Bạt Đô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bạt Đô, Batu
Hãn của Kim Trướng hãn quốc
Batuhan.JPG
Tượng của hãn Bạt Đô tại Thổ Nhĩ Kỳ
Tại vị 1227-1255
Đăng quang 1224/1225 hay 1227
Tiền nhiệm Truật Xích
Sartak
Thông tin chung
Thân phụ Truật Xích
Thân mẫu Ukhaa Ujin của bộ lạc Onggirat
Sinh 1205
Mông Cổ
Mất 1255
Sarai Batu

Hãn Bạt Đô (tiếng Mông Cổ: Бат Хаан, tiếng Nga: Батый, tiếng Trung: 拔都) (khoảng 1205–1255) là một hãn Mông Cổ và đồng thời là người sáng lập ra Thanh Trướng hãn quốc. Bạt Đô là con trai của hãn Truật Xích và là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn. Thanh Trướng hãn quốc của ông sau này hợp nhất với Bạch Trướng hãn quốc để trở thành Kim Trướng hãn quốc (hay hãn quốc Kipchak), cai trị cả RusKavkaz trong khoảng 250 năm, sau đó còn tấn công và tiêu diệt quân đội của Ba LanHungary cổ đại. "Bạt Đô", "Batu" hay "Bat" về nghĩa đen có nghĩa là "mạnh mẽ" hay "Dũng sĩ" trong tiếng Mông Cổ.

Dòng dõi huyết thống của các hãn Khiếp Tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Thành Cát Tư Hã công nhận Truật Xích như là con đẻ của ông, nhưng cha đẻ thật sự của ông là ai thì vẫn là một câu hỏi, do mẹ đẻ của ông, Bột Nhi Thiếp, vợ của Thành Cát Tư Hãn, đã bị bắt cóc và bà này sinh ra ông chỉ một thời gian ngắn sau khi được trở về. Trong cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn, vấn đề này được nhiều người biết tới nhưng không ai dám bàn luận công khai. Nó là vấn đề nhức nhối giữa Truật Xích và cha mình; ngay trước khi Truật Xích chết, giữa ông và Thành Cát Tư Hãn đã gần như xảy ra nội chiến vì Truật Xích từ chối tham dự vào các chiến dịch quân sự của đại hãn Mông Cổ. Truật Xích cũng chỉ có 4.000 binh sĩ người Mông Cổ để bảo vệ hãn quốc của mình. Bạt Đô, con trai Truật Xích, đã phải tuyển dụng thêm binh sĩ từ những người Turk mà ông đã đánh bại, chủ yếu là người Turk Kipchak. Bạt Đô sau đó còn sống tại gia của chú ông là Oa Khoát Đài thay vì sống tại gia của Đà Lôi, một người chú khác của ông.

Sau khi Truật Xích và Thành Cát Tư Hãn chết, vùng đất của Truật Xích được phân chia cho Bạt Đô và anh trai ông là Oát Nhi Đáp (Orda). Bạch Trướng hãn quốc của Oát Nhi Đáp tương đương với vùng đất ngày nay nằm giữa sông Volgahồ Balkhash, trong khi Thanh Trướng hãn quốc của Bạt Đô là các vùng đất phía tây sông Volga.

Khi Bạt Đô và con trai ông là Sartak chết, em trai Bạt Đô là Biệt Nhân Ca (Berke) đã thừa hưởng Thanh Trướng hãn quốc. Biệt Nhân Ca không nghiêng về phía thống nhất với hững người họ hàng là anh em con chú trong dòng họ, mà còn gây chiến với hãn Húc Liệt Ngột (con trai của Đà Lôi), mặc dù ông vẫn công nhận nhà Nguyên như là chúa tể của mình (trên lý thuyết). Trên thực tế, Biệt Nhân Ca là một vị vua độc lập. Một điều có lẽ là sự may mắn cho châu Âu trung cổ là Biệt Nhân Ca lại không có cùng sở thích như của Bạt Đô trong việc xâm chiếm vùng đất này, tuy nhiên, ông vẫn buộc vua Hungary Bela IV phải cống nạp và cho tướng Borolday đem quân tới Litva và Ba Lan.

