Trần Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thái Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế đầu tiên của nhà Trần
Trị vì 1225 - 1258
Nhiếp chính Thượng hoàng Trần Thừa
Thái sư Trần Thủ Độ
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Thái thượng hoàng của nhà Trần
Tại vị 1258 - 1277
Tiền nhiệm Trần Thừa
Kế nhiệm Trần Thánh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Lý Phế hậu
Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu
Niên hiệu
  • Kiến Trung

(1225-1237)

  • Thiên Ứng Chính Bình

(1238-1350)

  • Nguyên Phong
(1251-1258)
Thụy hiệu Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế
統天御極隆功茂德顯和佑順神文聖武元孝皇帝
Miếu hiệu Thái Tông (太宗)
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Thừa
Thân mẫu Thuận Từ hoàng hậu
Sinh 10 tháng 7, 1218
hương Tức Mạc, Thiên Trường
Mất 5 tháng 5, 1277 (58 tuổi)
Vạn Thọ điện, Thăng Long
Tôn giáo Phật giáo

Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 10 tháng 7, 12185 tháng 5, 1277), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 - 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm.

Hoàng đế khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông nguyên tên thật là Trần Bồ (陳蒲), sau đổi thành Trần Cảnh (陳煚), là con thứ của Thái Tổ Chí Hiếu hoàng đế Trần Thừa, mẹ là Thuận Từ hoàng hậu Lê thị. Ông sinh vào ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, niên hiệu Kiến Gia thứ 8 triều Lý (tức 10 tháng 7 năm 1218). Ông được sử cũ mô tả ngoại hình: mũi cao, mặt rộng, giống như Hán Cao Tổ. Khi mới 8 tuổi, ông làm Chi hậu chính chi ứng cục triều Lý.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ông sinh ra, họ Trần đã nắm quyền thao túng triều chính nhà Lý. Lúc đó chú họ là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ, cai quản toàn bộ binh lực triều đình. Trần Cảnh do là họ hàng nên được vào hầu trong cung. Lý Chiêu Hoàng, nữ hoàng nhỏ tuổi của nhà Lý thấy ông thì rất thích.[1] Mỗi khi đi chơi đêm, Chiêu Hoàng đều cho người gọi Cảnh đến cùng chơi, hoặc thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân hành đến trêu chọc, hoặc níu kéo lấy tóc, hoặc dẫm lên bóng. Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước vào hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước vảy vào mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh. Cảnh không dám nói gì, về báo ngầm với Trần Thủ Độ.[2] Thủ Độ nói:

"Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?"

Lại có một hôm, Chiêu Hoàng lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói:

"Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh".

Chiêu Hoàng cười và nói:

"Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó".

Cả hai người từ khi ấy trở đi cùng nằm chung một giường với nhau như là vợ chồng. Trần Thủ Độ sợ việc nếu bị tiết lộ ra thì bị giết cả họ, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm rồi sai người đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, cấm các quan không ai được vào chầu. Thủ Độ sai người loan tin rằng:[2]

"Bệ hạ đã có chồng rồi".

Bá quan trong triều đều chúc mừng, lại xin chọn ngày chầu. Ngày 1 tháng 12 ÂL, nhân lúc hội lớn ở điện Thiên An, Chiêu Hoàng trút bỏ hoàng bào nhượng cho Trần Cảnh và mời ông lên ngôi hoàng đế. Trần Cảnh tức vị hoàng đế, trở thành vua khai lập ra nhà Trần, tự xưng là Thiện Hoàng và đổi niên hiệu làm Kiến Trung năm thứ nhất.[2]

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái Tông sau khi lên ngôi, liền ra lệnh đại xá cho thiên hạ. Các quan bàn nhau dâng tôn hiệu cho ông là Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế. Phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ, nắm giữ mọi việc cai trị trong nước. Bấy giờ Thủ Độ phải chống đỡ với phiến quân ở bên ngoài, lại tự nghĩ rằng mình vốn đã không biết chữ, lại cũng không quen việc trị quốc, nên từ chối rằng:

"Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn ngày tăng. Đoàn Thượng giữ mạn đông, Nguyễn Nộn giữ mạn bắc, các châu Quảng Oai, Đại Viễn cũng chưa dẹp yên. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng nguy, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới uỷ thác cho nhị lang [Chàng Hai]. Nhưng Nhị lang chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chổ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú nhưng không biết chữ nghĩa gì, còn phải rong ruổi đông tây để chống giặc cướp, không gì bằng mời thánh phụ làm thượng hoàng tạm coi việc nước, một hai năm sau thiên hạ nhất thống, lại giao quyền chính cho Nhị lang".

