Nhà Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Nhà Hạ 2205–1767 TCN
Nhà Thương 1766–1122 TCN
Nhà Chu 1122–256 TCN
  Nhà Tây Chu
  Nhà Đông Chu
    Xuân Thu
    Chiến Quốc
TRUNG ĐẠI
Nhà Tần 221 TCN –206 TCN
Nhà Hán 206 TCN–220 CN
  Nhà Tây Hán
  Nhà Tân
  Nhà Đông Hán
Tam Quốc 220–280
  Ngụy, Thục & Ngô
Nhà Tấn 265–420
  Nhà Tây Tấn
  Nhà Đông Tấn Ngũ Hồ thập lục quốc
304–439
Nam Bắc Triều 420–589
Nhà Tùy 581–619
CẬN ĐẠI
Nhà Đường 618–907
  (Nhà Vũ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–960
Nhà Liêu 907–1125
Nhà Tống 960–1279
  Nhà Bắc Tống Nhà Tây Hạ
  Nhà Nam Tống Nhà Kim
Nhà Nguyên 1271–1368
Nhà Minh 1368–1644
Nhà Thanh 1644–1911
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–nay
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa

1949–nay

Trung Hoa Dân Quốc
(tại Đài Loan)

Triều đại Trung Quốc
Lịch sử quân sự Trung Quốc


Nhà Kim (金, pinyin: Jīn; Anchu trong tiếng của người Nữ Chân) tồn tại từ 1115 đến 1234, là vương triều của người Nữ Chân, được họ Hoàn Nhan (完顏, Wányán) sáng lập, đây cũng là tổ tiên của những người Mãn Châu đã sáng lập ra triều đại nhà Thanh - ban đầu xưng là Hậu Kim - khoảng 500 năm sau.

Mục lục

Nguồn gốc [sửa]

Từ ngàn xưa, các bộ tộc Mãn Châu thường sống du mục theo đôi bờ Hắc Long Giang, có khi vượt qua phía tây đến biên giới Mông Cổ. Người Nữ Chân là một dân tộc thiểu số rất lâu đời ở trong nội địa nước Trung Quốc. Tổ tiên của họ là người Túc Thận thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đến đời Đông Hán, Tam Quốc, họ được gọi là “Ấp Lâu”. Đời Bắc Ngụy được gọi là “Vật Cát”. Đời nhà Tùy, nhà Đường gọi là "Mô Hơ".

Đến năm Thiên Phục thứ ba đời Đường Chiêu Tông (903) trở về sau, tộc này mới chính thức được gọi là "Nữ Chân". Trong lịch sử Trung Quốc, nước Bột Hải trong đời Đường là chính quyền do dân tộc thiểu số Nữ Chân đã lần lượt thành lập. Thời Liêu, họ sống ở giữa vùng Hắc Thủy và Bạch Sơn, sau đó nhà Liêu di dời một bộ phận đến vùng Liêu Ninh sinh sống định cư nông nghiệp nên được gọi là Thục Nữ Chân. Một bộ phận khác ở sông Tùng Hoa từ hạ lưu Hắc Long Giang kéo dài đến biển, sống du mục, thay đổi nơi ở theo con nước và đồng cỏ, gọi là Sinh Nữ Chân. Trong nội bộ Sinh Nữ Chân có bộ lạc Hoàn Nhan vào thế kỷ thứ 10 định cư bên cạnh vùng An Xuất Hổ Thủy[1] lớn mạnh.

Người Nữ Chân vẫn trong xã hội nô lệ thị tộc trước khi vào Trung Nguyên gồm có 5 bộ: Punuli, Tieli, Yuelidu, Aolimi, và Puali, đặt dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Wanyan Wugunai (完颜乌骨迺, Hoàn Nhan Ô Cốt Nãi, hoặc 完颜乌古迺, Hoàn Nhan Ô Cổ Nãi) và người trợ thủ Wanyan Yada (完顏雅達, Hoàn Nhan Nhã Đạt). Wugunai được nhà Liêu phong làm Tiết độ sứ vùng đông bắc. Sau khi Wugunai chết, con trai là Helibo (劾里钵, Hặc Lý Bát) (sau này được nhà Kim truy phong là Thế tổ) kế nghiệp với sự trợ giúp của em trai là Polashu (頗刺淑, Pha Thứ Thục). Năm 1092, Polashu lên làm thủ lĩnh, sau đó em trai là Yingge (盈歌, Doanh Ca) kế nhiệm năm 1095. Vào lúc này 3 bộ tộc Nữ Chân khác nổi lên chống lại bộ Hoàn Nhan gồm Tudan, Wugulun, và Pucha. Các anh em thủ lĩnh bộ Hoàn Nhan là Wuyashu (烏雅束, Ô Nhã Thúc), Aguda (阿骨打, A Cốt Đả) và Wuqimai (吳乞買, Ngô Khất Mãi) đã đánh bại các bộ tộc đó. Năm 1103, Hoàn Nhan Ô Nhã Thúc trở thành thủ lĩnh của liên minh các bộ tộc Nữ Chân, đến năm 1113 A Cốt Đả lên thay, nắm giữ chức đại bối lặc (tức đại tù trưởng).

A Cốt Đả là em trai của Hoàn Nhan Ô Nhã Thúc. Ông nổi tiếng là người dũng cảm và đã tham gia nhiều cuộc chiến chống lại bộ lạc Nữ Chân dưới sự chỉ huy của nhà Liêu. Năm 1109, lúc đỉnh điểm của nạn đói hoành hành, A Cốt Đả đã giúp anh mình Ô Nhã Thúc thuần phục các chiến binh bị nạn đói của các bộ lạc khác để tăng sức mạnh cho bộ lạc mình.

Tổ chức Meng'an-Mouke [sửa]

A Cốt Đả tổ chức lại các bộ tộc Nữ Chân theo mô hình "Mãnh an Mưu khắc" (猛安謀克, Meng'an-Mouke). Cứ 100 hộ Nữ Chân hợp lại thành một Mouke (người Hán gọi là Bách hộ). Cứ 10 mouke thì hợp lại thành 1 Meng'an (hay Thiên hộ). Hệ thống Meng'an-Mouke này tồn tại cho đến khi kết thúc triều đại là đơn vị hành chính địa phương nhỏ nhất. Thủ lĩnh của meng'an cũng là người chỉ huy quân đội của bộ lạc, thủ lĩnh của mouke cũng chính là trưởng thị tộc đó. Các hộ trong Meng'an-Mouke được huấn luyện quân sự trong thời bình, thời gian rảnh rỗi thì cày cấy sản xuất, khi có chiến tranh thì tráng đinh bị trưng dụng, tự mua sắm khí giới yên mã ra chiến trường còn những người khác trong gia đình thì vẫn ở nhà sản xuất. Tất cả tài sản lương thực thu được đều là của chung, không có sở hữu riêng.

Diệt Liêu và Bắc Tống, thành lập quốc gia [sửa]

Nhà Kim và các nước xung quanh, thế kỷ 12

Nhà Liêu bắt người Nữ Chân phải cống nộp vàng bạc, châu ngọc, ngựa tốt và diều hâu. Sự bóc lột hà khắc của nhà Liêu đối với các bộ tộc người Nữ Chân làm sự bất mãn của họ ngày một tăng.

Chính quyền của người Nữ Chân được thành lập năm 1115 tại miền bắc Trung Quốc và người Nữ Chân dần dần mạnh lên. Họ lần lượt xâm lấn và cuối cùng đã tiêu diệt vương triều nhà Liêu của người Khất Đan (Khiết Đan) vào năm 1125 (liên minh cùng nhà Tống để diệt Liêu), những người đã thống trị khu vực Mãn Châu và biên giới phía bắc Trung Quốc trong vài thế kỷ trước.

Năm 1113 A Cốt Đả (1068 – 1123) đã được bầu làm đại bối lặc (tù trưởng các bộ lạc). Năm 1114 ông lãnh đạo 2500[cần dẫn nguồn] người Nữ Chân tại Lưu Thủy (sông Lalin gần Fuyu Weizitun, Cát Lâm) nổi dậy chống lại nhà Liêu. Đội kỵ binh chiếm Ninh giang châu (Fuyu Weizitun, Cát Lâm) và đánh bại 7 ngàn quân Liêu tại trận Chuhedian vào tháng 11. Sau những thắng lợi liên tiếp tháng 1 năm 1115 A Cốt Đả tuyên bố lên ngôi vua Kim, đóng đô ở Hội Ninh phủ (Hắc Long Giang).

Vào tháng 8 năm 1115, quân Kim chiếm được Hoàng Long phủ (Nongan, Cát Lâm) và đánh bại 70 vạn quân Liêu chỉ với 2 vạn kỵ binh tại trận Hubudagang. Năm 1116 Thiên tộ đế nhà Liêu thân chinh dẫn hơn 10 vạn quân xuất phát từ Trường xuân hòng tiêu diệt quân Kim. Quân Kim quyết chiến đánh cho Liêu đại bại, Thiên tộ đế bỏ chạy trong một đêm hơn 500 dặm về Trường Xuân, Kim chiếm được 45 châu của nước Liêu, vùng bán đảo Liêu đông trong đó có Liêu dương, kinh đô phía đông của Liêu và đã lần lượt chiếm được các kinh đô của Liêu và cuối cùng đã tiêu diệt vương triều nhà Liêu của người Khất Đan (Khiết Đan) vào năm 1125 (liên minh cùng nhà Tống để diệt Liêu), những người đã thống trị khu vực Mãn Châu và biên giới phía bắc Trung Quốc trong vài thế kỷ trước. Người Nữ Chân lại có trình độ kỹ thuật quân sự khá cao, tổ chức thành các đội kỵ binh liên hoàn gọi là Lãnh tử mã, biết sử dụng những loại chiến xa và súng bắn đá nên đã tiến đánh những thành thị của Tống triều ở miền Bắc một cách dễ dàng.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 1127 lực lượng nhà Kim đã chiếm Khai Phong, thủ đô của triều đại Bắc Tống, bắt giữ cả hai vua nhà Tống là Tống Khâm Tông, và cha của ông là vua Tống Huy Tông, là người đã từ bỏ ngôi báu do sợ hãi lực lượng nhà Kim. Sau khi Khai Phong thất thủ, lực lượng nhà Tống dưới sự lãnh đạo của nhà Nam Tống kế tiếp vẫn tiếp tục chiến đấu với nhà Kim trong hơn mười năm tiếp theo, cuối cùng đã dẫn đến ký kết hiệp ước hòa bình năm 1141, và cắt toàn bộ miền bắc Trung Quốc cho nhà Kim năm 1142 để đổi lấy hòa bình.