Bạt Đô có ít nhất 4 con trai:

  • Sartaq, hãn của Thanh Trướng hãn quốc từ 1255 tới 1256.
  • Toqoqan[1]
  • Andewan
  • Ulagchi (có lẽ là con của Sartaq thì đúng hơn)

Mẹ đẻ của Bạt Đô, Ukhaa ujin, thuộc về bộ lạc Hoằng Cát Lạt (Onggirat)[2] của người Mông Cổ trong khi khatun (vợ) chính của ông, Borakchin, là người Alchi-Tatar.

Sơ kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Truật Xích chết, Thành Cát Tư Hãn đã chia phần các vùng đất phụ thuộc cho các con trai của mình. Nhưng đại hãn đã cho Bạt Đô làm hãn của ulus Truật Xích. Người anh trai là Oát Nhi Đáp cũng đồng ý để Bạt Đô kế nghiệp cha mình. Người em út của Thành Cát Tư Hãn là Thiếp Mộc Cách (Temuge) đã tham dự lễ đăng quang. Thành Cát Tư Hãn chia cho gia đình Truật Xích 4.000 quân Mông Cổ.

Năm 1229, Oa Khoát Đài cho 3 tumen dưới sự chỉ huy của Kukhdei và Sundei đi xâm chiếm và chinh phục các bộ lạc ở vùng hạ Ural. Theo như Abulghazi, Bạt Đô đã tham dự vào các chiến dịch quân sự của Oa Khoát Đài chống lại nhà Kim ở miền bắc Trung Quốc với các binh sĩ đi theo là người Bashkir, người Cuman, người Bulgarngười Alan. Mặc cho sự phản kháng mãnh liệt của đối phương, nhưng người Mông Cổ vẫn chiếm được nhiều thành trì của người Nữ Chân và làm cho người Bashkir trở thành đồng minh của mình.

Xâm lược Rus[sửa | sửa mã nguồn]

Cướp phá Suzdal của hãn Bạt Đô tháng 2 năm 1238: Tiểu họa trong biên niên sử thế kỷ 16.

Năm 1235, Bạt Đô, trước đó từng trực tiếp chinh chiến để chiếm Krym, được giao chỉ huy một đội quân tới 130.000 người để thực hiện việc xâm chiếm châu Âu. Những người anh em họ hàng của ông như Quý Do, Buri, Mông Kha, Khulgen, Kadan, Baidar và các tướng lĩnh Mông Cổ lừng danh như Tốc Bất Đài (Subotai, Сүбээдэй), Borolday (Боролдай) và Mengguser (Мөнхсар) đã cùng tham gia với ông theo lệnh của Oa Khoát Đài. Đội quân này, trên thực tế do Tốc Bất Đài chỉ huy, đã vượt qua sông Volga và xâm chiếm Volga Bulgaria năm 1236. Họ mất khoảng một năm để dập tắt sự phản kháng của Volga Bulgaria, KypchakAlan.

Tháng 11 năm 1237, hãn Bạt Đô gửi sứ giả tới triều đình của Yuri II của đại công quốc Vladimir-Suzdal và yêu cầu ông này phải phục tùng. Một tháng sau, đội quân du mục này đã vây hãm Ryazan. Sau 6 ngày với những trận chiến đẫm máu thành phố này đã bị tiêu diệt hoàn toàn và không bao giờ phục hồi lại được niềm kiêu hãnh trước đây của mình. Nhận được tin dữ, Yuri II đã cho các con trai của mình tới ngăn chặn đội quân du mục, nhưng họ cũng thất bại thảm hại gần Kolomna. Sau khi đốt phá KolomnaMoskva, đội quân du mục đã vây hãm thành Vladimir vào ngày 4 tháng 2 năm 1238. Ba ngày sau, kinh đô của đại công quốc Vladimir-Suzdal thất thủ và bị đốt cháy hoàn toàn. Toàn thể gia đình của Yuri II chết cháy, trong khi vị đại công tước phải bỏ chạy lên phía bắc tới Yaroslavl. Vượt qua sông Volga, ông tập hợp chấn chỉnh lại quân đội, nhưng cuối cùng cũng bị người Mông Cổ tiêu diệt hoàn toàn trong trên sông Sit ngày 4 tháng 3 cùng năm. Yuri II chết trận.

Sau đó hãn Bạt Đô cha quân đội của mình ra thành các đơn vị nhỏ hơn, và các đội quân này đã đánh chiếm, cướp bóc 14 thành phố của Rus, bao gồm Rostov, Uglich, Yaroslavl, Kostroma, Kashin, Ksnyatin, Gorodets, Galich, Pereslavl-Zalessky, Yuriev-Polsky, Dmitrov, Volokolamsk, Tver, Torzhok. Khó chiếm nhất lại là thị trấn nhỏ Kozelsk, tại đây vị tiểu công tước Titus và những cư dân đã chống lại người Mông Cổ trong 7 tuần. Theo truyền thuyết kể lại, khi quân Mông Cổ tiến vào Kitezh thì thị trấn nhỏ này đã chìm xuống hồ Svetloyar với tất cả cư dân của nó, nơi ngày nay người ta vẫn có thể nhìn thấy nó. Các thành phố lớn thoát khỏi cảnh phá hủy là Smolensk, nơi đã chịu khuát phục và cống nộp cho người Mông Cổ, và Novgorod với Pskov, là hai thành phố người Mông Cổ chưa thể đến được do khoảng cách tương đối xa và thời tiết mùa đông khắc nghiệt.

Mùa hè năm 1238, quân đội của Bạt Đô tàn phá Krym và ký kết hòa ước với Mordovia. Mùa đông năm 1239, quân Mông Cổ của ông đốt phá ChernigovPereyaslav. Sau vài tháng vây hãm, đội quân du mục đã tiến vào Kyiv tháng 12 năm 1239. Mặc cho sự kháng cự mãnh lệt của Danylo của Halych, Bạt Đô đã chiếm được 2 kinh đô chính của ông này là HalychVolodymyr-Volyns'kyi. Nhà nước Rus trở thành chư hầu của đế quốc MÔng Cổ chứ không bị sáp nhập vào.

Xâm chiếm Trung Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Legnica, một trong những trận chiến quyết định trong chiến dịch của Bạt Đô

Hãn Bạt Đô sau đó quyết định "đi tới biển tận cùng", nơi mà người Mông Cổ không thể đi xa hơn nữa. Một số sử gia hiện đại suy đoán rằng Bạt Đô chủ yếu có ý định đảm bảo cho hai bên sườn của ông được an toàn trong tương lai trước sự can thiệp có thể có từ phía người Âu, và một phần như là tiền đề cho cuộc xâm chiếm tiếp theo. Phần lớn tin rằng ông có ý định xâm chiếm toàn bộ châu Âu, ngay sau khi hai bên sườn được an toàn và các lực lượng của ông đã sẵn sàng.

Người Mông Cổ tấn công vào Trung Âu theo ba nhóm. Một nhóm xâm chiếm Ba Lan, đánh bại lực lượng kết hợp dưới quyền của Henryk II Pobożny, công tước Silesia và đại thủ lĩnh của Giáo binh đoàn Giéc-man tại Legnica. Nhóm thứ hai vượt qua Karpat còn nhóm thứ ba tiến ngược dòng Danube. Các đội quân này hợp lại và nghiền nát Hungary năm 1241, đánh bại quân đội do Béla IV của Hungary chỉ huy tại trận Mohi vào ngày 11 tháng 4 năm đó. Các đội quân này chọc sâu vào vùng bình nguyên của Hungary trong mùa hè và tới mùa xuân năm 1242 họ đã giành thế chủ động và mở rộng sự kiểm soát của mình tới ÁoDalmatia cũng như xâm lược Bohemia.

Hoàng đế Frederick II của đế quốc La Mã thần thánh với con đại bàng của mình

Cuộc tấn công vào châu Âu này đã được lập kế hoạch và do Tốc Bất Đài thực hiện, dưới sự chỉ huy trên danh nghĩa của Bạt Đô. Trong chiến dịch của mình tại Trung Âu, Bạt Đô đã yêu cầu Frederick II, hoàng đế của đế quốc La Mã thần thánh, phải thoái vị và nói "Tôi đến đây để cướp ngôi của ông thay vì ông". Vị hoàng đế này chỉ trả lời rằng ông biết săn bắn chim rất tốt và vì thế muốn trở thành người giữ đại bàng của Bạt Đô. Vị hoàng đế này và giáo hoàng Gregory IX đã kêu gọi một cuộc thập tự chinh chống lại đế quốc Mông Cổ. Tốc Bất Đài có lẽ đã đạt được danh tiếng kéo dài nhất của mình với các thắng lợi tại châu Âu cũng như tại Đông Ba Tư. Sau khi tàn phá một loạt các công quốc Rus, ông đã cử gián điệp vào Ba Lan, Hungary, và xa tới tận Áo, để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào vùng đất trung tâm châu Âu. Nhận được hình ảnh rõ ràng về các vương quốc châu Âu, ông đã có sự chuẩn bị hoàn hảo cho cuộc tấn công được Bạt Đô và 2 vị hãn trong dòng họ chỉ huy trên danh nghĩa. Hãn Bạt Đô, con trai của Truật Xích, là vị chỉ huy tổng thể, nhưng Tốc Bất Đài mới là vị chỉ huy thục tế trên chiến trường, và điều này đã hiện diện trong cả hai chiến dịch ở phía bắc và nam chống lại các công quốc Rus. Trong khi lực lượng ở phía bắc của Hải Đô (Kaidu) thắng trận Legnica và lực lượng của Khoát Đoan (Kadan) thắng tại Transilvania thì Tốc Bất Đài đang chờ họ trên bình nguyên Hungary. Đội quân mới hợp nhất lại sau đó rút lui tới sông Sajo, nơi họ nện cho vua Béla IV một thất bại nặng nề trong trận Mohi.

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Công tước Mikhail Vsevolodovich của Chernigov phải vượt qua lửa theo truyền thống Turk-Mông Cổ cổ đại. Hãn Bạt Đô buộc ông phải quỳ lạy trước bài vị của Thành Cát Tư Hãn. Người Mông Cổ đã tra tấn ông đến chết vì ông từ chối không chịu thực hiện nghi lễ này.