Các quan đều cho là phải, mới mời cha vua là Trần Thừa ra làm nhiếp chính.[3]

Sang tháng Giêng năm sau, Thái Tông phong cho Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh, lại cho người đi tuyển con gái đẹp, con nhà lương thiện vào làm cung nhân.[4] Lại phong cho Trần Thủ Độ làm Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư. Rồi phế thái thượng hoàng nhà Lý là Lý Huệ Tông, an tọa ở chùa Chân Giáo.

Trần Thủ Độ-vị vua nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trần Thủ Độ

Trần Thủ Độ, sau khi Thái thượng hoàng Trần Thừa mất, trở thành người nhiếp chính cho Thái Tông đến khi ông trưởng thành. Thủ Độ được chép là tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tông lấy được lấy được thiên hạ đều nhờ mưu sức của ông cả. Vì thế ông được nhà nước dựa cậy, quyền át cả vua. Tuy vậy, Thái sư cho đến khi Thái Tông trưởng thành, tự mình cai quản đất nước đều không tâm niệm cướp ngôi, mà trở thành cánh tay đắc lực nhất của Thái Tông.

Trần Thủ Độ tuy bị đánh giá là người không có lễ giáo, thất học nhưng mưu lược hơn người. Trị việc trong nước đều cẩn thận và chu toàn. Về mọi mặt, thời Thái Tông củng cố các vấn đề chính nhất là:

  • Mở khoa thi Tam giáo (Đạo giáo, Nho giáo, Phậtgiáo) sau nhiều năm bị gián đoạn do loạn lạc cuối thời Lý. Định đặt luật pháp, soạn ra bộ Quốc triều hình luật gồm 20 quyển để định tội danh trong nước. Đáng tiếc bộ sách này đã bị thất truyền.
  • Lại mở rộng phía ngoài thành Đại La, bốn cửa thành giao cho quân Tứ sương thay phiên nhau canh giữ. Sửa đổi quan chức các phủ lộ. Đặt 2 viên An phủ sứAn phủ phó sứ. Trong thành dựng cung, điện, lầu, các và nhà lang vũ ở hai bên phía đông và tây. Bên tả là cung Thánh Từ (nơi Thái thượng hoàng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi Hoàng đế ở). Chép công việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lễ, 10 quyển.
  • Thủy lợi cũng được coi trọng. Năm 1231, sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào[5] từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu. Việc xong, thăng Bang Cốc làm Phụ Quốc thượng hầu.
  • Bắt đầu định luật hành chính. Chia đất nước làm 12 lộ. Đặt các chức quan cai trị. Làm đơn sổ hộ khẩu, con trai lớn gọi là đại hoàng nam, con trai nhỏ gọi là tiểu hoàng nam, 60 tuổi gọi là lão, già lắm thì gọi là long lão. Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1, 2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3, 3 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.
  • Bắt đầu thông thương nơi biên giới, để có thể giao thương với nhà TốngGiang Nam. Khi Nguyên Thái Tông mất, thì cửa ải thường không thông. Nếu có sứ mệnh thì chỉ có hai viên chánh phó sứ và hai bọn người đi theo, còn sản vật tiến cống có bao nhiêu thì gói bọc đưa đến địa đầu biên giới, quan địa phương nhận giữ và chuyển nộp. Sứ thần đến kinh, chỉ dâng biểu tâu thôi, các vật tiến cống không đến nơi cả được. Đến bây giờ, sai tướng chống giữ, đánh chiếm mới thông hiếu được với nước Tống.

