Võ Tắc Thiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Võ Tắc Thiên
武則天
Nữ hoàng đế duy nhất của lịch sử Trung Quốc (chi tiết...)
A Tang Dynasty Empress Wu Zetian.JPG
Hoàng đế nhà Võ Chu
Tại vị 19 tháng 10, 690[1] - 22 tháng 2, 705[2]
Tiền nhiệm Đường Duệ Tông
Kế nhiệm Đường Trung Tông
Hoàng hậu nhà Đường
Tại vị 655 – 683
Tiền nhiệm Vương hoàng hậu
Kế nhiệm Vi hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Đường
Tại vị 683 - 690
Tiền nhiệm Không có
Kế nhiệm Vi thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Đường Thái Tông
Đường Cao Tông
Tên đầy đủ Mị; (媚;), sau này Chiếu[3] (曌)
Thụy hiệu Tắc Thiên Thuận Thánh Hoàng Hậu[4]
則天順聖皇后
Miếu hiệu không có[5]
Hoàng tộc Chu (周)
Đường (唐)
Thân phụ Võ Sĩ Hoạch
Thân mẫu Dương Thị
Sinh 624[6]
Mất 16 tháng 12, 705
An táng Càn Lăng

Võ Tắc Thiên (Trung văn giản thể: 武则天; Trung văn phồn thể: 武則天; bính âm: Wǔ Zétiān, 17 tháng 2, 62516 tháng 12, 705), thường được biết với tên gọi Võ Mị Nương (武媚娘), tên thật là Võ Chiếu (武曌).

Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, và để lại nhiều tranh luận về công tội giữa các nhà sử học. Bà đã trải qua các vị trí Tài nhân, Chiêu nghi, Hoàng hậu, Hoàng thái hậu, Hoàng đế, Thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí Hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.

Khi lên ngôi Hoàng đế bà đổi tên thành Võ Chiếu (武曌), chữ "Chiếu" trong tên bà vốn là chữ "chiếu" (照) nhưng để may mắn bà đã tự tạo chữ mới (日月当空, nhật nguyệt đương không) và là một trong những chữ trong Võ Hậu Tân tự. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc đã lập ra triều đại của riêng mình, nhà Võ Chu (周), và cai trị dưới danh hiệu Thánh Thần Hoàng Đế (聖神皇帝) từ 690 đến 705.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình bà có nguồn gốc ở huyện Văn Thuỷ (文水), thuộc quận Tinh Châu (幷州; hiện nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây). Cha bà là Võ Sĩ Hoạch (武士彠) (577-635), một thành viên thuộc một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây. Mẹ bà họ Dương (楊氏) (579-670), xuất thân từ gia đình quý tộc hoàng gia nhà Tuỳ.

Võ Tắc Thiên không phải sinh ở Văn Thuỷ, bởi cha bà đảm nhận nhiều chức trách ở nhiều nơi trong suốt cuộc đời. Bà được cho là sinh ở Lợi Châu (利州) (hiện là thành phố Quảng Nguyên (廣元市), phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, cách Văn Thủy khoảng 800 km về phía tây nam) vì có bài thơ "Lợi Châu Giang Đàm Tác" của Lý Thương Ẩn đời nhà Đường, trong đó có câu "Cảm dục kim luân sở", "Kim Luân Thánh Vương" được nhà thơ chú thích ở phía dưới là Lợi Châu, "Kim Luân Thánh Vương" tức Võ Tắc Thiên., nhưng một số nơi khác cũng được cho là nơi sinh của bà gồm cả thủ đô Trường An. Một số người khác cho rằng quê bà ở Tinh Châu (nay là Văn Thủy, tỉnh Sơn Tây).

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông nhà Đường vào khoảng năm 635 và là một Tài Nhân (才人), tức là một trong chín người thiếp cấp thứ năm. Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông đặt tên cho bà là Mị (媚), có nghĩa là "duyên dáng, xinh đẹp", và vì vậy còn được người Trung Quốc gọi là Võ Mị Nương (武媚娘). Có thể thời gian này bà đã gặp thái tử Lý Trị và có tình cảm lén lút với vị vua tương lai này.

