Quốc tử giám
- Xem các mục từ khác cùng tên tại Quốc Tử Giám (định hướng).
Quốc tử giám (國子監 guózǐjiàn) là cơ quan đào tạo giáo dục cấp trung ương tại các nước Á Đông thời phong kiến Nho giáo.
[sửa] Tại Trung Quốc
Quốc tử giám đầu tiên xuất hiện sau thời nhà Tuỳ. Mỗi triều đại sau đó đều lập quốc tử giám tại kinh đô của mình - Trường An, Lạc Dương, Khai Phong, Nam Kinh. Kể từ thời nhà Minh thì có tới hai quốc tử giám: một ở Nam Kinh và một ở Bắc Kinh.
[sửa] Tại Việt Nam
Quốc tử giám đầu tiên được lập vào năm 1076 tại kinh thành Thăng Long vào thời vua Lý Nhân Tông. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các hoàng tộc, quý tộc và quan lại. Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Đến đời nhà Nguyễn, quốc tử giám được lập tại Huế.
Đứng đầu Quốc tử giám là các chức quan: Tế tửu (tương đương Hiệu trưởng Đại học), Tư nghiệp (tương đương với Hiệu phó).
[sửa] Một số các vị Tế tửu và Tư nghiệp nổi tiếng
Tại Quốc tử giám Thăng Long
- Chu Văn An, Thái học sinh, Tư nghiệp
- Nguyễn Phi Khanh, Thái học sinh năm 1374, Tư nghiệp
- Lý Tử Tấn, Thái học sinh năm 1400, Tế tửu
- Nguyễn Trực, Trạng nguyên năm 1442, Tế tửu
- Ngô Sĩ Liên, Tiến sĩ năm 1442, Tư nghiệp
- Thân Nhân Trung, Tiến sĩ năm 1469, Tế tửu
- Bùi Xương Trạch, Tiến sĩ năm 1478, Tế tửu
- Phùng Khắc Khoan, Hoàng giáp năm 1580, Tế tửu
- Nguyễn Trù, Hoàng giáp năm 1697, Tư nghiệp
- Trịnh Tuệ, Trạng nguyên năm 1736, Tế tửu
- Lê Quý Đôn, Bảng nhãn năm 1752, Tư nghiệp và rồi giữ Thự Tế tửu
Tại Quốc tử giám Huế
- Nguyễn Công Trứ, Cử nhân năm 1819, Tư nghiệp
- Phan Bá Đạt, Tiến sĩ năm 1822, Tư nghiệp
- Đỗ Phát, Tiến sĩ năm 1843, Tế tửu
- Vũ Duy Thanh, Bảng nhãn năm 1851, Tế tửu
- Nguyễn Quang Bích, Hoàng giáp năm 1869, Tế tửu
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |