Ôn Đình Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ôn Đình Quân (chữ Hán: 溫庭筠, 813?-870?) [1], vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ Trung Quốc thời Vãn Đường.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ôn Đình Quân là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.

Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc[2] ; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông "thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ" [3].

Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông [4].

Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.

Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Đình Quân để lại:

  • Hán Nam chân cảo
  • Ốc Lan tập (đã thất truyền)
  • Kim Thuyên tập
  • Thi tập

Ngoài ra, ông còn viết Học hải, Thái trà lục, và Càn toản tử.

Nhận xét khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương Ẩn, vì thơ ông có phần "phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành"; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu [5].

Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:

Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ "Hoa gian tập". Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh [6].

Trích tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là một bài thơ (Tặng tri âm) và một bài từ (Canh lậu tử) của Ôn Đình Quân:

Phiên âm Hán Việt:
Tặng tri âm
Thúy vũ hoa quan bích thụ kê,
Vị minh tiên hướng đoản tường đề.
Song gian Tạ nữ thanh nga liễm,
Môn ngoại Tiêu lang bạch mã tê.
Tàn thự vi tinh đương hộ một,
Đạm yên tà nguyệt chiếu lâu đê.
Thượng Dương cung lý chung sơ động,
Bất ngữ thuỳ tiên quá liễu đê.
Trần Trọng Kim dịch thơ:
Mào hoa, lông biếc, gà kia,
Cạnh tường lên tiếng trước khi sáng ngày.
Cửa song ả Tạ [7] chau mày,
Chàng Tiêu [8] ngựa trắng cửa ngoài hí rân.
Rạng đông sao nhỏ lặn dần,
Khói êm trăng xế, bóng ngân dưới lầu.
Thượng dương chuông nổi hồi đầu,
Dọc đê dưới liễu rầu rầu buông roi[9].
Canh lậu tử (kỳ 2)
Phiên âm Hán-Việt:
Tinh đẩu hy,
Chung cổ yết,
Liêm ngoại hiểu oanh tàn nguyệt.
Lan lộ trọng,
Liễu phong tà,
Mãn đình đôi lạc hoa.
Hư các thượng,
Ỷ lan vọng,
Hoàn tự khứ niên trù trướng.
Xuân dục mộ,
Tứ vô cùng,
Cựu hoan như mộng trung.
Dịch nghĩa:
Tinh đẩu thưa
Chuông trống bặt
Ngoài chái trăng tà oanh hót
Lan sương trĩu
Liễu gió bay
Hoạ rụng trước sân đầy
Trên gác tía
Lan can tựa
Vẫn giống năm qua mắc mớ
Xuân chừng muộn
Tứ bơ vơ
Việc dài tựa giấc mơ.

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Hiến Lê, Đại cương văn học sử Trung Quốc (trọn bộ). Nhà xuất bản Trẻ, 1997.
  • Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 1993.
  • Dịch Quân Tả, Văn học sử Trung Quốc (Quyển I. Bản dịch từ tiếng Trung Quốc của GS. Huỳnh Minh Đức). Nhà xuất bản Trẻ, 1992.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Biên theo Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2, tr. 264). Nguyễn Hiến Lê (tr. 480) ghi là (820?-870?). Từ điển văn học (bộ mới, tr. 1894) ghi là (?-866).
  2. ^ Tương truyền, mỗi lần làm văn, Ông Đình Quân xoa tréo tay tám lần thì được tám vận, nên người đời gọi ông là “Ôn Bát Xoa”. Về âm nhạc, ông đánh trống, đánh đàn tỳ bà, thổi kèn, thổi địch,...đều giỏi (theo Dịch Quân Tả, tr. 505).
  3. ^ Theo Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2, tr. 264). Tài giỏi nhiều mặt, nhưng Ôn Đình Quân đi thi tiến sĩ mấy lần đều không đỗ. Đề cập đến điều này, Dịch Quân Tả viết: vào trường thi, ông cậy mình mẫn tiệp, thường gà dùm bài dùm người khác. Các quan giám khảo biết được, tỏ vẻ không bằng lòng. Có lẽ đây là một trong số nguyên nhân khiến ông thi hỏng chăng? (tr. 506). Ở một vài trang web viết về ông, ghi ông thi đỗ tiến sĩ, nhưng không dẫn nguồn.
  4. ^ Lệnh Hồ Đào biết vua Đường Huyền Tông ưa thích lối từ “Bồ tát man”, nên thường nhờ ông làm giúp để dâng lên vua, và cấm không cho ông tiết lộ việc này. Nhưng vì tính bộc trực, ông không giữ miệng được. Vì thế, ông bị Lệnh Hồ Đào ghét bỏ (theo Dịch Quân Tả, tr. 506).
  5. ^ Lược theo Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 2), tr. 256-257 và tr. 333-334.
  6. ^ Đại cương văn học sử Trung Quốc, tr. 486.
  7. ^ Ả Tạ tức Tạ Đạo Uẩn, là người đất Dương Hạ đời nhà Tấn (Trung Quốc), nổi tiếng là người thông minh, học rộng, có tài biện luận và giỏi thơ văn.
  8. ^ Có thể là: 1/ Xuất phát từ câu thơ của Thôi Giao đề tặng người yêu đã đi lấy chồng: "Tòng thử tiêu lang thị lộ nhân" (Chàng Tiêu đã thành người qua đường). 2/ Là Tiêu sử, một người có tài thổi ống tiêu, nhờ vậy mà cưới được nàng Lộng Ngọc. 3/ Là tiếng thường dùng trong thơ văn để gọi các chàng trai, hay tiếng của người con gái gọi bạn tình (theo Nguyễn Thạch Giang, Tiếng Việt trong thư tịch cổ Việt Nam. NXB. Khoa học xã hội, 2003, tr. 200).
  9. ^ Trần Trọng Kim, Đường thi. NXB Tân Việt, 1974, tr. 280.