Năm 649, Đường Thái Tông băng hà, theo luật lệ, Võ Mị Nương phải rời cung để vào chùa Cảm Nghiệp xuống tóc. Thái tử Lý Trị lên ngôi, tức là Đường Cao Tông.

Quay lại hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 651, Đường Cao Tông đưa bà trở lại hoàng cung sau khi đi cúng tế cho cha tại chùa Cảm Nghiệp. Vương hoàng hậu (王皇后), Hoàng hậu của Đường Cao Tông đã chủ động hỗ trợ đưa bà về vì khi đó Cao Tông đang sủng ái Tiêu thục phi (蕭淑妃), và muốn dùng Võ Mị trong việc tranh giành quyền lực. Có thuyết lại cho rằng bà chưa từng rời hoàng cung. Tiêu thục phi bị thất sủng

Tháng 5, năm 651, Võ Mị được phong Chiêu Nghi (昭儀), việc phong Chiêu nghi được các đại thần thanh liêm đồng ý hết mình.

Năm 654, Võ Chiêu nghi sinh một con gái, nhưng đứa trẻ bị chết sau khi sinh 1 tháng. Trước khi đứa trẻ chết, Vương hoàng hậu có đến thăm nên bị nghi ngờ là nhân cơ hội hạ độc thủ tiểu công chúa (An Bình, tên thật Lý Lệnh Ngọc).

Năm 655, Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi mời đồng cốt yếm bùa mong gian hại Võ Chiêu nghi nhưng bại lộ. Đường Cao Tông sau khi phát hiện đã phế bỏ hai người họ.

Hoàng hậu - Thiên hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 655, Đường Cao Tông phong Võ chiêu nghi làm hoàng hậu.

Năm 660, Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ, Võ hậu liền tham gia chính sự từ phía sau rèm cùng vua, nên gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông nhất nhất đều nghe theo lời Võ hậu, tuy nhiên nhận thấy sự nguy hiểm của bà, nên đã ngầm ra lệnh cho Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất. Việc bại lộ, Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết, Cao Tông cũng mất hết quyền lực, hoàn toàn phụ thuộc vào Võ hậu. Tuy nhiên Võ hậu về sau lại rất trọng dụng Thượng Quan Uyển Nhi, là cháu nội của Thượng Quan Nghi.

Thái tử Lý Trung (con của Cao Tông và một người thiếp thấp kém, Vương hoàng hậu nhận làm con) bị giáng và bị giết. Con cả của Võ hậu là Lý Hoằng (Lý Cường) được phong thái tử.

Năm 667, Cao Tông quá yếu, giao cho thái tử Lý Cường giám quốc, thực ra vẫn do Võ hậu làm chủ. Năm 674, triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng, Võ hậu là Thiên hậu. Võ Tắc Thiên thích dùng tôn xưng Thiên hậu cho đến tận khi làm hoàng đế. Vì vậy, sử sách nhà Đường chép rằng: "Các quần thần tấu sự, mọi việc hoàng hậu đều thay vua quyết đinh". Vì vậy, dân chúng có câu: "Cao Tông là Thiên Hoàng, Tắc Thiên là Thiên Hậu" và gọi là "Nhị thánh" trong cung. Hai chữ "Tắc Thiên" có nghĩa: "Tắc" là phép tắc, tức pháp luật. "Thiên" là trời, tức Võ Tắc Thiên là người "thay trời hành đạo".

Lý Hoằng có thái độ bất mãn với việc mẹ mình can dự quá nhiều vào triều chính. Trong chuyến thăm hành cung ở Hà Bắc cùng cha mẹ, Lý Hoằng đột ngột qua đời. Hầu hết các sử gia thời phong kiến cho rằng ông đã bị mẹ đầu độc.

Võ hậu đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử. Thái tử Lý Hiền vốn có khoảng cách với Võ hậu, lại hay tỏ vẻ bất kính nên bị giáng làm thứ dân năm 684. Sau đưa con thứ ba là Lý Hiển lên thay. Lý Hiền được trở lại vị trí hoàng tử vài năm sau. Ông cố gắng hiếu thảo với mẫu thân Võ Mị Nương và Cao Tông Hoàng Đế.

Trong giai đoạn này, Võ hậu đã có nhiều chính sách chính trị đổi mới, được đánh giá cao.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển lên ngôi, tức là Đường Trung Tông, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự. Một tháng sau, với lý do Đường Trung Tông để vợ là Vi hoàng hậu lộng quyền, Võ hậu phế vua xuống làm Lư Lăng Vương, lập con trai thứ tư (Lý Đán) lên làm vua, tức Đường Duệ Tông. Trong các năm tiếp theo, Võ hậu lần lượt ra tay với các vương gia là con của Đường Thái Tông như Việt vương Lý Trinh, Lang Nha vương Lý Trọng.

Đồng thời Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao gần ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần cung. Minh Đường hoàn thành, có kẻ dâng viên đá trên có chữ "Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương đế nghiệp" nên Võ hậu đổi tôn hiệu của mình là Thánh mẫu thần hoàng.

Xưng hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 690, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Võ hậu là Phật Di Lặc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Võ hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.

Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế cùng với sự nhường ngôi hoàng đế của Đường Duệ Tông, đổi quốc hiệu là Chu với ý kế tục sự nghiệp nhà Chu xưa kia, quốc tính là họ Võ, tôn Chu Văn Vương làm Thủy tổ Văn hoàng đế. Giáng Đường Duệ Tông xuống làm Hoàng tử, rồi sau đó phế bỏ, lại phong cháu là Võ Thừa Tự làm Ngụy vương, Võ Tam Tư làm Lương vương.

Trước đó, Võ hậu đổi cách viết chữ Chiếu trong tên của mình thành (曌), với hình Mặt trời, Mặt Trăng trên không, để tỏ quyền tối thượng. Cùng với đó là 11 chữ khác gọi là Võ hậu tân tự

Lý thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi, Võ hậu quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều. Từ Kính Nghiệp, một viên tư mã cử binh đánh bà bị thua rồi chết. Một vài thân vương cũng đem quân chống bà, cũng bị giết.

Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài tình và chuyên quyền hung bạo. Dưới thời cai trị, bà lập ra tuần tra mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt.

Khi về già, Võ hậu sủng ái hai anh em Trương Dịch ChiTrương Xương Tông là hai kẻ bất tài nhưng đẹp trai, khiến triều đình rất bất bình. Tháng 10 năm 695, sau nhiều lần thêm chữ, tên của bà được đổi thành Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, làm lễ phong thiền ở Tung sơn.

Võ hậu phân vân khi chọn người truyền ngôi, giữa con ruột họ Lý và cháu ruột họ Võ. Cuối cùng với sự khuyên giải của Địch Nhân Kiệt, bà quyết định lập Lý Hiển làm thái tử. Tuy nhiên bà bắt các con thề độc rằng không được làm hại họ Võ (dù vậy cuối cùng họ Võ vẫn bị tiêu diệt bởi người cháu nội của bà là Lý Long Cơ).

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 705, Võ hậu ngoài 80 tuổi đã rất ốm yếu. Tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi lãnh đạo cuộc đảo chính giết hai anh em họ Trương, xông vào cung buộc Võ hậu truyền ngôi cho thái tử Lý Hiển. Đường Trung Tông Lý Hiển lại lên làm vua lần nữa, Võ hậu trở thành Thái thượng hoàng, rồi qua đời vào tháng 11 năm 705. Khi lâm chung bà yêu cầu dùng thụy hiệuHoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do đó không có miếu hiệu.

Bà được chôn tại Càn Lăng, cùng chỗ với Đường Cao Tông. Bia mộ của bà là một tấm bia để trống hoàn toàn (Vô tự bi), với ý là để đời sau phán xét.