Đối phó với phong trào chống Kim phía bắc [sửa]

Sau khi nhà Tống lui xuống miền Nam, di đô về Giang Tả, một dải Hoàng Hà nam bắc, không thiếu những người sẵn bầu nhiệt huyết, không chịu cam lòng thần phục ngoại bang, không bằng lòng để cho quân Kim tàn sát thống trị, họ đã lần lần nổi dậy lập thành những đội nghĩa quân trong dân chúng, nhất là các vùng thôn dã, đánh phá quân Kim ở các địa phương. Công việc của họ là cướp đoạt, đốt phá lương thảo, đánh giết quan lại tướng tá của nhà Kim, cổ khuyến dân chúng không giao dịch nạp lương đóng thuế cho bọn chúng. Tình hình đó mạnh nhất ở các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông. Dần dần nhà Kim ổn định tình hình tại miền bắc, dùng địa chủ Hán làm quan trong bộ máy hành chính. Vào thời gian hùng mạnh nhất quân đội của Kim được tổ chức đông tới 1 triệu người.

Hệ thống quản lý hành chính được thành lập theo khuôn mẫu của chính quyền nhà Tống hơn là nhà Liêu. Trong khi Kim Thái Tổ áp dụng những hình thức quản lý của người Khiết Đan theo đề nghị của Yang Pu, người Bắc hải từng đỗ tiến sĩ và làm quan cho nhà Liêu; những người kế nhiệm như Kim Hy tông, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng đã cải tổ lại hệ thống quản lý hành chính cho phù hợp với tình hình mới để có thể quản lý được những vùng đất rộng lớn mới chiếm được tại châu thổ sông Hoàng Hà và đồng bằng Hoa bắc.

Các thủ lĩnh bộ lạc của liên minh người Nữ Chân (bối lặc) có vai trò tư vấn cho hãn của người Nữ Chân các vấn đề chính trị. Năm 1134 Kim Thái tông bãi bỏ hệ thống các thủ lĩnh và được thay thế bằng các hệ thống Tam sảnh và Tam tỉnh, trong đó chỉ duy nhất Thượng thư tỉnh và Lục bộ còn được giữ lại trong lần cải cách năm 1156.

Tổ chức bộ máy cai trị [sửa]

Tại miền bắc lúc đầu quân Kim liền lập Trương Bang Xương làm Sở vương, rồi ba năm sau phong Lưu Dự làm Tề vương, lợi dụng hai vua bù nhìn để bắc cầu để bước lần đến toàn cõi trung nguyên. Quân Kim rút quân về Bắc chứ không chiếm hết luôn giang sơn của Tống vì Kim thiếu quân, thiếu người để cai trị và biết rằng người Hán không chịu hợp tác, cứ để cho Tống mỗi năm nộp cống vàng, bạc, lụa và hễ có dịp thì bắt cắt thêm đất, như tằm ăn dâu có lợi hơn. Trong những năm tiếp theo khoảng 3 triệu người Nữ Chân (chiếm 50% số người Nữ Chân lúc đó) đã di cư vào Trung nguyên, trong khi đó người Hán ở miền bắc là 30 triệu người.[cần dẫn nguồn] Trong thời gian Kim Thái tông cai trị, nước Kim hùng mạnh, buộc nước Tây Hạ phải tiến cống.

Thành viên của hoàng gia được phong tước vương, lãnh địa của họ do họ cai quản được gọi là quận quốc. Trong quá trình cai quản, người Nữ Chân đã áp dụng các mô hình quản lý của người Hán ở các cấp.

Tại triều đình, Ngự sử đài có nhiệm vụ giám sát các quan chức, các viên chức trong Hàn lâm viện có nhiệm vụ soạn thảo công văn. Một số các cơ quan khác như ty, viện đều giống như chính quyền của nhà Tống như Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Khu mật viện, Tam tỉnh, Tạm sảnh, Thượng thư tỉnh, Lục bộ (tồn tại đến năm 1156). Đội ngũ quan lại được sắp xếp theo đẳng cấp có 9 bậc từ thượng đẳng đến hạ đẳng, được tuyển dụng thông qua sát hạch, người Nữ Chân được sử dụng tiếng Nữ Chân trong thi cử tại các vùng đất mới chiếm.Các đơn vị hành chính được chia làm lộ, phủ, châu, quận. Tại các địa phương cấp lộ, quan chức cai quản lộ có trách nhiệm về quản lý tài chính, tư pháp, chuyển vận lương thực và quân sự. Tại 4 kinh đô có chức quan lưu thủ cai trị.

Lúc đầu, các thủ lĩnh bộ lạc nắm quyền tổ chức quân sự, sau đó khi bắt đầu tiến hành chiến tranh với Tống, Khu mật viện đã được thành lập như là cơ quan cai trị lớn nhất tại các vùng lãnh thổ chiếm được. Người đứng đầu tổ chức quân sự là các nguyên soái. Các đơn vị quân đội ở miền nam được sáp nhập vào các đơn vị hành chính địa phương, còn ở miền bắc các lực lượng đồn trú tại biên giới đề phòng người Mông CổTatar. Lực lượng quân của triều đình gọi là hezha mouke (合札謀克, Hợp trát Mưu khắc). Về sau khi chịu sức ép về quân sự của quân Mông Cổ, 9 thủ lĩnh quân sự người Nữ Chân được phong làm quốc công, toàn quyền sử dụng nhân lực vật lực trong địa phận cai quản để chống lại quân Mông Cổ. Chức võ quan cao cấp nhất là Nguyên soái.

Pháp luật [sửa]

Các luật lệ về thuế được ban hành ngay sau khi nhà Kim giành được đất đai phía nam. Kim Hy tông ban hành luật Hoàng thống chế, Hải lăng vương ban hành luật Xuxiang sớ nghị. Luật cũng quy định việc chiếm hữu nô lệ. Dựa vào Đường luật sớ nghị, Kim Chương tông đã ban hành luật Minh xương và Thái hòa sớ nghị.

Tại lãnh thổ của Kim, nhà Kim bắt buộc người Hán phải tuân theo phong tục của người Nữ Chân, cạo nửa đầu để lại một chỏm tóc ở phía sau (600 năm sau nhà Mãn Thanh cũng áp dụng), mặc trang phục của người Nữ Chân.

Chiến tranh Tống - Kim [sửa]

Ngột Truật đánh xuống phía nam [sửa]

Trong các cuộc tấn công xuống phia nam, kỵ binh và bộ binh của Kim chiếm ưu thế, song thủy binh thì kém xa quân Tống.

Ngột Truật (Hoàn Nhan Tông Bật) là con thứ tư của Kim Thái Tổ. Ngột Truật rất giỏi dùng binh nên được phong chức Đô Nguyên Soái, lãnh Hành Đài Thượng Thư Sự, chủ trì xâm lăng tiêu diệt nhà Nam Tống. Tuy nhiên Ngột Truật từng đại bại thê thảm dưới tay Nhạc Phi và Hàn Thế Trung. Năm 1130 Ngột Truật cất đại quân vượt sông Trường Giang đánh Tống, thế như chẻ tre, quân Tống tháo chạy hoảng hốt.

Tướng Tống là Nhạc Phi tiến quân đến Thường Châu[2], đánh với Ngột Truật bốn trận, quân Kim thua trận. Nhạc Phi tiếp tục truy kích, giành thêm chiến thắng ở trấn Giang Đông, Thanh Thuỷ. Ngột Truật nhanh chân cho quân chạy về Kiến Khang (nay thuộc thành phố Nam Kinh), Nhạc Phi cho quân phục kích tại núi Ngưu Đầu đánh bại Ngột Truật, Ngột Truật lại chạy về Hoài Tây, Nhạc Phi thu hồi được Kiến Khang, bảo toàn được nửa mảnh giang sơn Giang Nam của Nam Tống. Ngột Truật phải tháo chạy, lui về giữ Khai Phong, tính bỏ luôn cuộc Nam xâm, phải chấp nhận ký hòa ước với Nam Tống.

Và nhà Nam Tống lại tìm cách chinh phục phía bắc. Các tướng Trương Tuấn, Ngô Lân, Ngô Giới, Lưu Kỳ, Hàn Thế Trung, nhất là Nhạc Phi, đánh thắng quân Kim nhiều trận, có hy vọng khôi phục bắc phương. Lưu Kỳ dùng 2 vạn Bát Tự quân đẩy lui 10 vạn quân Kim do Hoàn Nhan Ngột Truật chỉ huy ở Thuận Xương. Lưu Kỳ vì thế trở thành viên tướng Tống đầu tiên đánh bại được đạo quân Quải Tử mã bách chiến bách thắng của Ngột Truật.

Ngô Giới (1093 – 1139) người Lũng Cán, Đức thuận quân, Ninh Hạ cùng người em là Ngô Lân trấn giữ Hòa Thượng nguyên[3], năm 1131 đánh tan 10 vạn quân Kim do Ngột Truật chỉ huy, đến năm 1134 lại đánh thắng quân Kim ở Tiên nhân quan[4] khiến cho quân Kim không dám xâm phạm Tứ Xuyên.

