Tốc Bất Đài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tốc Bất Đài trong trang phục giáp trụ của Trung Quốc (hình thời Trung Cổ)

Tốc Bất Đài (chữ Hán: 速不台, phiên âm:Subetei, Subetai, Subotai, Tsubotai, Tsubetei, Tsubatai tiếng Mông Cổ: Сүбээдэй, Sübeedei; tiếng Mông Cổ: Sübügätäi or Sübü'ätäi; 11761248) là một danh tướng Mông Cổ bách chiến bách thắng dưới trướng của Thành Cát Tư HãnOa Khoát Đài. Ông là một trong "tứ khuyển" hay tứ dũng, tứ tiết theo các gọi thân mật mà Thành Cát Tư Hãn đặt cho tứ đại dũng sĩ của thảo nguyên Mông Cổ là Bác Nhĩ Truật (忽必来), Giả Lặc Miệt (Gia Luật Mễ) (者勒蔑), Mộc Hoa Lê và Tốc Bất Đài. Ông là cha của danh tướng Mông Cổ Cốt Đãi Ngột Lang và là ông nội của A Châu (A Truật, Ajiu), viên tư lệnh Mông Cổ tiêu diệt nhà Nam Tống.

Chiến tích[sửa | sửa mã nguồn]

Ông theo phò tá Thành Cát Tư Hãn từ những ngày đầu khởi nghiệp thống nhất các bộ tộc Mông Cổ, Ông là nhà chiến lược quân sự và đại tướng của Thành Cát Tư HãnOa Khoát Đài. Ông đã tiến hành hơn hai mươi chiến dịch, đánh thắng nhiều trận, qua đó chinh phục nhiều quốc gia, trong đó ông chinh phục các vùng lãnh thổ. Ông có khả năng phối hợp sự vận động của các quân đoàn cách xa nhau hàng trăm km. Ông nổi tiếng qua việc tiêu diệt hoàn toàn quân đội Hung Gia LợiBa Lan trong vòng hai ngày, mỗi lực lượng cách nhau hơn năm trăm km.

Người ta còn biết đến ông như là người chỉ huy cuộc hành quân bằng ngựa dài nhất trong lịch sử, trong 2 năm quân đội của ông đi 5.500 dặm từ Mông Cổ tấn công vào Đông Âu đến tận thành Vơnizo và tiêu diệt 6 quốc gia trên đường đi. Tốc Bất Đài là một trong những chỉ huy của quân Mông Cổ coi mùa đông là thời gian tốt nhất để tiến hành chiến tranh. Trong khi những người có sức chịu đựng lại trú đông thì người Mông Cổ lại có khả năng sử dụng những hồ và sông đóng băng để làm đường đi cho những kỵ binh của mình, đây là một chiến thuật mà Tốc Bất Đài sử dụng với hiệu quả lớn ở Nga, cùng với Triết Biệt đánh tan 8 vạn quân Nga trên sông Kalka.

Chiến dịch đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch phía Tây đầu tiên của ông khi Thành Cát Tư Hãn đưa Tốc Bất Đài tới chinh phục Merkits. Tốc Bất Đài đã đánh bại họ ở sông Chu năm 1216 và lần thứ hai năm 1219 ở vùng Wild Kipchak. Mohammad II của Khwarizm (Hoa Thích Tử Mô) sau đó đã tiến hành các cuộc tấn công nhỏ vào quân đội của Tốc Bất Đài dọc theo Irghiz.

Thành Cát Tư Hãn dẫn quân Mông Cổ tiến về phía tây vào cuối năm 1219 để xâm lược Khwarizm để trả thù việc hành quyết các sứ thần Mông Cổ. Tốc Bất Đài được giao chỉ huy đội quân tiên phong. Với khoảng 13 vạn quân, quân Mông Cổ thua kém hơn nhiều lực lượng của Hoàng đế Khwarizim, nhưng bằng mưu kế và di chuyển linh hoạt, quân Mông Cổ đã tiêu diệt Khwarizim trong vài trận đánh quan trọng. Mohammad cố gắng bảo vệ bản thân và chạy trốn vào miền trung Ba Tư, Thành Cát Tư Hãn lại phái Tốc Bất Đài và Triết Biệt dẫn 2 vạn quân để truy bắt ông ta. Mohammad đã trốn thoát, nhưng ông ta bị ốm và chết tại một làng chài trên bờ biển Caspi đầu năm 1221.