Càn Lăng đã ít nhất 17 lần bị âm mưu đục phá, trong đó có 3 lần nghiêm trọng nhất. Lần đầu trong loạn Hoàng Sào, có tới 40 vạn binh sĩ đào bới mé tây đồi Lương Sơn, vạt hẳn một nửa quả đồi. Lần thứ 2 do Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại Thập Quốc, kẻ trước đó đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường. Lần thứ 3 do quân Quốc Dân đảng của Tôn Liên Trọng thời Trung Hoa Dân quốc, đã dùng cả thuốc nổ để phá. Nhưng cả 3 lần đều không thành, và Càn Lăng vẫn nguyên vẹn cho tới ngày nay, trở thành di tích khảo cổ và tham quan quý báu. Về điểm này, Võ hậu và chồng đã may mắn hơn những vị hoàng đế nổi tiếng khác, khi mà Mậu Lăng của Hán Vũ Đế, Chiêu Lăng của Đường Thái Tông... đã bị phá sạch trong thời chiến loạn.

Đầu tháng 5/2008, khi các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật mộ Võ Tắc Thiên tại Huyện Càn cách 80 km về phía Tây Bắc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, họ đã tìm được hơn 500 tấn văn vật trong mộ. Việc tìm ra mộ phần và các cổ vật trong mộ Võ Tắc Thiên đã giúp các nhà sử học xác định được nhiều thông tin xung quanh thân thế, sự nghiệp của vị nữ hoàng này. Các nhà khảo cổ phát hiện thấy Đường Cao Tông Lý Trị và Võ Tắc Thiên cùng hợp táng ở tầng ngầm sâu cuối cùng của lăng mộ. Khu lăng tẩm này có ba cửa Đông, Bắc, Tây. Ba cửa này có kết cấu giống nhau, đều có các đài tế lễ trước cửa cung điện, có hành lang đặt vũ khí gươm giáo và cửa cung điện. Tại cửa phía Bắc, các nhà khảo cổ phát hiện thấy rất nhiều ngựa đá, hổ đá, tảng đá trạm trổ điêu khắc, trong đó hổ đá đặc trưng của đời Đường vẫn còn nguyên vẹn. Khu lăng tẩm có quy mô rất lớn với những bức tường bao quanh được xây theo hình vuông rất vững chắc, mỗi cạnh có chiều dài tới 380 mét vuông.

Viện trưởng danh dự Viện nghiên cứu khảo cổ tỉnh Thiểm Tây - ông Thạch Hưng Bang cho biết, qua những văn vật khai quật được trong mộ cho thấy, thời kỳ Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên trị vì là thời kỳ hưng thịnh nhất của triều đại nhà Đường. Khi Đường Cao Tông chết, giá trị của vật tùy táng quí báu chôn theo vua chiếm tới 1/3 quốc khố. Hơn 20 năm sau, khi Võ Tắc Thiên qua đời, triều đình cũng chôn theo số báu vật trị giá tới 1/3 quốc khố trong mộ bà.[1]

Nhận định của đời sau[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, theo một số nhà sử học, nhà Võ Chu đã có được một hệ thống bình đẳng giới tốt hơn so với nhà Đường giai đoạn tiếp sau nó.

Nhiều người đời sau coi Võ hậu là điển hình của sự độc ác, khi mà vì quyền lực, Võ hậu sẵn sàng hạ thủ người thân, thậm chí ngay cả với con ruột mình. Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn, trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, tàn nhẫn ngay cả với người thân và cai trị bằng cách điều khiển từ phía sau hậu trường.

Tuy nhiên, trong triều cũng có nhiều người ủng hộ bà, vì phục bà minh sát, quyết đoán đúng, có tài trị nước. Trong số đó có cả những đại thần hiền năng, được trọng vọng như Lâu Sử Đức, Địch Nhân Kiệt, Tống Cảnh; và bà biết tin dùng những người đó, nên việc chính không rối loạn, dân chúng vẫn yên ổn làm ăn, coi những vụ lộn xộn ở triều chỉ là việc riêng của họ Lí. Khi đọc bài Hịch dẹp Võ Chiếu, trong đó Lạc Tân Vương mạt sát bà thậm tệ, bà đã không giận, còn khen Lạc là có tài và trách viên tể tướng đã không biết thu phục. Về sau, bà bị truất ngôi nhưng không bị giết mà chỉ bị giam trong cung rồi chết vì già yếu, như vậy đủ biết triều thần không quá oán hận bà.[2]

Nhà Chu (690 - 705)[sửa | sửa mã nguồn]

Quy ước: Sử dụng tên riêng
Miếu hiệu HọTên Giai đoạn cai trị Niên hiệu và khoảng thời gian sử dụng
Không có Võ Chiếu(武曌) 690-705

Thiên Thụ (天授): 16, tháng 11, 690 - 21 tháng 4, 692 (18 tháng)
Như Ý (如意): 22 tháng 4- 22 tháng 10, 692 (6 tháng)
Trường Thọ (長壽): 23 tháng 10, 692 - 8 tháng 6, 694 (19 ½ tháng)
Duyên Tái (延載): 9 tháng 6, 694 - 21 tháng 1, 695 (7 ½ tháng)
Chứng Thánh (證聖): 22 tháng 1 - 21 tháng 10, 695 (9 tháng)
Thiên Sách Vạn Tuế (天冊萬歲): 22 tháng 10, 695 - 19 tháng 1, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Đăng Phong (萬歲登封): 20 tháng 1 - 21 tháng 4, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Thông Thiên (萬歲通天): 22 tháng 4, 696 - 28 tháng 9, 697 (17 tháng)
Thần Công (神功): 29 tháng 9 - 19 tháng 12, 697 (2 ½ tháng)
Thánh Lịch (聖曆): 20 tháng 12, 697 - 26 tháng 5, 700 (29 tháng)
Cửu Thị (久視): 27 tháng 5, 700 - 14 tháng 2, 701 (8 ½ tháng)
Đại Túc (大足): 15 tháng 2 - 25 tháng 11, 701 (9½ tháng)
Trường An (長安): 26 tháng 11, 701 - 29 tháng 1, 705 (38 tháng)
Thần Long (神龍): 30 tháng 1 - 3 tháng 3, 705 (Nhà Chu bị bãi bỏ vào ngày 3 tháng 3 năm 705 và nhà Đường được tái lập ngay ngày hôm đó, nhưng giai đoạn Thần Long kéo dài tới tận năm 707)

Các tôn hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Tắc Thiên rất thích các tôn hiệu mĩ miều, do đó đã nhiều lần thay đổi, thêm bớt chữ vào tôn hiệu, bao gồm:

  • Thánh Thần hoàng đế (圣神皇帝)
  • Tắc Thiên Đại Thánh hoàng đế (则天大圣皇帝)
  • Thánh Mẫu Thần Hoàng (圣母神皇)
  • Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (金轮圣神皇帝)
  • Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金轮圣神皇帝)
  • Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金轮圣神皇帝)
  • Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (天册金轮圣神皇帝)

Các tôn hiệu của đời sau tôn phong

  • Thiên hậu, Đại Thánh Thiên hậu (năm 710 đời Đường Huyền Tông)
  • Thiên hậu Thánh đế, Thánh Hậu (năm 712 đời Đường Huyền Tông)
  • Tắc Thiên hoàng hậu (716)
  • Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu (749)

Con[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Công chúa An Định: đứa trẻ chết yểu do bị bà bóp cho ngạt thở
  2. Lý Hoằng (652-675): làm Thái tử, được cha là Đường Cao Tông phong là Hiếu Kính hoàng đế, miếu hiệu Đường Nghĩa Tông
  3. Lý Hiển: Đường Trung Tông, còn có tên là Lý Triết
  4. Lý Đán: Đường Duệ Tông, còn có tên là Lý Húc Luân, Lý Luân
  5. Công chúa Thái Bình

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Tắc Thiên được nhắc đến trong nhiều câu chuyện dân gian, chủ yếu mang tính phê phán sự chuyên quyền và tàn nhẫn của bà. Một số câu chuyện như:

Trị ngựa dữ[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Thái Tông được Tây Vực tặng một con ngựa rất dữ tên là Hổ Tử Thông, không ai trị được. Võ Mị xin ra trị ngựa, với ba thứ là một cây roi sắt, một cái búa sắt, một ngọn dao nhọn. Đường Thái Tông hỏi dùng những thứ đó để làm gì thì Võ Mị trả lời rằng: "Trước hết dùng roi sắt mà đánh nó bắt khuất phục; nếu không chịu thì dùng búa sắt đánh vào đầu nó; còn nếu dùng búa sắt đánh vẫn không được thì dùng dao đâm chết nó đi, vì thứ không trị được thì để làm gì?" Bà dùng roi sắt đánh ngựa, nhưng ngựa vẫn không phục, tiếp đó bà dùng gậy sắt đập vào đầu ngựa, ngựa vẫn không phục. Bà liền rút dao găm đâm vào cuống hầu ngựa. Vua thấy vậy sợ quá, liền lệnh thôi không thuần ngựa nữa[1]

Giết con[sửa | sửa mã nguồn]

Dân gian và các nhà chép sử cho rằng Võ hậu là thủ phạm trong cái chết của 3 người con ruột của bà.

Truyền thuyết cho rằng khi sinh đứa con đầu lòng là con gái, Võ Chiêu nghi rất không vui, dù Đường Cao Tông thì rất yêu quý. Một ngày khi Vương hoàng hậu (không có con) vì muốn làm lành và cũng yêu trẻ nhỏ đến thăm đứa bé. Khi hoàng hậu ra về, Võ Chiêu nghi đã bóp mũi chết đứa con của mình. Khi Đường Cao Tông vào thăm công chúa nhỏ, thấy nó đã chết, vô cùng giận dữ tra hỏi cung nữ, thì thấy bảo chỉ có mỗi hoàng hậu là người vào thăm. Do đó Cao Tông cho rằng hoàng hậu giết con mình vì ganh ghét.

Võ hậu cũng bị kết tội đã đầu độc chết con trai cả là thái tử Lý Cường vào năm 675 vì thái tử tỏ ý chống lại việc mình can dự vào triều chính (dù có giả thuyết khác là thái tử đã qua đời tự nhiên vì lao phổi). Dù sao, Võ hậu chắc chắn có liên quan đến vụ việc thứ ba: ra lệnh ép người con thứ hai là thái tử Lý Hiền phải tự tử vào năm 684.

Vì lý do này mà người đời sau coi Võ hậu là điển hình của sự độc ác, khi mà đến cả "Hổ dữ cũng không ăn thịt con", trong khi Võ hậu thì sẵn sàng hạ thủ ngay cả với con ruột mình.

Sợ mèo[sửa | sửa mã nguồn]

Khi lên được ngôi hoàng hậu rồi, Võ hậu trả thù Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi bằng cách sai chặt hết chân tay họ rồi bỏ vào chum rượu ngâm để họ không chết ngay. Tại đây Võ hậu đã tiết lộ với Vương hoàng hậu là chính mình đã giết con gái để đổ tội. Vương hoàng hậu đã kêu rằng: "Tại sao kẻ ác như ngươi mà sinh được con, còn ta thì không thể?", còn Tiêu thục phi thì nguyền rằng sẽ biến thành mèo để đêm vào xé xác Võ hậu.

Võ Hậu sợ mèo vì đã giết chết con mèo mà bà từng yêu quý nhất. Nhưng nó đã phản bội bà đi theo Vương Hoàng Hậu khi bà bị bắt vào lãnh cung. Do đó, bà thẳng tay giết nó và luôn luôn bị ám ảnh bởi tiếng mèo kêu, đêm đêm thấy hình ảnh con mèo hiện về trong giấc ngủ.[3]

Đày hoa mẫu đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Võ hậu khi lên ngôi Hoàng đế, quyền uy cao tột đỉnh, một ngày cuối đông ra vườn ngự uyển thấy cây cối héo úa không hoa, đã lớn tiếng ra lệnh cho tất cả các loài hoa trong vườn phải nở vào đúng ngày Tết Nguyên đán. Sáng Nguyên đán, Võ hậu ra vườn thấy tất cả các hoa đều nở tung, chỉ có hoa mẫu đơn vẫn không nở. Võ hậu tức giận sai nhổ toàn bộ mẫu đơn đi, đày đến phương nam. Do đó chỉ có Giang Nam là có mẫu đơn đẹp.

Tượng Phật Long Môn[sửa | sửa mã nguồn]

Võ hậu tôn sùng Phật giáo, đã ra lệnh đục các tượng Phật tại khu vực hang đá Long Môn. Tại đây pho tượng chính giữa lớn nhất là tượng Phật Đại Nhật (Tỳ lô giá na - Vairocana) được điêu khắc theo khuôn mặt của Võ hậu.

Vết sẹo của Thượng Quan Uyển Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Uyển Nhi là cháu của Thượng Quan Nghi, Võ Tắc Thiên dùng làm nữ quan lo tất cả các việc văn thư trong hoàng cung và ngoài triều đình. Trương Xương Tôn tuy hầu hạ Võ Tắc Thiên nhưng lại có tư tình với Uyển Nhi, một lần hai người lén lút gặp nhau thì Võ Tắc Thiên bắt gặp. Tức giận, Võ Tắc Thiên đã ném cái bát vào giữa trán Uyển Nhi (một thuyết khác là Võ Tắc Thiên sai người dùng dao rạch), tạo thành một cái sẹo lớn chính giữa trán. Tuy nhiên vết sẹo lại làm cho Thượng Quan Uyển Nhi trông xinh đẹp hơn. Thế là từ đó lan truyền ra, các tiểu thư, mệnh phụ đều bắt chước vẽ chấm đỏ hoặc hình hoa mai vào giữa trán, trở thành một kiểu trang điểm rất được ưa chuộng dưới triều nhà Đường.[4]

Các câu chuyện về dâm loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều câu chuyện về sự dâm loạn của Võ hậu, một phần do đời sau thêu dệt, một phần là sự thật[5]:

  • Hai mẹ con chung một người đàn ông: Võ hậu được con gái là Thái Bình Công chúa tiến cử một kẻ lực lưỡng là Phùng Tiểu Bảo, giả bắt hắn tu làm sư để thường xuyên gọi vào cung thông dâm. Võ hậu vô cùng sủng ái, gọi hắn là chú để có cớ cho vào cung, ban cho tên mới là Hoài Nghĩa vào năm 685. Sư Hoài Nghĩa ra vào cung tự do, lên điện không chào, chính là người dựng Minh Đường, tạo tác tượng Phật Di Lặc khổng lồ và một ngôi chùa rất vĩ đại để vui lòng Võ hậu. Tuy nhiên sau đó Võ hậu có Trầm thái y thì lạnh nhạt với Hoài Nghĩa, khiến gã tức giận nổi lửa đốt cháy toàn bộ tượng và chùa. Võ hậu không tiện trị tội, sai Thái Bình công chúa ra tay. Ngày 25-12 năm 694, Thái Bình gọi Hoài Nghĩa vào vườn rồi huy động các cung nữ lực lưỡng đánh đến chết. Xác Hoài Nghĩa được đem đến đền Bạch Mã và hỏa táng, sau đó trộn lẫn vào trong đống đất bùn được sử dụng để xây một ngôi chùa.
  • Võ hậu ốm, mời Thái y họ Trầm vào bốc thuốc, nhân đó hỏi về thuốc kích dục. Trầm thái y dâng phương thuốc có công hiệu, Võ hậu bắt ông phục vụ mình. Dù bồi bổ thế nào, Trầm thái y cũng không đáp ứng nổi, cuối cùng lao lực mà chết.
  • Sau khi Trầm thái y chết, năm 702, Thái Bình công chúa tiến cử Trương Xương Tông có tài thổi sáo, rất đẹp trai lại có tài trong phòng the khiến Võ hậu rất vui. Trương Xương Tông lại tiến cử anh mình là Trương Diệc Chi vào hầu hạ, được phong chức tước bổng lộc cực hậu. Không những thế, Trương còn liều lĩnh cặp ngay với một nha đầu thân cận của Võ Tắc Thiên. Vào một ngày Võ Tắc Thiên bắt gặp, đã rút gươm và chém sượt qua đầu. Tuy nhiên sau đó chuyện này đã được giải quyết êm vì Thái Bình công chúa có ý kiến rằng: "Không nên làm to chuyện, làm trò cười cho thiên hạ"'. Sau này cả 2 anh em đều bị giết khi thái tử Lý Hiển làm binh biến khôi phục nhà Đường năm 705.
  • Các quan thấy Võ hậu đa dâm lụy tình cũng tiến cử con em, thậm chí chính mình vào để hầu Nữ hoàng hòng kiếm lợi lộc. Võ hậu bèn lập ra Phụng Thần viện, với danh nghĩa là nuôi chim hạc, là nơi tập hợp các thanh niên tuấn tú khỏe mạnh nhằm thỏa mãn mình. Phụng Thần viện trở thành nơi dâm loạn nhất của triều đại nhà Đường. Những thanh niên bị thất sủng sẽ bị giết để diệt khẩu và ném xuống hồ. Sau này Huyền tông Lý Long Cơ cho khai quật đã phát hiện hàng đống xương người dưới hồ.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú chung: ngày tháng ở đây được lấy theo lịch Julius, không theo lịch Gregory đón trước.