Trận Hoàng Thiên Đãng [sửa]

Năm 1130 Hoàn Nhan Ngột Truật đem quân Kim đánh xuống phía nam liên tiếp chiếm được Minh châu, Bình giang (Tô Châu) bèn trở về phương bắc bị tướng Hàn Thế Trung người Diên An tự là Lương Thần thống lĩnh thủy quân chặn đánh ở Hoàng Thiên Đãng và một số nơi khác suốt một dải từ Trấn giang đến phủ Kiến khang. Tinh thần tướng sĩ Tống cao ngút trời, 8000 thủy binh chiến đấu với 10 vạn quân Kim trong suốt 48 ngày . Quân Tống dùng xích sắt gắn những móc to đợi thuyền quân Kim đến thì móc kéo cho thuyền chìm xuống. Trong lúc hai bên kịch chiến, vợ Hàn Thế Trung là Lương Hồng Ngọc đích thân đánh trống trợ oai, nhiều phen đánh bại quân Kim. Sau cùng quân Kim dùng hỏa công đánh bại quân Tống mới có thể sang sông trở về phương bắc.

Năm 1134, người Kim cùng với chính quyền ngụy Tề Lưu Dự ở phương Bắc do người Kim nâng đỡ, liên quân tiến đánh Nam Tống, đánh chiếm 6 quận Tương Dương ở trung lưu sông Trường Giang, trực tiếp uy hiếp sự sinh tồn của nhà Nam Tống. Tống Cao Tông lại phải lệnh cho Nhạc Phi xuất quân, nhưng lại hạn chế ràng buộc chỉ được phép thu phục 6 quận Tương Dương, không cho phép đánh tiến lên phía bắc. Nhạc Phi cứ thế Bắc tiến, mạnh mẽ tiến công đến Đặng Châu (nay thuộc Nam Dương tỉnh Hà Nam), Tương Châu[5], Dĩnh Châu[6], Tuỳ Châu[7], Đường Châu[8], phủ Tín Dương[9].

Năm 1136, quân Tống dưới sự chủ trì của đại tướng Trương Tuấn phái chủ chiến, Nhạc Phi, Hàn Thế Trung... cùng các lộ cất quân Bắc phạt. Nhạc Phi xuất quân ở trấn Tương Dương, dương Đông kích Tấy, lệnh cho thuộc tướng là Ngưu Cao giả vờ tiến quân, còn mình thì dẫn quân chủ lực tấn công phía tây bắc, năm trận đánh thắng cả năm, thu phục rất nhanh Y Dương, Lạc Dương, Thương Châu, Quắc Châu, tiến vào một dãy bờ phía nam sông Hoàng Hà, thu phục cả một vùng đất rộng lớn về cho nhà Nam Tống. Nhân dân khắp nơi nô nức đón chào Nhạc Phi và quân đội, hàng trăm đám nghĩa quân lớn nhỏ đùn đùn xin đến hưởng ứng. Trong tình thế hết sức thuận lợi này, phái chủ hoà và phái đầu hàng của tập đoàn thống trị Nam Tống mà đứng đầu Tống Cao TôngTần Cối lại tỏ ra sợ hãi nên cho triệu hồi các lộ quân Bắc phạt.

Năm 1138, nước Kim chủ động nêu ra việc trả lại nhà Nam Tống đất Thiểm Tây, Hà Nam vốn do Lưu Dự chiếm giữ. Trước khi nghị hòa, Hoàn Nhan Xương đã tước đế hiệu của Lưu Dự xuống làm Thục vương. Một năm sau khi trả lại đất, nước Kim nổ ra đảo chính, Hoàn Nhan Tông thuộc phái chủ chiến đã giết Hoàn Nhan Xương và tái chiếm Thiểm Tây, Hà Nam. Nước Kim liên tục gây sức ép quân sự tấn công xuống phía nam. Do mua chuộc được Tần Cối, bày mưu cho Tần Cối hãm hại Nhạc Phi và Hàn Thế Trung, Ngột Truật đã dễ dàng đập tan sự kháng cự của Nam Tống, biến Nam Tống thành chư hầu nhược tiểu của nước Kim.

Năm 1140 quân Kim lại ồ ạt xâm chiếm xuống phía nam, công phá vây hãm Củng, Bột, tướng Lưu Kỳ phải cấp báo, Nhạc Phi lại phụng mệnh tiếp viện. Nhạc Phi lệnh cho Lương Hưng thống lĩnh quân kỵ lén vượt Hoang Hà quấy phá hậu phương quân Kim, còn mình thì dẫn quân chủ lực trực chỉ Trung Nguyên, liên tiếp thu phục Yển Thành (nay thuộc tỉnh Hà Nam), Trịnh Châu, Lạc Dương... Nhạc Phi đã đại phá đội kỵ binh tinh nhuệ của Ngột Truật tại Yển Thành, lại đánh bại quân chủ lực của Kim ở Chu Tiên trấn (nằm ở phía tây nam huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam). Ngột Truật cho quân rút về Khai Phong không dám nghênh chiến, quân Tống khí thế hừng hực. Quân Tống đã đoạt được mấy thành Thuận Xương, Ngạc Châu Chánh Dương, đuổi quân Kim thối lui chỉ còn cách thành Biện Lương không đầy mười tám dặm, sắp khôi phục được Kinh đô của Bắc Tống.

Nhưng một lần nữa triều đình Nam Tống lại đem thắng lợi của Nhạc Phi làm vốn xin hoà với người Kim, trong một ngày liên tiếp cho phát đi 12 lệnh kim bài triệu hồi Nhạc Phi. Trước đó, Tần Cối đã bí mật lệnh cho các tướng lĩnh rút lui, để lại một mình Nhạc Phi cùng quân của ông thâm nhập trận địa. Nhạc Phi bị ép vào thế khó đã ngửa mặt than: "Công lao 10 năm, đã bị phá hỏng trong một buổi!"

Người Kim vốn hận Nhạc Phi đến tận xương tuỷ, đã cấu kết với Tần Cối, bắt triều đình nhà Tống phải giết hại Nhạc Phi để làm điều kiện hoà nghị. Tống Cao Tông đã điều Nhạc Phi đi làm Khu mật phó sứ để tước bỏ hết binh quyền của ông. Ngày 25 tháng 12 năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), Nhạc Phi và con trai của mình, Nhạc Vân, bị gian thần Tần Cối thuốc chết tại đình Phong Ba thuộc Đại lý tự Lâm An. Sau khi Nhạc Phi chết thì nội bộ quân Nam Tống mâu thuẫn, các chỉ huy khác không theo điều động của Trương Tuấn nên cuộc bắc tiến đã không thành công.

Các tướng chủ chiến như Hàn Thế Trung, Ngô Giới, Lưu Kỳ, Trương Tuấn bị tước binh quyền. Hàn Thế Trung bỏ quan, mang rượu cưỡi lừa đi ngao du ở Tây Hồ để khuây khỏa. Tần Cối làm tể tướng trong suốt 17 năm ra sức bài trừ những ai bất đồng chính kiến, giáng chức và đuổi hết quan lại có tư tưởng kháng Kim, áp chế dư luận đánh Kim.

Các Hòa ước Thiệu Hưng, Long Hưng, Khai Hy [sửa]

Năm 1141 triều đình Nam Tống đã ký hòa ước Thiệu hưng với Kim, cắt nhượng toàn bộ đất đai phía bắc sông Hoài đến Đại tán quan (Thiểm Tây) cho Kim, và ép buộc Nhạc Phi tự tử. Hàng năm số bạc cống nộp lên đến 25 vạn lạng bạc và 25 vạn tấm lụa, Nam Tống cắt các châu Đường Đặng, Thương, Tứ và đất Hòa thượng nguyên. Phương sơn nguyên cho Kim. Nước Kim cho chở quan tài của Huy Tôn và Thái Hậu về Tống. Năm sau danh tướng Nhạc Phi của Tống bị triều đình xử tử. Sau khi Nhạc Phi chết thì nội bộ quân Nam Tống mâu thuẫn, nên cuộc bắc tiến đã không thành công.

Năm 1160, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng quyết tâm thực hiện ý đồ thôn tính Nam Tống, ước hẹn với các nước chư hầu, người Khiết Đan, người Hề... hợp binh tại Hà Lạc - Quan Trung, huy động tổng cộng 60 vạn quân trong đó có 15 vạn quân người Hán (3 vạn thủy quân). Sau đó chia làm ba đường ào ạt tiến quân, thế như thác đổ. Hoàn Nhan Lượng tiến quân từ Thọ Xuân đến Hoài nam, Lưu Ngạc đem quân từ Thái châu đến Kinh Tương. Mục tiêu quan trọng nhất chính là Tương Dương thành. Nếu chiếm được Tương Dương thì việc thôn tính Nam Tống chỉ như trở bàn tay. Đạo quân chủ lực của Kim do thống chế Lưu Ngạc thống lĩnh, từ Khai Phong tiến xuống Tế Châu. Đạo binh tiên phong trực chỉ Hán Thủy công phá Phàn Thành.

Năm 1161 quân Kim tràn xuống phía nam, lúc bấy giờ quân Tống đóng ở Thái Thạch thì chủ tướng Vương Quyền bị bãi chức, triều đình cho văn thần Ngu Doãn Văn (1110 - 1174) người Tứ xuyên, An phủ phó sứ Thông châu đến úy lạo khao quân. Ngu Doãn Văn đã mạnh dạn giữ vai trò chỉ huy, tổ chức gần 2 vạn quân đội bố phòng trên sông. Thủy quân hai nước giao chiến tại trận Thái thạch (gần Dương đồ, An huy) trên Trường giang, quân Tống có lợi thế với các chiến thuyền có vận tốc nhanh hơn (sử dụng nhiều bánh guồng), dùng xa thuyền chặn đứng thuyền quân Kim ở giữa sông, tấn công quân Kim bằng các phích lịch pháo (máy bắn đá) và thuốc súng dẫn nổ bắn cháy thuyền quân Kim làm quân Kim thua trận. Tại các mặt trận khác cánh quân phía tây đánh vào Xuyên Thiểm, cánh quân trung lộ đánh vào Kinh Tương đều bị quân Tống đẩy lui. Quân Kim phải tập trung lại tại Trần Gia đảo huyện Giao Tây (Mật châu) có kế hoạch đánh vào thủy quân Tống ở gần Lâm an. Hạ tuần tháng 10 hai bên giao chiến tiếp trong trận Đặng đào gần bán đảo Sơn đông, quân Kim huy động lực lượng 600 tàu và 70.000 quân, trong khi đó quân Tống chỉ có 120 tàu và 3000 quân do tướng Lý Bảo chỉ huy. Ưu thế thuộc về quân Kim, nhưng quân Tống lại giành thắng lợi bắn cháy các tàu của Kim, gây tổn thất nặng cho quân Kim. Hoàn Nhan Lượng buộc phải men theo bờ bắc Trường giang đến hạ tuần tháng 11 thì hạ lệnh cho quân vượt sông tại Qua châu (Giang Tô) đánh một trận quyết định. Nhưng hậu phương của Kim bị rối loạn. Người Khiết đan, nông dân Hán tộc ở hậu phương nước Kim, do không chịu nổi sự đàn áp khắc khe của người Kim, nổi dậy phản kháng. Khi mối mâu thuẫn nội bộ của người Kim bùng nổ, Hoàn Nhan Lượng bị Binh mã đô thống chế đạo Chiết Tây là Hoàn Nhan Nguyên giết chết ngoài mặt trận vào tháng 11 năm 1161, quân Kim buộc phải rút lui trở về bắc.

Nhân cơ hội đó Tống Hiếu tông phái quân đánh Kim nhưng quân Tống bị đại bại ở Phù Ly[10] phải đưa người của phe chủ hòa là Thang tư Thoái lên làm tể tướng tiến hành hòa đàm với Kim. Năm 1165 hai bên định lại hoà ước, ký kết hòa ước Long Hưng gọi vua Kim bằng chú, số tiền hằng năm tế tuệ phải nộp được giảm, bạc, lụa mỗi thứ 50 vạn chỉ còn 20 vạn, Tống cắt thêm 2 châu Thương châu[11] và Tần châu[12]. Lần này Tống không thắng nhưng Kim cũng nhường một chút. Triều đình đã chán ngán không còn muốn tiếp tục chiến tranh. Hai nước có thời gian hòa bình trong 40 năm.

Năm 1203, Hàn Thác Trụ chủ trương bắc phạt đã tích cực chuẩn bị lực lượng, đến năm 1206, Hàn Thác Trụ thấy nước Kim có nội loạn cho đem quân đánh. Quân Tống có 16 vạn còn quân Kim có 13,5 vạn giao chiến trên sông Hoài. Cánh quân phía đông tấn công Túc châuTúc châu, An Huy thất bại, chủ tướng bị bắt. Cánh quân phía tây đánh Đường châu[13] cũng thất bại. Quân Kim vượt sông Hoài giằng co với quân Tống. Lúc này Hàn Thác Trụ mới tỏ ý hòa đàm nhưng nước Kim ra điều kiện phải giết Hàn Thác Trụ nên hòa đàm thất bại. Nhà Nam Tống nóng lòng muốn hòa đàm nên sai một viên quan Tống là Lễ bộ thị lang Sử Di Viễn giết Hàn Thác Trụ, gửi thủ cấp đến nước Kim, sau đó hai bên ký hòa ước Khai Hy, gọi vua Kim bằng bác, tăng tuế tuệ lên 30 vạn lạng bạc, 30 vạn tấm lụa. Nhưng không lâu sau đó Kim bị Mông Cổ tấn công, phải dời kinh đô xuống Khai phong.

Phân chia hành chính [sửa]

Dời đô đến Yên kinh [sửa]

Sau khi chiếm toàn bộ miền bắc Trung Quốc nhà Kim trở nên bị Hán hóa nhiều hơn, chuyển kinh đô từ phủ Hội Ninh (会宁) ở miền bắc Mãn Châu (phía nam của Cáp Nhĩ Tân thuộc tỉnh Hắc Long Giang ngày nay) về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) nhằm tăng cường khả năng cai trị. Năm 1153 Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng đã quyết định dời đô về Yên Kinh, đổi tên thành Trung Đô, đây là một quyết định sáng suốt của triều đình nhà Kim, củng cố sự vứng mạnh của vương triều.

Sắp đặt hành chính [sửa]

Nhà Kim phân chia quốc gia của họ thành ba cấp là lộ, phủ (châu), huyện,trong đó lộ là cấp hành chính lớn nhất,tổng cộng có 19 lộ. Thượng Kinh, Đông Kinh, Bắc Kinh, Tây Kinh, Trung Đô, Nam Kinh, Hà Bắc đông, Hà Bắc tây, Sơn Đông đông, Sơn Đông tây, Đại Danh phủ, Hà đông bắc, Hà Đông nam, Kinh Triệu phủ, Phượng Tường, Phu Duyên, Khánh Nguyên, Lâm Thao, Hàm Bình.

Các kinh đô của nhà Kim: Thượng Kinh (Hội Ninh phủ, A thành, Hắc long giang), Trung đô (Đại Danh phủ, Bắc kinh ngày nay), Bắc kinh (Đại định, Ninh thành, Liêu ninh) Tây Kinh (Đại Đồng, Sơn Tây), Nam Kinh (Khai phong phủ, Hà nam), Đông Kinh (Liêu Dương, Liêu Ninh). Tại các kinh đô đều có chức quan Lưu thủ nắm quyền quân chính và dân chính.

Trong thời gian 120 năm, 9 vị vua Kim cai trị miền bắc, lãnh thổ nhà Kim khá rộng lớn, phía bắc đến dãy Hưng an, phía nam đến sông Hoài, phía đông đến Hoàng hải, phía tây đến Thiểm Tây.

Chế độ kế ngôi.

Lúc đầu tổ chức bộ máy của nhà Kim vẫn mang dấu ấn của xã hội thị tộc, sau khi Kim Thái tổ A cốt đả chết, người em trai là Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi lên ngôi tức vị Kim Thái tông. Đến khi Kim Thái tông chết, người cháu nội của Kim Thái tổ là Hoàn Nhan Hợp lạt lên ngôi tức vị Kim Hy tông. Sau này người nối ngôi Kim Thế tông lại là người cháu, tức vị Kim Chương tông.

Phát triển kinh tế xã hội [sửa]

Người Nữ Chân sử dụng văn tự Nữ Chân do Hoàn Nhan Xiyin soạn thảo vào năm 1119 dựa trên cơ sở chữ viết Hán và Liêu và được chính thức ban hành năm 1145. Văn tự Khiết đan không còn được chính thức sử dụng từ năm 1191. Hệ thống ký tự của người Nữ Chân có 720 ký tự trong đó gồm cả chữ tượng hình và tượng thanh. Nhà Kim đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa, kế thừa văn hóa của Tống triều và kiến trúc của người Khiết Đan.

Kim Hy tông cho áp dụng một số phong tục Hán và sáng tác thơ văn bằng chữ Hán. Mặc dù lệnh cấm người Nữ Chân lấy người Hán mãi đến năm 1191 mới bị bãi bỏ nhưng trước đó nhiều người Nữ Chân đã thực hiện việc này rồi.

Lúc đầu người nông dân phải nộp thuế theo số cừu. Sau đó khi chấp nhận hệ thống thuế của Bắc Tống về đánh thuế hai lần, người nông dân phải nộp thuế vào hai vụ hè và thu, số thuế được tính theo diện tích đất. Việc cho thuê đất đã trở thành thông dụng trong thời Kim Thế tông. Nhà nước đã thu được kinh nghiệm của các triều đại trước như Đường, Tống để tránh cho người dân bán đất của họ và các địa chủ gian lận thuế. Nhà Kim nhiều lần thực hiện cải cách để phân chia lại đất đai và tài sản công cộng, hạn chế diện tích đất các tướng lĩnh Nữ Chân chiếm giữ. Nông nghiệp là nguồn lực quan trọng và cơ sở để tính thuế. Tuy nhiên chăn nuôi du mục vẫn là hoạt động quan trọng của nông dân Nữ Chân.

Hoàn Nhan Lượng kế thừa chế độ giao đất theo đầu người của thời Hy tông, mở rộng việc thuê đất, chú trọng xây dựng thủy lợi, nông nghiệp, khai khoáng, đúc tiền làm sản xuất ngày càng phát triển.

Nước Kim hồi đó nông nghiệp rất phát triển, khi cực thịnh, diện tích canh tác lớn hơn cả nước Tống. Nhân khẩu nông nghiệp bột phát gia tăng, từ 3 triệu hộ ban đầu, phát triển lên 7,6 triệu hộ, dân số 45 triệu người, vượt dân số Bắc Tống thời Tống Chân Tông. Thành Khai phong có dân số đông tới 147 vạn người.

Dân số tăng lên nhanh chóng, vào thời Kim Chương tông, thống kê dân số là 760 vạn hộ (gần bằng số hộ thời Tùy Văn đế), khoảng 44,7 triệu người song đến năm 1234 thống kê chỉ còn 170 vạn hộ (giảm 590 vạn hộ trong vòng 30 năm) khoảng 10 triệu người, điều đó cho thấy mức độ tàn khốc của cuộc chiến tranh với người Mông cổ.

Thương mại cũng là nguồn thuế khác, gần như tất cả các mặt hàng phải nộp thuế, lúc đầu đánh thuế gia tăng 3% sau đó còn tăng lên nữa. Trung đô có 3 chợ lớn bán đủ các mặt hàng trong cả nước sản xuất. Các con kênh được sử dụng làm đường giao thông quan trọng, Kim Thế tông đã cải tạo lại một số con kênh cũ nối đến Trung đô. Với quốc gia láng giềng Nam Tống, các thương nhân giao thương qua các chợ đường biên. Các loại hàng nhập khẩu có giá trị từ Nam Tống là chè và tiền kim loại, còn ngựa thì từ Tây Hạ. Các ngành sản xuất gang thép là công nghiệp quan trọng của nhà Kim và người dân được khuyến khích khai quặng sắt, vàng và đồng nhưng không được dùng các đồ đó. Nhà nước độc quyền trong luyện gang thép, tất cả các sản phẩm nổi tiếng lúc đó được làm từ gang xanh. Sau đó thuế khai mỏ được áp đặt vào các hoạt động của ngành này.

Thời kỳ đầu triều Kim, vẫn còn sử dụng các loại tiền cũ của Tống và Liêu, nhưng sau năm 1150 đã phát hành tiền giấy và bắt đầu đúc các loại tiền Chính long và Đại định. Kim Thế Tông tự viết mẫu tự đồng tiền “Đại Định” năm 1161, đó là đồng tiền rất đẹp. Từ năm 1197 tiền bạc Thừa an được sử dụng. Năm 1198 thời Chương tông thực hiện cải cách tiền tệ đó là dùng đồng bạc làm đơn vị tiền tệ, đánh dấu một bước mới trong lịch sử, có ảnh hưởng sâu rộng về sau.

Công nghệ in ấn được cải tiến hơn trong thời kỳ này, qua việc in các bản kinh Phật.

Trong thời gian chiến tranh với Tống, các loại vũ khí như súng (chấn thiên lôi) được sử dụng và đạt đến trình độ cao trong nghệ thuật quân sự.

Nhà Kim cho xây cất thêm một đoạn thành lũy dài 1,500 cây số đi từ lưu vực sông Hoàng Hà đến sông Tùng Hoa (Hắc Long Giang). Một công trình xây dựng nổi tiếng trong thời gian Kim Thế tông cai trị còn tồn tại đến ngày nay là Lư cầu kiều, gần Bắc kinh. Cây cầu này xây dựng trong vòng 3 năm (1189 – 1192) có chiều dài 265,5 mét (874 feet) và rộng 9,3 m (30,5 feet), được đỡ bằng 281 cột. Tại mỗi cột có chạm khắc 1 con sư tử đá.

Giáo dục khoa cử [sửa]

Người Nữ Chân đã nhanh chóng nhận ra và sớm công nhận tầm quan trọng của hệ thống thi cử và giáo dục của Trung quốc trong việc tuyển lựa người vào bộ máy chính quyền. Hệ thống các trường Quốc tử giám (thành lập năm 1151) và Thái học (thành lập năm 1166) được tiếp quản từ người Khiết đan, Khổng Tử được đề cao là Thánh học, và văn học nghệ thuật Hán, triết học, tóan học, được cả dân chúng và quan lại tiếp thu. Kim Hy tông đích thân đến lễ miếu Khổng Tử và đọc rất nhiều sách của Nho gia như Luận ngữ, Thượng thư.

Năm 1123 bắt đầu mở khoa thi để chiêu nạp văn nhân Hán tộc chia ra 2 kỳ thi là từ phú và kinh nghĩa, người nào đậu thì gọi là từ phú tiến sĩ và kinh phú tiến sĩ. Các thí sinh được sát hạch ở cấp quận (hương thi), hạt (phủ thi) và cấp tỉnh (hội thi) và cấp cao nhất (đình thi). Các cuộc khảo thi đều được cấp chứng chỉ, và khác với triều đại của Liêu, nhà Kim cho phép người Nữ Chân tham dự vào hệ thống kiểm tra. Người tài được lựa chọn từ tầng lớp dưới và tráng niên, không dùng người thân. Tại các trường công (thái học) có tới 400 người theo học.

Hoàn Nhan Lượng mở rộng chế độ thi cử sang đến thời Kim Thế tông giáo dục càng được coi trọng. Tại kinh đô thành lập Nữ Chân Viên tử học, năm 1176 hệ thống các trường cấp lộ được thiết lập gọi là Nữ Chân phủ học, và năm 1189 hệ thống này được thiết lập tại cấp quận. Kim Hy tông đề cao và bảo vệ nền văn hóa Nữ Chân nên thiết lập khoa Nữ Chân tiến sĩ, dùng Nữ Chân văn làm bài thi sách luận, gọi là sách luận tiến sĩ, thí sinh dự thi phải là con em của Nữ Chân. Kim Thế tông cho giảng dạy các môn học này bằng tiếng Nữ Chân năm 1164, tiếng Hán được phiên âm sang tiếng Nữ Chân để người Nữ Chân có thể học tập. Từ Kim Thế tông trở đi các khoa cử đều dùng Nữ Chân văn, người Hán muốn gia nhập vào giới sĩ phu cũng phải theo con đường đó. Trong thời Kim có tới 16000 người đỗ tiến sĩ. Triều đình bắt buộc mọi người đều phải tham gia học tập, nhất là những người trong bộ máy hành chính. Sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Nữ Chân và Hán càng thêm sâu sắc. Thêm nữa, nghiên cứu khoa học rất quan trọng nhất là trong y học. Nữ Chân có các thầy thuốc nổi tiếng như Lưu Hoàn Tố và Trương Nguyên Tố.

Trung kỳ [sửa]

Hoàn Nhan Lượng [sửa]

Năm 1149, Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng làm đảo chính, giết Kim Hi Tông, lên ngôi vua, giảm thế lực của hoàng gia, thanh trừng 155 quý tộc Nữ Chân trong đó có 70 người là con cháu của Kim Thái Tông, Kim Hi Tông. Tào vương Hoàn Nhan Tông Mẫn, Hữu thừa tướng Hoàn Nhan Bỉnh Đức và người cháu là Hoàn Nhan Tôn Hàn cũng bị giết, 30 người con của Hoàn Nhan Tôn Hàn cũng bị liên đới.

Hoàn Nhan Lượng bổ nhiệm những người không có gốc gác Nữ Chân vào các chức vụ trong triều. Đồng thời thành lập cải cách quan chế, bãi bỏ các cơ quan hành chính cũ, giữ lại Thượng thư tỉnh là cơ quan giúp việc hành chính, đổi cơ quan quân sự cao nhất là Đô nguyên soái phủ thành Khu mật viện giúp việc quân sự, tăng cường quyền lực nhà nước trung ương tập quyền.

Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng hạ lệnh phá hủy hoàn toàn nhà cửa, vườn tược của cung điện cũ và các nhà quý tộc ở Hội Ninh phủ, san phẳng làm ruộng cày, quyết tâm dời đô đến Yên Kinh, đóng góp vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển của lịch sử xã hội vương triều Kim, lăng mộ các vua Kim cũng dời về Yên Kinh, đưa Khai Phong lên thành Nam Kinh. Trung tâm kinh tế của đế quốc Kim được chuyển đến phía bắc, và các tộc người phi Hán (Nữ Chân, Khiết Đan, Bột Hải) nhanh chóng hòa đồng, áp dụng ngôn ngữ và phong tục của người Hán.

Kim Thế Tông [sửa]

Năm 1161, trong lúc quân Kim nam chinh, một cánh quân do tướng Hoàn Nhan Phúc Thọ chỉ huy, bao gồm gần 1 vạn người đã phản biến chạy về Đông Kinh Liêu Dương, giết quan Đông kinh phó lưu thủ là Cao Tồn Phúc và lập Đông kinh lưu thủ Hoàn Nhan Ung, (con của Hoàn Nhan Tông Nghiêu, cháu nội Kim Thái Tổ, nguyên là Thượng thư Bộ binh đời Kim Hi Tông), lên ngôi tức là Kim Thế Tông với niên hiệu Đại Định, bắt đầu thời kỳ thịnh trị của nhà Kim. Kim Thế Tông được sử sách ca ngợi là Tiểu Nghiêu Thuấn.

Kim Thế Tông phái Hữu phó Nguyên soái Hoàn Nhan Mưu Diễm đem quân đi trấn áp cuộc khởi nghĩa do Yilan Wowo lãnh đạo, những người theo hàng được hưởng chính sách khoan hồng, sau đó người Bột Hải, Khiết Đan, Hán được tham gia bộ máy triều chính. Sau khi quân Kim chiếm được đất Hoài Nam, nước Kim cùng Nam Tống bang giao hòa hiếu.

Trong thời gian trị vì gần 30 năm của Kim Thế Tông, sản lượng nông nghiệp thặng dư, thi hành các chính sách tiến bộ, khuyến khích các hoạt động văn hóa nghệ thuật của người Nữ Chân, sưu tầm các bài hát, thơ ca, vũ đạo của người Nữ Chân. Hoạt động này còn được tiếp tục trong thời Kim Chương Tông.

Mâu thuẫn giai cấp [sửa]

Trong thời gian Kim Thế Tông trị vì, nhà Kim biên chế dân theo mưu khơ và mừng an. Để giám sát và đàn áp người Hán, người Nữ Chân cho các mưu khơ đến ở các đồn điền và lấy ruộng của người Hán chia cho họ. Người Nữ Chân không phải lao động mà bắt người Hán cày cấy, có nơi người Hán phải thuê lại ruộng và nộp tô trước 2, 3 năm. Người Nữ Chân cho rào ruộng của dân để làm nơi chăn thả và săn bắn làm cho nhiều ruộng đất bị bỏ hoang. Người Nữ Chân còn cưỡng bức người Hán làm nô tỳ, tại các hộ mưu khơ, mừng an đều có 1 hoặc 2 nô tỳ, nhà quý tộc có trên 100 nô lệ. Người Hán bị bắt đi lính phải tự lo lương thực và quần áo, có người đi lính suốt 10 năm không trở về, không rõ sống chết thế nào nhưng người nhà vẫn phải gửi áo quần hàng năm.

Vì mâu thuẫn giữa người Nữ Chân và người Hán luôn là mâu thuẫn đối kháng nên người Hán luôn đấu tranh chống lại ách thống trị của người Nữ Chân. Dưới ách thống trị của Kim, dân Hán liên tục khởi nghĩa chống lại. Cuộc đấu tranh chống Kim ở các nơi không bao giờ chấm dứt. Lúc Kim còn mạnh trung bình cứ 2 năm có 1 cuộc khởi nghĩa lớn.

