (chữ Hán: 范富恕; 18201883) là một đại thần triều nhà Nguyễn. Ông cùng với Nguyễn Trường Tộ là những người có quan điểm canh tân đất nước trong những năm cuối thế kỷ 19. Năm 1863, ông được bổ nhiệm chức Tham tri bộ Lại, hàm Tòng Nhị phẩm. Cùng năm đó, ông được cử làm phó sứ trong phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc 3 tỉnh miền đông Nam kỳ.Trong khi ở Pháp ông còn đi thăm các nước châu Âu khác như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Qua chuyến đi này, ông rút ra được nhận thức rằng, chỉ có con đường canh tân mới giúp đất nước thoát khỏi thảm họa lạc hậu. Sau khi về nước, năm 1866 ông được thăng chức Thượng thư bộ Hộ.

[3]

Bộ Binh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Binh (bộ)

Bộ Binh giữ việc binh nhung, quân cấm vệ, xe ngựa, đồ nghí trượng, khí giới, giữ việc biên giới, lính thú, nhà trạm, phố xá, nơi hiểm yếu, việc khẩn cấp, tuyển dụng chức võ.

Thời nhà Nguyễn, Bộ Binh gồm có bốn ty và một xứ. Bốn ty là ty Võ tuyển, ty Kinh kỳ, ty Trực tỉnh, ty Khảo công. Một xứ là xứ Binh trực. Mỗi ty có các quan lang trung, viên ngoại, chủ sự, và tư vụ cùng các thư lại phụ tá.

Ty Võ tuyển trông coi quan chế, phẩm trật, tuyển bổ, xét thưởng.

Ty Kinh kỳ riêng giám sát các võ quan cũng như các việc phòng thủ, diễn tập tại kinh thành. Công việc hầu giá khi vua đi tuần du và công nhu ở Bộ đường cũng do ty này đảm nhiệm.

Ty Trực tỉnh trông coi võ bị ở các tỉnh.

Ty Khảo công được giao việc quản lý các trạm dịch.

Xứ Binh trực là cơ quan trừ bị với nhân sự là thư lại chưa vào ngạch. Xứ này chủ yếu đảm nhiệm các việc thư tịch và khi cần thì chịu lệnh từ các ty.[5]

Bộ Hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiết hơn xem tại bài Bộ Hình

Bộ Hình giữ việc luật lệnh, hình phạt án tù, ngục tụng và xét xử người phạm tội ngũ hình.

Những quan bộ Hình danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Trọng Thứ (1704 - 1783). Danh sĩ thời Lê Mạc, quê Thái Bình. Nổi tiếng văn thơ, giỏi việc chính trị, đỗ đồng tiến sĩ năm 1724, làm quan Thượng thư Bộ Hình. Thông thái, nhiệt tình, giao lưu rộng, ông được sĩ phu khắp nơi quý mến. Ông là cha của nhà bác học thiên tài Lê Quý Đôn.[3]

Bộ Công[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiết hơn xem tại bài Bộ Công
Tranh vẽ Bộ Công thời nhà Nguyễn

Bộ Công coi việc xây dựng thành hào, cầu cống đường sá, việc thổ mộc, thợ thuyền, tu sửa xây dựng, thi hành lệnh cấm về núi rừng, vườn tược và sông ngòi.

Những quan bộ Công danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Thiệu (1512 - 1584): Văn thần thời nhà Mạc, quê Bắc Ninh. Đỗ hoàng giáp năm 1553, làm quan Thượng thư Bộ Công. Nổi tiếng văn thơ, lão luyện chính trị, ông giúp nhà Mạc đắc lực trong việc tổ chức bộ máy nhà nước, mở mang văn hóa và phát triển giáo dục.[3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài những bộ điều hành trên, triều đình còn có những cơ quan chuyên trách như:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Woodside, Alexander. Vietnam and the Chinese Model. Cambridge, MA: the Council on East Asian Studies, Harvard University, 1988. Trang 69.
  2. ^ Theo "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi còn có bộ Dân, tức là bộ Hộ
  3. ^ a ă â b c d Tuổi Thân với danh nhân Việt Nam www.tcvn.gov.vn
  4. ^ Làng Cổ Đô - Hà Tây - hanoi.vnn.vn
  5. ^ Nội các triều Nguyễn, Nguyễn Hồng Phong (chủ tịch biên dịch). Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 9. Huế: NXB Thuận Hóa, 1993. Trang15-6.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


Tam tỉnh lục bộ
Tam tỉnh:

Thượng thư tỉnh | Trung thư tỉnh | Môn hạ tỉnh

Lục bộ:

Lại bộ | Hộ bộ | Lễ bộ | Binh bộ | Hình bộ | Công bộ