  1. ^ Năm được suy ra từ tuổi khi chết được ghi trong Tân Đường thư (新唐書), biên soạn vào năm 1045-1060, là năm được các nhà sử học hiện đại lựa chọn. Năm sinh được tính từ Cựu Đường thư (舊唐書), soạn vào năm 941-945, là 623. Năm sinh được tính ra từ Tư trị thông giám được soạn vào năm 1065-1084, là 624. Được Đường Thái Tông đặt tên vào cuối những năm 630 sau khi bà đã vào hoàng cung (xem trong bài).
  2. ^ Đã phát minh ra ký tự Trung Quốc này vào tháng 12, 689 và lấy đó làm tên. Trở thành tên húy của bà khi bà lên ngôi vào năm sau. Một số nguồn xác nhận rằng từ này được viết trên thực tế Chiếu . Một số nguồn cũng cho rằng tên gốc bà được đặt là Chiếu (照) , và rằng năm 689 bà chỉ đổi những phần cấu thành tên bà, nhưng điều này không được xác nhận trong Cựu Đường thư và trong Tân Đường thư, cả hai đều ghi tên gốc của bà, nếu bà có.
  3. ^ Bà đã nắm một phần quyền lực vào năm 660, và nắm hoàn toàn quyền lực từ tháng 1, 665 (xem bài bên trong). Nhà Chu được tuyên bố thành lập vào 16 tháng 10, 690, và bà tự tuyên bố mình làm Hoàng đế vào 19 tháng 10, giáng con bà Đường Duệ Tông làm người thừa tự.
  4. ^ Mất quyền lực sau cuộc đảo chính trong hoàng cung 10 tháng 2, 705. Sau đó vào 22 tháng 2 bị bắt buộc phải trao lại chức vị cho con trai lớn, được lập làm Đường Trung Tông vào 23 tháng 2
  5. ^ Nhà Chu bị bãi bỏ trước khi bà chết, và bà bị giáng xuống cấp hoàng hậu vợ vua khi chết, vì thế bà không có miếu hiệu. Ở Trung Quốc, hoàng hậu vợ vua, không giống như các hoàng đế cai trị, không được trao miếu hiệu.
  6. ^ Tắc Thiên là người đầu tiên được trao huy hiệu (徽號) vào tháng 2, 705 bởi người con trai được tái lập làm vua là Trung Tông. Huy hiệu đã được sử dụng làm thụy hiệu của bà tên khi bà chết mười tháng sau đó.
  7. ^ Tên thụy cuối cùng của bà được đặt vào tháng 7, 749.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc.
  • Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương, Lịch sử Trung Quốc 5000 năm.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]