Suy yếu [sửa]

Từ đầu thế kỷ 13 nhà Kim đã bắt đầu suy yếu, năm 1194 sông Hoàng Hà thay đổi dòng đã phá vỡ hệ thống tưới tiêu của sông Hoài trong gần 700 năm sau gây ra tai họa lũ lụt khủng khiếp ở Sơn Đông. Phù sa Hoàng Hà đã ngăn chặn dòng chảy của sông Hoài và làm hàng ngàn người mất nhà ở. Nạn lụt ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu nông dân, làm cho nạn đói xảy ra, khiến cho họ không thể trả tiền thuế giúp triều đình tăng cường khả năng quân sự. Từ năm 1200, nhà Kim phải ban hành lệnh thành lập các đồn điền để bù đắp chi phí ngày càng tăng.

Các cuộc nổi dậy liên tiếp của nông dân Hán làm kiệt sức nguồn lực quốc gia. Năm 1206 và 1208 nhà Kim phải chịu đựng những cuộc tấn công của nhà Tống tuy thắng nhưng thiệt hại cũng nhiều. Năm 1215 các nghĩa quân Hồng Y khởi nghĩa lớn ở Sơn Đông.

Việc người Đảng Hạng nổi dậy ở Nam Mãn châu, đã bị quân Mông cổ lợi dụng cơ hội đó. Nhà Kim phải đối phó với Mông cổ ở phía bắc, Nam Tống ở phía nam, người Cao Ly ở phía đông, Tây Hạ ở phía tây, và quân Hồng Y trong nước. Quân Kim sau cuộc chiến năm 1161 kết thúc có thời gian nghỉ ngơi khá lâu, không được luyện tập, thiếu kinh nghiệm, không thích hợp khi giao chiến ở phía nam, trong khi đó kỵ binh lại bị hạn chế về số lượng và là nhược điểm của Kim (sức mạnh của quân Mông Cổ là kỵ binh). Trong quân ngũ chiến thuật không có gì mới, không đối phó được với quân Mông cổ. Sau một thời gian dài sống nhàn hạ, tầng lớp quý tộc Nữ Chân đã mất đi sức chiến đấu. Lúc bấy giờ, quân đội nước Kim quân luật lơi lỏng, sĩ khí rụng rơi, dưới sự tiến công như vũ bão của kỵ binh Mông Cổ đã dần dần bị đánh bại.

Tháng 11 năm 1208, Kim Chương tông Hoàn Nhan Cảnh bị bệnh chết. Hoàng thúc Vệ Thiệu vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế cùng đám thuộc hạ giả lập di chiếu, lên ngôi hoàng đế. Năm 1211, 10 vạn thiết kỵ của Mông Cổ chia làm ba đường tấn công vào nước Kim. Thành Cát Tư HãnĐà Lôi chịu trách nhiệm một mũi tiến quân. Họ lần lượt hạ Xương Châu, Đàn Châu, Phủ Châu. Giã Biệt, Gia Luật A Hải chịu trách nhiệm một mũi tiến công, đã dùng chiến thuật kỳ tập chiếm được Ô Nguyệt Danh, rồi lại tiến chiếm Ô Sa Bảo. Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài chịu trách nhiệm một mũi tiến công và đã chiếm được Vân Nội, Đông Thắng, v.v... Tháng 8 cùng năm, Thành Cát Tư Hãn xua quân bao vây Đại Đồng là Tây Kinh của nước Kim. Lưu thủ Tây kinh Hồ Sa Hổ chưa đánh nhau đã bỏ chạy, thế là Tây Kinh lại bị rơi vào tay Mông Cổ, làm cho cả triều đình và khắp dân gian đều kinh hoàng sợ hãi. Nhà Kim phải giảng hòa, cống nộp nhiều của cải, nhân lực, trong đó có công chúa Kỳ quốc.

Nội loạn trong triều nổ ra, Hồ Sa Hổ lợi dụng quân đội nắm trong tay phát động một cuộc chính biến. Hắn bắt vua Vĩnh Tế là ngươi từng khoan dung cho hắn nhiều lần đem nhốt vào thiên lao giết chết. Người con của Hoàn Nhan Doãn cung, cháu nội của Kim Thế tông, anh của Kim Chương tông là Phong vương Hoàn Nhan Tuần đang trấn thủ Hà bắc lên ngôi, tức vị Kim Tuyên tông. Kim Tuyên tông lấy Hồ Sa Hổ làm thái sư, thượng thư lệnh kiêm đô nguyên soái, phong làm Trạch vương. Cùng tháng, ông đổi niên hiệu thành Trinh Hữu. Tháng 9 nhuận, ông đổi lại tên cũ là Hoàn Nhan Tuần. Tháng 10, Truật Hổ Cao Kỳ giết Hồ Sa Hổ, ông miễn tội cho Cao Kỳ, phong làm tả phó nguyên soái.

Chính sách đối ngoại của Tuyên Tông cũng rất tệ hại, trực tiếp dẫn tới sự diệt vong của nhà Kim. Trước hết, ông hướng về phía đại hãn Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn, chịu khuất nhục cầu hòa, sau lại đoạn tuyệt quan hệ với Tây Hạ, mà chẳng cần xem xét các kiến nghị phản đối của đại thần Đồ Đan Dật. Tiếp đó, do kinh đô di chuyển từ Trung Đô về phía nam tới Biện Kinh nên ông đã phát động chiến tranh chống Nam Tống kéo dài từ năm 1217 tới đầu năm 1224, tạo ra thế nhà Kim phải chịu chiến trận từ ba phía, cũng như tăng thêm bất hòa trong nội bộ, sinh ra phản loạn. Nguy cơ mất nước đã lộ rõ.

Kim Tuyên Tông đã sai lầm khi quyết định khước từ đề nghị chi viện của Tây Hạ khi Kim đồng thời có chiến tranh với người Mông ở phía bắc và nhà Nam Tống ở phía nam.

Các cuộc thay đổi chính quyền xảy ra do Truật hổ Cao kỳ (1213-1219), Pucha Guannu (1232-33), và Cui Li lãnh đạo (1233-34) là nguyên nhân làm suy yếu, mất ổn định, hao tổn trong nội bộ triều đình, thậm chí ngăn cản việc tổ chức lực lượng chống lại quân Mông cổ.

Chiến tranh Kim - Mông cổ [sửa]

Đồng thời nhà Kim bắt đầu chịu áp lực từ người Mông Cổ ở phía bắc. Mặc dù lực lượng quân chỉ bằng 1/10 của Kim nhưng ba lần tấn công vào nước Kim, quân Mông Cổ đã làm quân Kim bị thiệt hại nặng nề.

Thất thủ Trung Đô, dời về Khai Phong [sửa]

Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh 5 vạn kỵ binh Mông Cổ xâm nhập đất Kim và lôi kéo người Khiết Đan và Tây Hạ nổi dậy. Tháng 8 năm 1211, Thành Cát Tư Hãn đóng quân ở Phủ Châu (Trương Bắc, Hà Bắc) ra lệnh tấn công mạnh vào quân chủ lực của nhà Kim ở Dã Cô Lãnh (tây bắc Trương Gia Khẩu, Hà Bắc).

Trận Dã Hồ Lãnh là một trận quyết chiến giữa quân Mông Cổ và triều đình nhà Kim. Triều đình nhà Kim đã học được bài học thất bại trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh là "chia mỏng quân đội để đóng giữ ở các cửa ải, các thành quách", bắt đầu áp dụng chiến lược "tập trung quân số” để đối phó với quân địch. Nhà Kim tập trung 45 vạn quân tinh nhuệ trên cả nước, dàn trận tại Dã Hồ Lãnh, với ý đồ dồn quân đội Mông Cổ vào con đường chết. Đây là một trận chiến có quy mô lớn nhất mà từ trước đến nay đối với quân Mông cổ.

Thành Cát Tư Hãn đã tiếp nhận kiến nghị của Mộc Hoa Lê, trước tiên dùng đội quân cảm tử để thọc sâu vào Trung quân của Kim, rồi sau đó các cánh quân khác mới mở đường tấn công, tức tập trung 10 vạn quân để đánh thẳng vào một mục tiêu chủ yếu. Hơn nữa, chủ soái của Mông Cổ dù đứng trước mọi tình trạng nguy hiểm vẫn không hốt hoảng, vẫn bình tĩnh chỉ huy. Các tướng sĩ của Mông Cổ dám xông lên chiến đấu. Do vậy, chủ lực của triều đình nhà Kim mới bị đánh bại. Riêng quân Kim tiếp ứng chưa đánh đã bỏ chạy trước. Xác chết của quân Kim đã nằm rải rác trên một diện tích rộng hằng trăm dặm. Qua trận đánh này, binh lực súc tích cả trăm năm của triều đình nhà Kim đã bị đánh bại hoàn toàn, nên thế nước của họ ngày càng suy sụp. Trận đánh tại Dã Hồ Lãnh là một bước ngoặc đối với sự thất bại của triều đình nhà Kim và sự thắng lợi của quân Mông Cổ.

Trong 2 năm 1212-1213, quân Mông Cổ san bằng hơn 90 thành trì của nhà Kim. Năm 1213, Thành Cát Tư Hãn tập trung đại quân từ Dã Cô Lãnh tấn công và đập tan 30 vạn quân Kim ở Cối Hà Bảo (nam Vạn Toàn, Hà Bắc). Tháng 7 đại quân Mông cổ tiến thẳng tới Cư Dung Quan. Quân Kim quyết tâm cố thủ. Thành Cát Tư Hãn dùng mưu để bộ tướng của mình đánh nhau ở đó còn bản thân dẫn quân tinh nhuệ đang đêm theo đường nhỏ tập kích Tử Kinh Quan. Sáng sớm hôm sau quân thiết kỵ Mông cổ đã áp sát Tử Kinh Quan, quân Kim đại bại.

