Trần Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thái Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Trần
Trị vì 1225 - 1258
Thái thượng hoàng Trần Thừa
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Thái thượng hoàng nhà Trần
Tại vị 1258 - 1277
Tiền nhiệm Trần Thừa
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Phối ngẫu Chiêu Thánh hoàng hậu
Thuận Thiên hoàng hậu
Niên hiệu
Kiến Trung (1225 - 1237)
Thiên Ứng Chính Bình (1238 - 1350)
Nguyên Phong (1251 - 1258)
Thụy hiệu Nguyên Hiếu Hoàng Đế
Miếu hiệu Thái Tông
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Thừa
Sinh 17 tháng 7, 1218
Mất 4 tháng 5, 1277
Việt Nam

Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; nguyên tên thật là Trần Bồ 陳蒲, sau đổi thành Trần Cảnh 陳煚; 17 tháng 7, 1218 – 4 tháng 5, 1277) là nhà vua đầu tiên của nhà Trần, ở ngôi hơn 32 năm (1225 - 1258), làm Thái thượng hoàng 19 năm.

Mục lục

[sửa] Làm vua

Trần Cảnh là con thứ của Trần Thừa. Khi ông sinh ra, họ Trần đã nắm quyền thao túng triều chính nhà Lý. Do sự sắp đặt của người chú họ là Trần Thủ Độ - quyền thần đương thời - ông lấy nữ hoàng đầu tiên và là vua cuối cùng của nhà LýLý Chiêu Hoàng khi mới lên 7 tuổi.

Khi đó Trần Thủ Độ là Điện tiền chỉ huy sứ trong triều Lý. Bố của Trần Cảnh là Trần Thừa, cũng là một viên quan của triều Lý như Trần Thủ Độ (Ông từng làm Nội thị khán thủ, một chức quan đứng đầu các quan hầu cận của vua nhà Lý). Cuối năm 1225, Trần Thủ Độ ép nữ hoàng nhà Lý mới lên 6 tuổi nhường ngôi cho ông.

Trong thời gian ở ngôi, Trần Thái Tông đã 3 lần đổi niên hiệu: Kiến Trung (1225-1232), Thiên Ứng Chính Bình (1232-1250) và Nguyên Phong (1251-1258).

Trước khi truyền ngôi cho con trai là Thái tử Trần Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông), Trần Thái Tông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt chống lại thành công cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông.

[sửa] Gia đình

Đền Trần ở quê hương Nam Định
Cung Vũ Lâm -Đền Thái Vi (Ninh Bình) nơi các vua Trần xuất gia

[sửa] Vợ

[sửa] Con cái

Sử sách cổ không ghi chính xác là bao nhiêu nhưng có thể thấy các con trai có:

Các con gái gồm:

  • Công chúa Thiên Thành (? - 9/1288) (Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà là trưởng công chúa[3] nhưng không nói rõ là con ai (có lẽ là con gái lớn của Trần Thái Tông[4]), trong khi Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép bà là con gái[5] của Trần Thừa).
  • Công chúa Thiều Dương húy Thúy (? - 4/1277): Lấy thượng vị Văn Hưng hầu, mất khi Trần Thái Tông vừa mất.
  • Công chúa Thụy Bảo: Lấy Uy Văn vương Toại, sau lấy Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng.
  • Công chúa An Tư: Lấy Thoát Hoan.

[sửa] Quan hệ với Trần Liễu

Trần Liễu là anh trai của vua Trần Thái Tông. Năm 1237, khi đó vợ chồng Trần Thái Tông và Chiêu Thánh hoàng hậu chưa có con nối dõi tông đường, do hoàng tử Trần Trịnh mới sinh đã chết.

Khi đó hoàng hậu Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu, đã có thai Quốc Khang ba tháng. Trần Thủ Độcông chúa Thiên Cực (vợ ông) bàn tính với nhau là nên mạo nhận lấy để làm chỗ dựa về sau, cho nên có lệnh lập công chúa Thuận Thiên làm hoàng hậu Thuận Thiên và giáng Chiêu Thánh làm công chúa. Vì thế, Trần Liễu đem quân bản bộ ra sông Cái làm loạn. Điều này làm cho vua Trần Thái Tông khó xử và ông đã bỏ kinh đô lên núi Yên Tử. Trần Thủ Độ phải đích thân lên núi mời, cộng với lời khuyên của sư Phù Vân, ông mới quay lại kinh đô. Hai tuần sau, Trần Liễu thế cô, không đối địch được, mới đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng. Trần Thủ Độ định chém Trần Liễu, nhưng vua Trần Thái Tông đã lấy thân mình che đỡ cho Liễu nên Thủ Độ không làm gì được. Sau đó lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm ấp thang mộc. Vì tên đất được phong, mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh Vương (An Sinh Vương).

Tuy nhiên, Trần Liễu vẫn ôm hận trong lòng và trước khi mất (1251) có dặn lại con trai là Trần Quốc Tuấn phải tìm cách đoạt lấy ngai vàng (Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được). Trần Quốc Tuấn đã nhận lời cha, nhưng sau này ông đã không thực hiện lời trối trăng này.

[sửa] Tôn hiệu

Các vua nhà Trần có nhiều tôn hiệu: Tôn hiệu khi được nhường ngôi, khi đang làm hoàng đế, khi lui về làm Thái Thượng hoàng, và thụy hiệu sau khi mất. Tôn hiệu của Trần Thái Tông gồm:

  • Khi mới nhận ngôi từ Lý Chiêu Hoàng thì tôn hiệu là: Thiện hoàng (Hoàng đế được nhường ngôi)
  • Khi đang làm vua: Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế
  • Khi về làm Thái thượng hoàng: Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế
  • Thụy hiệu đầy đủ: Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức Hiền Công Hựu Thuận Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

  • Đại Việt sử ký toàn thư

[sửa] Liên kết ngoài

[sửa] Chú thích

Ngôn ngữ khác