Mỗi khi có dịp hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa, mở lương thóc rồi đại xá. Cho nên quốc lực mau chóng khôi phục, Đại Việt lại trở nên phồn thịnh như thời nhà Lý. Trong ĐVSKTT có ghi chép:..Bấy giờ quốc gia vô sự, nhân dân yên vui, người làm quan giữ mãi một chức, người ở quán, các 10 năm mới được xuất thân, người ở sảnh, cục 15 năm mới được xuất thân, chức tể tướng thì chọn người hiền năng trong tôn thất, có đạo đức, tài nghệ, thông hiểu thi thư thì cho làm.

Năm 1252, Thái Tông đổi niên hiệu là Nguyên Phong. Ông khi đổi xong, lập tức dẫn binh đi đánh Chiêm Thành. Khi nhà Lý suy, Chiêm Thành thường hay xua binh công phá ở vùng Nghệ An, dân chết vô số, nay vua lên ngôi mà không sang thông hiếu nên rất giận, dẫn quân đi đánh và bắt được nhiều thần thiếp, cướp được nhiều của cải. Uy danh Đại Việt đối với Chiêm Thành lại được thiết lập.

Bất ổn trong gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Lý hoàng hậu có thai sinh ra một hoàng nam vào năm 1233, đặt tên là Trịnh, nhưng không may lại chết yểu. Hoàng hậu từ đó không sinh nở nữa.

Thái sư Trần Thủ Độ bèn bàn với Thiên Cực công chúa, lập một người khác để có con nối dõi. Năm 1237, phế Lý hoàng hậu xuống làm Chiêu Thánh công chúa và lấy Thuận Thiên công chúa, phu nhân của anh trai vua là Hoài vương Trần Liễu, đương có thai 3 tháng, lập làm Kế Hoàng hậu.

Vì thế, Hoài vương Trần Liễu đem quân bản bộ ra sông Cái làm loạn. Điều này làm cho vua Trần Thái Tông khó xử và ông đã bỏ kinh đô lên núi Yên Tử. Trần Thủ Độ phải đích thân lên núi mời, cộng với lời khuyên của sư Phù Vân, ông mới quay lại kinh đô. Hai tuần sau, Trần Liễu thế cô, không đối địch được, mới đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng. Trần Thủ Độ định chém Trần Liễu, nhưng vua Trần Thái Tông đã lấy thân mình che đỡ cho Liễu nên Thủ Độ không làm gì được. Sau đó lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm ấp thang mộc. Vì tên đất được phong, mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh Vương (An Sinh Vương).

Tuy nhiên, Trần Liễu vẫn ôm hận trong lòng và trước khi mất (1251) có dặn lại con trai là Trần Quốc Tuấn phải tìm cách đoạt lấy ngai vàng [6]. Trần Quốc Tuấn đã nhận lời cha, nhưng sau này ông đã không thực hiện lời trối trăn này.

Vi hành qua nước Tống[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này, Thái Tông đã trưởng thành, tự mình có thể đảm đương việc đất nước. Năm 1241, ông thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ, vượt qua châu Khâm, châu Liêm. Vào địa phận nước Tống, tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phụng, Nhật Quang, Nguyệt Quang.

Người châu ấy không biết là ai, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là Hoàng đế Đại Việt, mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, ông sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về, rồi ung dung đi tiếp đường cũ mà không sợ hãi lúng túng.

Triệu Nguyễn Hiền giải nạn cho nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nguyễn Hiền

Nguyễn Hiền là trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong nền khoa bảng Việt Nam. Ông mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dươnglàng Dương A. Năm 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh là "thần đồng", đã đỗ trạng nguyên tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông. Nhưng Thái Tông cho là Hiền còn quá nhỏ, cần về quê để học thêm.

Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật,

Tứ sơn điên đảo sơn,
Lưỡng vương tranh nhất quốc,
Tứ khẩu tung hoành gian.

Dịch là:

Hai mặt trời bằng đầu,

Bốn trái núi điên đảo,
Hai vua tranh nhau một nước,
Bốn miệng ở trong khoảng dọc ngang.

Vua và các quan trong triều không ai giải nghĩa được là gì. Một viên quan tâu với vua xin mời trạng nguyên Nguyễn Hiền đến để hỏi nghĩa. Các quan đến quê mời gặp lúc Nguyễn Hiền đang nô đùa với chúng bạn, Nguyễn Hiền nói với các quan:

"Trước đây vua nói ta chưa biết lễ, thì nay chính vua cũng không biết lễ. Không ai đi mời trạng nguyên về kinh lại không có lễ nghĩa.