Năm 1214 nhà Kim chuyển kinh đô về Biện Kinh (tức Khai Phong - kinh đô cũ nhà Tống) để tránh người Mông Cổ. Tháng 6 năm 1214, quân Mông Cổ mở cuộc tấn công vào nước Kim lần thứ hai. Họ bắt đầu từ Bắc Khẩu tấn công Cảnh Châu, Kế Châu, Đàn Châu, Thuận Châu, v.v... Tháng 7, thái tử nước Kim là Hoàn Nhan Thủ Trung bỏ chạy khỏi Trung Đô. Tháng 10, Mộc Hoa Lê xua quân tấn công Liêu Đông. Tháng giêng năm 1215, Thạch Mạt Minh An, anh em Gia Luật xua quân tấn công thành trì. Quân Mông Cổ đánh chiếm được Thông Châu, áp sát Trung Đô.

Thành Cát Tư Hãn ra lệnh cho tướng Mộc Hoa Lê vây kín Yên Kinh, lại ra lệnh cho Triết Biệt đóng quân dọc đường từ Khai Phong tới Yên Kinh, chặn đánh tất cả các đoàn tiếp tế lương thảo. Về phía Kim, khi triều đình Kim rút lui, để Hoàn Nhan Thừa huy ở lại cố thủ. Một bên quyết bao vây, một bên quyết thủ. Hết mùa đông, sang mùa xuân thành Yên Kinh vẫn đứng vững. Nhưng lương thực trong thành ngày một cạn. Vì trước đây lương thực do hai nguồn tiếp tế; một là do các châu, huyện Hoa Bắc giao nộp, hai là tiếp tế từ Biện Lương lên. Nay tất cả các thành trì, châu, huyện trên vùng Hoa Bắc bị quân Mông Cổ kiểm soát. Nguồn tiếp tế từ miền nam lên bị chặn đánh.

Tháng ba năm đó, Hoàn Nhan Thừa Huy gởi quyết thư đến Khai Phong để xin tăng viện. Nhà vua mới đã phái một quan văn giữ chức Ngự Sử Trung Thừa là Lý Anh tăng cường quân đội vận lương chi viện cho Trung Đô. Tháng 4, toán quân tăng viện bị quân Mông Cổ tiêu diệt tại Bá Châu. Trung Đô bị tuyệt lương nên vô cùng nguy ngập. Quá tuyệt vọng, Hoàn Nhan Thừa huy trấn thủ quyết xua quân đánh một trận phá vòng vây. Nhưng các tướng không tuân lệnh. Ông lấy máu viết biểu tố cáo việc này lên vua Kim, phân phát tài vật cho thuộc hạ, rồi uống thuốc độc tự tận. Ông chết rồi, đang đêm viên tướng trấn thủ mở cửa thành, cùng người ái thiếp bỏ trốn. Quân trong thành không tướng chỉ huy. Các tướng coi binh đoàn tranh quyền, đánh lẫn nhau, không ai giữ cửa thành. Một vài toán quân bị bại, mở toang cửa thành ra hàng Mông Cổ. Mộc Hoa Lê xua một vạn rưởi kị binh, dẫn theo 30 binh đoàn thân binh tràn vào thành. Kị binh phi trên xác quân lính, dân chúng, đốt phá khắp nơi. Tính ra có tới 5 vạn quân Kim bị giết với khoảng 50 vạn dân chúng chết trong loạn quân. 10 vạn phụ nữ lên thành nhảy xuống tự tử vì sợ bị hãm hiếp. Trong ba tháng, thành Yên Kinh vẫn còn bốc cháy.

Tháng 3 năm Trinh Hữu thứ 2 (1214), Mông-Kim hòa nghị thành công, tháng 5 Tuyên Tông quyết định dời đô về Biện Kinh, nhưng sau đó chiến tranh Mông-Kim lại tái phát. Tháng 5 năm Trinh Hữu thứ 3 (1215), Trung Đô thất thủ. Tháng 10, Bồ Tiên Vạn Nô tại Liêu Đông tự lập làm vua.

Nước Kim từ đó liên tục thất bại, không kháng cự nổi. Các lực lượng vũ trang nông dân mặc áo đỏ nổi dậy chống lại nhà Kim, dưới tên gọi Hồng áo quân. Năm 1217, tướng Mộc Hoa Lê chỉ huy quân Mông Cổ tiếp tục xâm chiếm đất đai của Kim. Triều đình nhà Kim dưới sự lãnh đạo của tể tướng Truật hổ Cao kỳ tiếp tục rút về phía nam. Khi Truật hổ Cao kỳ nắm quyền triều chính năm 1217, ông ta đã sai lầm quyết định đánh Nam Tống và tiến vào vùng đất của Nam Tống, nhưng do thất bại nên năm 1218 Truật hổ Cao kỳ bị xử tử.

Chiến sự nổ ra cho đến năm 1224 và quân Kim chịu tổn thất nặng. Năm 1224 Hoàn Nhan Thủ Tự tuyên bố Kim sẽ không bao giờ đánh Tống nữa. Quân Kim phải dàn quân cả ở phía nam và bắc và bị cô lập vì không liên kết được với Nam Tống chống quân Mông Cổ. Nhận thấy nhà Kim đã suy yếu, Nam Tống liên kết với Tây Hạ để tấn công Kim vào năm 1220.

Năm 1223, Mộc Hoa Lê đánh vào Thiểm Tây, tấn công Trường An. Tại đây lực lượng của Kim rất mạnh, đông tới 20 vạn người do tướng Hoàn Nhan Hợp đạt chỉ huy. Mộc Hoa Lê chuyển sang bao vây Phượng Tường với lực lượng 10 vạn người. Cuộc bao vây kéo dài hơn 1 tháng và quân Mông Cổ bị quấy rối bởi các lực lượng địa phương trong khi quân tiếp viện của Tây Hạ không đến. Mộc Hoa Lê sau đó chết bệnh vì uất ức và quân Mông Cổ rút lui.

Khi hai bên giao chiến ở vùng Sơn Đông, dọc đường mười nhà thì chín nhà bỏ trống, người trên đường nhao nhao chạy nạn, quân Kim tan vỡ, quân lính thua trận chạy về cướp đoạt tiền bạc, hãm hiếp phụ nữ. Đà Lôi và Mộc Hoa Lê cầm quân đánh Kim, đại chiến mấy trận ở Sơn Đông đánh quân Kim đại bại tan rã. Quân sĩ còn lại của nước Kim tập trung ở cửa Đồng Quan, đóng chặt cửa quan cố thủ, không dám ra Sơn Đông nghênh chiến. Năm 1223, cả tướng Mông Cổ Mộc Hoa Lê và vua Kim Tuyên Tông đều chết. Kim Ai Tông Hoàn Nhan Thủ Tự lên kế vị và cố gắng huy động lực lượng chống lại sức mạnh của Mông Cổ.

Mông Cổ liên Tống diệt Kim [sửa]

Năm 1227, trước khi chết Thành Cát Tư Hãn đưa ra ý tưởng: “Liên Tống diệt Kim”. Ông nói: “Tinh binh của Kim tập trung ở Đồng Quan (Đồng Quan, tỉnh Thiểm Tây), phía nam thì chiếm Liên Sơn, phía bắc thì ngăn bởi Đại Hà (tức sông Hoàng Hà) nên rất khó tiêu diệt. Vì Tống và Kim thù địch lâu đời nên nếu mượn đường của Tống đánh Kim, thì chắc là Tống sẽ cho, sau đó cho quân vòng qua Đường Châu (Đường Hà, tỉnh Hà Nam), Đặng Châu (huyện Đặng, tỉnh Hà Nam) rồi đánh thẳng vào Khai Phong. Kim sẽ lấy quân từ Đồng Quan sang chi viện. Quân Kim dù có mấy chục vạn nhưng hành quân đường xa, người, ngựa đều mệt mỏi, không thể tác chiến ngay được, đó là lúc ta đánh thắng được họ”.

Năm 1227, Mông Cổ tiêu diệt Tây Hạ, thiết lập liên minh của họ với Nam Tống đánh Kim.

Năm 1229, lần đầu tiên trong 20 năm giao chiến, 400 kị binh Trung hiệu quân của Kim bao gồm người Duy Ngô Nhĩ, Nãi Man, Khương đã đánh bại 8.000 quân Mông Cổ tại Dachangyuan (Thanh Dương, Cam Túc).

Trận chiến núi Tam Phong [sửa]

Năm 1231, quân Mông Cổ quay trở lại đánh Phượng Tường và chiếm được. Lực lượng quân Kim đóng ở Trường An hoảng sợ, đem toàn bộ dân chúng rút khỏi thành chạy về Hà Nam. Một tháng sau, quân Mông Cổ đã chia quân 3 mặt tây, bắc, đông tấn công vào Khai Phong. Cánh quân phía tây do Đà Lôi chỉ huy có 4 vạn quân từ Phượng Tường tiến vào Đồng Quan, xuyên qua lãnh thổ của Nam Tống ở sông Hán gần Tương Dương áp sát Đặng Châu bất ngờ tấn công mặt nam của Khai Phong. Nhà Kim phái Bình chương chính sự Hoàn Nhan Khờ Tả, Khu mật sứ Di Sư Phủ Á cùng 17 đô úy thống lĩnh 15 vạn bộ binh và 2 vạn kỵ binh đến Thuận Dương (Triết Xuyên, Hà Nam) phía tây Đặng Châu. Hoàn Nhan Khờ Tả nắm bắt được tình hình và đưa 20 vạn quân nghênh chiến.