Vào cuối năm 1241, khi Bạt Đô và Tốc Bất Đài đã hoàn thiện kế hoạch xâm chiếm Áo, ÝĐức thì tin tức đưa đến về cái chết của đại hãn Oa Khoát Đài (tháng 12 năm 1241). Người Mông Cổ rút lui vào cuối mùa xuân năm 1242, do các hãn và Tốc Bất Đài được gọi trở về Karakorum nơi hội nghị kurultai được tổ chức để bầu đại hãn mới. Bạt Đô là một đại hãn tiềm năng và khi ông thất cử đã quay trở về để củng cố các cuộc xâm chiếm vào châu Á và vùng Ural. Ông không còn sự phục vụ của Tốc Bất Đài do ông này ở lại Mông Cổ và chết năm 1248 — và sự thù địch của Bạt Đô đối với đại hãn Quý Do đã làm cho bất kỳ cuộc xâm lấn nào nữa vào châu Âu trở thành không thể. Ông phải duy trì quân đội của mình sẵn sàng trước bất kỳ cuộc tấn công nào từ phía đông, do sự xấu đi trong mối quan hệ giữa hai người cháu nội của Thành Cát Tư Hãn cuối cùng đã làm cho đế quốc Mông Cổ không còn tồn tại nữa. Sau khi trở về, hãn Bạt Đô đã cho lập kinh đô của hãn quốc của mình tại Sarai ở hạ lưu sông Volga vào năm 1242. Ông lên kế hạch cho các chiến dịch mới sau khi Quý Do chết, (ông có ý định thực hiện kế hoạch ban đầu của Tốc Bất Đài trong việc xâm chiếm châu Âu) nhưng đã chết năm 1255 và hãn quốc được chuyển giao cho Sartaq. Ông này quyết định nối lại cuộc xâm chiếm vào châu Âu nhưng cũng chết ngay sau đó. Hãn quốc Kipchak cai trị Nga thông qua các công tước địa phương trong vòng 230 năm sau đó.

Aleksandr Nevsky, chư hầu trung thành của Bạt Đô tại Kim Trướng hãn quốc.

Người kế nghiệp là Biệt Nhân Ca không chia sẻ sự quan tâm của Bạt Đô trong việc xâm chiếm châu Âu. Ông quan tâm hơn tới việc chống lại những người anh em họ của mình, đặc biệt là Húc Liệt Ngột, người bị ông ghét cay ghét đắng vì đã phá hủy Baghdad. Đối với Biệt Nhân Ca, một người Hồi giáo mộ đạo, thì những gì Húc Liệt Ngột đã làm là hèn hạ, và năm 1262, khi Húc Liệt Ngột chuẩn bị để di chuyển quân tới Ai Cập để trả thù cho thất bại của đội quân của mình (khi vắng mặt ông) tại trận Ain Jalut, hãn Biệt Nhân Ca đã cho các đội quân cướp bóc những vùng đất được coi là thuộc hãn quốc Y Nhi. Bị chọc giận, Húc Liệt Ngột đã hội quân và tiến về phía bắc, nhưng đã chịu một thất bại nặng nề khi cố gắng xâm chiếm miền bắc Kavkaz năm 1263, sau khi hãn Biệt Nhân Ca nhử ông tiến sâu về phía bắc, xa khỏi vùng đất thánh.

Hãn quốc Kipchak được biết tại Rus và châu Âu như là Kim Trướng hãn quốc (Zolotaya Orda), có lẽ là do màu vàng của lều trại của hãn. Trong số các hãn quốc thì Kim Trướng hãn quốc cai trị lâu nhất. Sau khi nhà Nguyên sụp đổ tại Trung Quốchãn quốc Y Nhi sụp đổ tại Trung Đông thì các hậu duệ của hãn Bạt Đô vẫn còn tiếp tục cai trị vùng thảo nguyên Nga cho tới tận thế kỷ 16, còn các hãn quốc nhỏ sau đó cũng tồn tại tới tận cuối thế kỷ 18.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Morgan, The Mongols, trang 224.
  2. ^ Rashid al-Din - Universal History, Jochids' tale

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Morgan, David. The Mongols. ISBN 0-631-17563-6. 
  • Nicolle, David (1998). The Mongol Warlords. Brockhampton Press. 
  • Ronay, Gabriel (1978). The Tartar Khan's Englishman. Cassel. 
  • Saunders, J.J. (1971). The History of the Mongol Conquests. Routledge & Kegan Paul. ISBN 0-8122-1766-7. 
  • Sicker, Martin (2000). The Islamic World in Ascendancy: From the Arab Conquests to the Siege of Vienna. Praeger Publishers. 
  • Soucek, Svatopluk (2000). A History of Inner Asia. Cambridge. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]