Quan về tâu lại với vua, rồi đem đồ lễ và xe ngựa đến đón, Nguyễn Hiền mới chịu về kinh.

Về đến kinh đô, vua đưa bài thơ của sứ Tàu ra, trạng Hiền liền giải thích như sau:

Câu thứ nhất nghĩa là hai chữ "nhật" đều bằng đầu nhau. Câu thứ hai "Tứ sơn điên đảo sơn" là 4 chữ "sơn", ngược xuôi cũng đều là chữ "sơn" cả. Câu thứ ba "Lưỡng vương tranh nhất quốc", nghĩa là chữ "vương"hai vua tranh một nước. Câu thứ tư "Tứ khẩu tung hoành gian", có nghĩa là 4 chữ "khẩu" ngang dọc cũng đều thành chữ "khẩu" cả. Tóm lại tất cả 4 câu thơ chỉ nói đến chữ "Điền".

Nguyễn Hiền được giữ vào triều. Vua tuyển ông vào học tiếp Tam giáo chủ khoa, tức đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng và bổ nhiệm làm quan đến chức Thượng thư bộ Công.

Ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý (1255), trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng và qua đời, thọ 21 tuổi. Nhà vua thương tiếc truy phong ông là Đại vương thành hoàng và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đàxã Đông Hội - huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay.

Chống Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phương bắc, Trung Quốc từ lâu đã bị chia cắt. Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn của nước Kim của người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt Nam Tống.

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay), muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối lại còn cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ. Chiến tranh nổ ra vào năm 1258 khi Uriyangqatai cùng con trai là Aju đem 3 vạn quân Mông Cổ và 1,5 vạn quân Đại Lý tấn công Việt Nam. Quân Mông Cổ mau chóng giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng rồi cũng mau chóng bị quân Đại Việt đánh bật. Cuộc chiến năm 1258 chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, cuối tháng 1 năm 1258.

Truyền ngôi và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1258, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, lui về làm Thái thượng hoàng, được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế (顯堯聖壽太上皇帝). Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông. Lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần từ đây thành truyền thống, thứ nhất tránh việc tranh giành ngôi báu giữa các con do đã sớm được định đoạt, thứ nữa là rèn luyện cho vị vua mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt.

Ở ngôi Thái thượng hoàng 19 năm, ngày mồng 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (tức 5 tháng 5 năm 1277), Trần Thái Tông băng hà tại điện Vạn Thọ, thọ 60 tuổi, táng tại Chiêu Lăng phủ Long Hưng (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Thái Tông có:

  • Khóa hư lục (Tập bài giảng về lẽ hư vô)
  • Thiền tông chỉ nam ca (Bài ca về yếu chỉ của thiền tông), nhưng nay chỉ còn lại bài tựa.
  • Lục thì sám hối khoa nghi (Nghi thức sám hối vào sáu thời khắc trong một ngày)
  • Trần Thái Tông ngự tập (1 quyển), được Phan Huy Chú khen là "lời thơ thanh nhã, đáng đọc"[7], nhưng nay đã không còn, chỉ còn lại 2 bài chép trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục.

Ngoài ra ông còn đề tựa kinh Kim Cương, viết một số bài bình luận về việc tọa thiền, việc niệm Phật và một bài răn về tửu sắc...[8].

Theo GS. Trần Văn Giáp thì ông còn viết:

  • Quốc triều thông chế
  • Kiến trung thường lễ [9].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc Đền Trần ở quê hương Nam Định
Đền Thái ViHành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) nơi các vua Trần xuất gia
  1. An Sinh vương Trần Liễu [安生王陳柳].
  2. Khâm Thiên vương Trần Nhật Hiệu [欽天王陳日晈].
  3. Hoài Đức vương Trần Bà Liệt [懷德王陳婆列].
  4. Thụy Bà công chúa [瑞婆公主].
  5. Thiên Thành công chúa [天城公主; ? - 9/1288], lấy Trần Quốc Tuấn.
  • Hậu phi:
  1. Lý Phế hậu (李廢后; 1218 - 1278), năm 1237 giáng làm Chiêu Thánh công chúa, năm 1258 gả cho Lê Phụ Trần.
  2. Hiển Từ hoàng hậu Lý thị (顯慈皇后李氏; 1216 - 1248), nguyên là vợ An Sinh vương Trần Liễu.
  3. Huệ Túc phu nhân Hoàng thị, con gái Thổ quan Tư Minh, Hoàng Bính.