Tốc Bất Đài đã trú đông ở Azerbaijan. Tại đây ông ta đã hình thành một ý tưởng là đi vòng qua biển Caspi để tấn công vào hậu phương của Wild Kipchaks và Cumans. Sau khi kiểm soát được Persia và đột kích Georgia, quân Mông Cổ đã cắt ngang qua dãy núi Caucasus trong suốt mùa đông để đi vòng qua Derbent Pass. Bằng chiến thuật khôn ngoan, Tốc Bất Đài đã chia cắt và đánh bại quân Alans và Don Kipchaks/Cumans. Ông ta tấn công tiêu diệt liên quân Rus và Cuman tại khu vực sông Kalka (31 tháng năm năm 1223), nhưng cuộc đột kích vào lãnh thổ Volga Bulgar kết thúc với thất bại. Tốc Bất Đài đã nhận quân tiếp viện và sau đó chinh phục được Wild Kipchaks và Kanglis. Chiến dịch kết thúc và Tốc Bất Đài trở lại gia nhập vào quân của Thành Cát Tư Hãn và quay về nhà.

Đánh Tây Hạ và diệt Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Tốc Bất Đài đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch đánh Tây Hạ năm 1226. Năm 1227 ông ta đã chinh phục được các châu quận của nhà Kim dọc vùng thượng lưu sông Vị Thủy. Triều đình Mông Cổ bị rối loạn bởi cái chết của Thành Cát Tư Hãn. Người nối ngôi là con trai ông ta Oa Khoát Đài.

Năm 1230-1231, Oa Khoát Đài đích thân dẫn quân chủ lực Mông Cổ tấn công nhà Kim ở Trung Nguyên, nhưng việc cố gắng chia cắt các vùng đồng bằng ở tỉnh Hồ Nam bị thất bại sau khi Tốc Bất Đài bị thua trận ở Shan-ch’e-hui. Quân Mông Cổ bao vây và chiếm được Fengxiang, mục tiêu thứ hai. Năm 1231-1232 quân Mông Cổ tiến hành cuộc xâm lược khác. Thời gian này, Tốc Bất Đài đã có lực lượng vượt trội quân Kim.

Quân Mông Cổ đã giành chiến thắng quyết định tại Sanfeng (ngày 09 tháng 2 năm 1232), Yangyi (Ngày 24 tháng 2 năm 1232), và T’iehling (Ngày 01 tháng 3 năm 1232). Oa Khoát Đài dẫn quân chủ lực Mông Cổ trở về, để Tốc Bất Đài với một lực lượng nhỏ để hoàn tất việc chinh phục Hồ Nam. Tốc Bất Đài thấy rất khó để chiếm các thành phố lớn và cần hơn 2 năm để hoàn toàn tiêu diệt nhà Kim.

Tốc Bất Đài đã liên minh với nhà Tống để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng liên minh này không được lâu dài và đổ vỡ với quân Mông Cổ. Hai đội quân Tống đã thừa cơ chiếm lấy Khai Phong và Lạc Dương trong mùa hè năm 1234. Quân Mông Cổ đã trở lại và chiếm hai thành phố này.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Allsen, T.T., Prelude to the Western Campaigns: Mongol Military Operations in Volga-Ural Region 1217–1237, Archivum Eurasiae Medii Aevi 3 (p. 5–24), 1983
  • Amitai-Preiss, Reuven (1998). The Mamluk-Ilkhanid War. Cambridge University Press. ISBN 0-521-52290-0
  • Boyle, John Andrew, History of the World Conqueror, Manchester, 1958
  • de Rachewiltz, Igor, In the Service of the Khan: Eminent personalities of the early Mongol-Yuan period (1200–1300), Wiesbaden, 1992
  • de Rachewiltz, Igor, The Secret History of the Mongols: A Mongolian Epic Chronicle of the Thirteenth Century, Brill, 2004
  • Devi, Savitri, The Lightning and the Sun, 1958 (written 1948–56) ISBN 978-0-937944-14-1
  • Gabriel, Richard A., Genghis Khan's Greatest General: Subotai the Valiant. University of Oklahoma Press (March 30, 2006). ISBN 0-8061-3734-7.
  • Morgan, David (1990). The Mongols. Oxford: Blackwell. ISBN 0-631-17563-6
  • Nicolle, David (1998). The Mongol Warlords, Brockhampton Press.
  • Reagan, Geoffry (1992). The Guinness Book of Decisive Battles, Canopy Books, NY.
  • Saunders, J. J. (1971). The History of the Mongol Conquests, Routledge & Kegan Paul Ltd. ISBN 0-8122-1766-7
  • Sicker, Martin (2000). The Islamic World in Ascendancy: From the Arab Conquests to the Siege of Vienna, Praeger Publishers.
  • Soucek, Svatopluk (2000). A History of Inner Asia, Cambridge University Press.
  • Strakosch-Grassmann, Einfall der Mongolen in Mittel-Europa 1241–1242, Innsbruck, 1893
  • Thackston, W.M., Rashiduddin Fazlullah’s Jamiʻuʾt-tawarikh (Compendium of Chronicles), Harvard University, Department of Near Eastern Languages and Civilizations, 1998–99
  • Turnbull, Stephen (2003). Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190–1400, Osprey Publishing. ISBN 1-84176-523-6
  • Yuan Shih (120 and 121), http://www.yifan.net/yihe/novels/history/yuanssl/yuas.html