Tại Đặng Châu, Hoàn Nhan Khờ Tả cho người và ngựa mai phục sau núi, nhưng quân thám mã của Đà Lôi đã biết được. Đà Lôi cho một số kỵ binh chạy vòng trong thung lũng nghi binh và quân chủ lực tấn công quân Kim từ phía sau. Tại núi Yu, tây nam Đặng Châu quân hai bên giao chiến. Quân Kim chiếm ưu thế về người và chiến đấu rất hăng. Quân Mông Cổ phải lui về 30 dặm và thay đổi chiến thuật. Đà Lôi cho một số quân ở lại kìm chân quân Kim, còn đại quân chia nhỏ theo đường vòng tiến về phía bắc Khai Phong tránh không cho quân Kim biết.

Trên đường tiến quân từ Đặng Châu đến Khai Phong, quân Mông Cổ dễ dàng chiếm hết vùng này đến vùng khác, đốt cháy các thứ cướp được để ngăn Hoàn Nhan Khờ Tả cho quân đuổi theo. Hoàn Nhan Khờ Tả buộc phải rút lui và đụng độ dữ dội với quân Mông Cổ tại núi Tam Phong thuộc Điếu Châu (Vũ Châu, Hà Nam). Vào lúc đó quân Kim tại Hoàng Hà cũng rút về phía nam chặn cánh quân của Đà Lôi. Cánh quân trung lộ của Mông Cổ do hãn Oa Khoát Đài nắm lấy cơ hội vượt qua sông và hội quân với Đà Lôi cùng bao vây quân Km, tổng hợp cả 2 cánh quân cũng mới có 5 vạn quân. Cánh quân Kim của Hoàn Nhan Khờ Tả vẫn còn 10 vạn quân sau trận đánh trước và quân Mông Cổ chọn chiến thuật làm kiệt sức đối phương. Tại các vùng khác quân Kim chỉ còn lại ít và việc chuyển lương gặp nhiều khó khăn. Tinh thần quân lính suy sụp. Khi quân Kim tiến đến núi Tam Phong, bất ngờ có trận bão tuyết ập đến. Thời tiết quá lạnh nên mặt ai cũng trắng như người chết và tiến quân rất chậm. Lúc này quân Mông Cổ đã tập kích, hàng ngũ quân Kim tan rã nhanh chóng. Quân Mông Cổ tàn sát không thương tiếc quân Kim, Hoàn Nhan Khờ Tả và nhiều tướng khác bị tử thương. Gần như toàn bộ quân chủ lực của Kim ở Thiểm Tây và Hà Nam hầu như bị tiêu diệt trong trận này.

Tháng 4 năm 1233 thành Khai Phong thất thủ, Kim Ai Tông Hoàn Nhan Thủ Tự chạy đến Quy Đức, sau lại đến Thái Châu (Nhữ Nam, Hà Nam). Quân Mông Cổ tấn công kinh đô Biện Kinh của triều Kim và quân Mông Cổ đã bị người Kim chống trả ác liệt, khiến tướng sĩ Mông Cổ chết nhiều, tướng sĩ Mông Cổ đã đề nghị Oa Khoát Đài "làm cỏ" kinh thành Khai Phong để trả thù cho quân sĩ. Oa Khoát Đài ban đầu cũng đồng tình theo ý của viên tướng Tốc Bất Hợp nhưng Da Luật Sở Tài đã dùng lý lẽ can gián liên tiếp và Oa Khoát Đài nghe ra, cuối cùng chỉ cho giết những người là tay chân của vua Kim. Sự can gián của Da Luật Sở Tài đã cứu sống hơn 147 vạn dân vô tội trong thành Khai Phong. Nửa năm sau, tháng 1 năm 1234 liên quân Mông–Tống công hãm Thái Châu, nhà Nam Tống cho tướng Mạnh Kỳ dẫn 2 vạn quân và 30 vạn thạch lương đến hội quân, cùng công phá Thái Châu, quân Mông Cổ từ phía tây, quân Tống đánh vào từ phía nam, vua Kim tự tử, kết thúc vương triều Kim.

Nam Tống theo điều ước tiến quân lấy lại 3 kinh là Lạc Dương, Khai Phong, Quy Đức. Tại Lạc Dương khi quân Tống đến trong thành chỉ còn 300 hộ dân, quân Tống chỉ mang theo 5 ngày lương thảo nên chuyển đến Khai Phong, tại đây quân Mông Cổ đã tháo nước sông Hoàng Hà ngập chìm quân Tống dìm chết hàng mấy vạn quân Tống. Diệt xong Kim, Nam Tống trở thành miếng mồi xâm lược của vua Mông Cổ. Năm 1279, Nguyên Mông tiêu diệt Nam Tống, cai trị toàn bộ đất nước Trung Quốc.

Năm 1616, người Nữ Chân ở Mãn Châu dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhĩ Cáp Xích thuộc dòng họ Ái Tân Giác La đã thiết lập triều đại nhà Hậu Kim, lấy tên vương triều theo tên nhà Kim cũ, hàm ý sẽ nối tiếp cơ nghiệp của tổ tiên dân tộc Nữ Chân. Nhà Hậu Kim sau đó đổi tên thành nhà Thanh năm 1636 dưới triều vua Thanh Thái Tông (Hoàng Thái Cực), sau đó xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc của nhà Minh và trở thành vương triều cuối cùng của Trung Quốc phong kiến.

Lịch sử của nhà Kim được viết dưới thời nhà Nguyên. “Kim sử” là một sách lịch sử trong 24 sách của "Nhị thập tứ sử", do Thoát Thoát biên soạn năm 1345. Tổng cộng có 135 quyển và viết từ sự ra đời cho đến khi diệt vong của nhà Kim.

Các vua nhà Kim [sửa]

Nhà Kim trải qua mười đời vua như bảng dưới đây.

Miếu hiệu Thụy hiệu Tên Thời gian Niên hiệu
Kim Thái Tổ金太祖 Ứng Càn Hưng Vận Chiêu Đức Định Công Nhân Minh Trang Hiếu Đại Thánh Vũ Nguyên Hoàng đế
應乾興運昭德定功仁明莊孝大聖武元皇帝
Hoàn Nhan A Cốt Đả 完颜阿骨打 hay Hoàn Nhan Mân 完颜旻 1115-1123 Thu Quốc (收國,115-1116)
Thiên Phụ (天輔,1117-1123)
Kim Thái Tông金太宗 Thể Nguyên Ứng Vận Thế Đức Chiêu Công Triết Huệ Nhân Thánh Văn Liệt hoàng đế
體元應運世德昭功哲惠仁聖文烈皇帝
Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi 完颜吳乞買
hay Hoàn Nhan Thịnh 完颜晟
1123-1135 Thiên Hội (天會,1123-1134)
Kim Hi Tông 金熙宗 Hoằng Cơ Toản Vũ Trang Tĩnh Hiếu Thành Hoàng đế
弘基纘武莊靖孝成皇帝
Hoàn Nhan Hợp Lạt 完顏合剌
hay Hoàn Nhan Đản 完顏亶
1135-1149 Thiên Hội(天會, 1135-1138)
Thiên Quyến (天眷, 1138-1141)
Hoàng Thống (皇統,1141-1149)
  Hải Lăng Vương 海陵王 Hoàn Nhan Địch Cổ Nãi 完顏迪古乃
hay Hoàn Nhan Lượng 完顏亮
1149-1161 Thiên Đức (天德,1149-1153)
Trinh Nguyên (貞元,1153-1156)
Chính Long (正隆,1156-1161)
Kim Thế Tông 金世宗 Quang Thiên Hưng Vận Văn Đức Vũ Công Thánh Minh Nhân Hiếu Hoàng đế
(光天興運文德武功聖明仁孝皇帝)
Hoàn Nhan Ô Lộc 完顏烏祿
hay Hoàn Nhan Ung 完顏雍
1161-1189 Đại Định (大定, 1161-1189)
Kim Chương Tông Hiến Thiên Quang Vận Nhân Văn Nghĩa Vũ Thần Thánh Anh Hiếu Hoàng đế
憲天光運仁文義武神聖英孝皇帝
Hoàn Nhan Cảnh 完顏璟 1190-1208 Minh Xương (1190-1196)
Thừa An (1196-1200)
Thái Hòa (1201-1208)
  Vệ Thiệu Vương hay Vệ Vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế 完顏永濟 1209-1213 Đại An (1209-1212)
Sùng Khánh (1212-1213)
Chí Ninh (1213)
Kim Tuyên Tông Kế Thiên Hưng Thống Thuật Đạo Cần Nhân Anh Vũ Thánh Hiếu Hoàng đế
繼天興統述道勤仁英武聖孝皇帝
Hoàn Nhan Tuần 完顏珣 1213-1223 Trinh Hữu (1213-1217)
Hưng Định (1217-1222)
Nguyên Quang (1222-1223)
Kim Ai Tông Kính Thiên Đức Vận Trung Văn Tĩnh Vũ Thiên Thánh Liệt Hiếu Trang Hoàng đế
敬天德运忠文靖武天圣烈孝莊皇帝
Hoàn Nhan Thủ Tự 完顏守緒 1224-1234 Chính Đại (1224-1232)
Khai Hưng (1232)
Thiên Hưng (1232-1234)
  Mạt Đế Hoàn Nhan Thừa Lân 完颜承麟 1234 Thịnh Xương (1234)

Xem thêm [sửa]

Chú thích [sửa]

  1. ^ lưu vực A Thập Hà, Hắc Long Giang
  2. ^ Thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay
  3. ^ tây nam huyện Bảo Kê, Thiểm Tây
  4. ^ nam huyện Huy, Cam Túc
  5. ^ nay thuộc huyện Tương Dương tỉnh Hà Bắc
  6. ^ nay là huyện Chung Tường tỉnh Hồ Bắc
  7. ^ nay là huyện Tuỳ tỉnh Hồ Bắc
  8. ^ Nay là huyện Đường tỉnh Hà Nam, Trung Quốc
  9. ^ Nay là huyện Tín Dương tỉnh Hà Nam
  10. ^ Túc châu, An Huy
  11. ^ huyện Thương, Thiểm Tây
  12. ^ Huyện Thiên Thủy, Cam Túc
  13. ^ Bí Dương, Hà Nam, Trung Quốc