Có lẽ còn một số bà vợ khác nhưng không rõ tên tuổi, Trần Ích Tắc (1254), Trần Nhật Duật (1255) đều sinh ra sau khi Hiển Từ hoàng hậu đã mất (1248).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách cổ không ghi chính xác là bao nhiêu nhưng tra ra được thì:

  1. Trần Trịnh (陳鄭; chết yểu năm 1233)[10], mẹ là Lý Phế hậu.
  2. Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang [靖國王陳國康][10], thực tế là con của Trần Liễu và Hiển Từ Lý hoàng hậu.
  3. Đích trưởng tử Trần Hoảng [陳晃], Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế (聖宗宣孝皇帝), con của Hiển Từ Lý hoàng hậu.
  4. Chiêu Minh vương Trần Quang Khải [昭明王陳光啟], con của Hiển Từ Lý hoàng hậu.
  5. Bình Nguyên vương Trần Nhật Vĩnh [平原王陳日永].
  6. Vũ Uy vương Trần Duy [武威王陈維]. Bấy giờ các vương hầu phần nhiều coi việc đánh nhau bằng tay không và một mình đi cướp là dũng cảm, ông cũng làm thế.
  7. Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng [昭道王陈光昶], anh cùng mẹ với Ích Tắc.
  8. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc [昭國王陳益稷].
  9. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật [昭文王陳日燏].
  10. Minh Hiến vương Trần Uất [明宪王陈蔚][11]. Chơi thân với Phạm Ngũ Lão.
  11. Thiều Dương công chúa (韶陽公主; ? - 4/1277), húy Thúy, Lấy Thượng vị Văn Hưng hầu, mất khi Trần Thái Tông vừa mất.
  12. Thụy Bảo công chúa [瑞寶公主], lấy Uy Văn vương Toại, sau lấy Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng.
  13. An Tư công chúa [安姿公主], lấy Trấn Nam vương Thoát Hoan.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay ở nhiều thành phố Việt Nam có tên đường Trần Thái Tông như ở Hà Nội có phố Trần Thái Tông ở quận Cầu Giấy. Các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt, thành phố Thái Bình, thành phố Nam Định, thành phố Hạ Long... đều có đường phố mang tên ông.

Lăng mộ của Trần Thái Tông theo Đại Việt sử ký toàn thư thì thái tổ Trần Thừa và các Vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông được táng tại phủ Long Hưng, nay thuộc xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình ngày nay.

Trần Thái Tông hiện được đúc tượng và thờ phụng ở các đền Trần (Thái Bình), đền Trần (Nam Định)đền Thái ViNinh Bình.

Con cháu ông là Trần Dụ Tông đã làm bài thơ so sánh Trần Thái Tông với Đường Thái Tông để ca ngợi ông:

"Đường, Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng."

Dịch thơ:

"Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông,
Đường xưng: Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong.
Kiến Thành bị giết, An Sinh sống,
Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sử thần Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư đã đánh giá về ông như sau:

Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngô Thì Sỹ 2009, tr. 66
  2. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 2009, tr. 157
  3. ^ Ngô Sĩ Liên 2009, tr. 158
  4. ^ Ngô Thì Sỹ 2009, tr. 69
  5. ^ chú là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là tỉnh Gia), tỉnh Thanh Hóa.
  6. ^ Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được
  7. ^ Trích trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần "Văn tịch chí".
  8. ^ Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Trần Cảnh" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004, tr. 1775-1776.
  9. ^ Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nxb Khoa học xã hội, 2003, tr. 845.
  10. ^ a ă Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển V, trang 7b
  11. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI, xem năm 1312

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]