Đường Cao Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Cao Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Gaozong of Tang.jpg
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì  15/7/649 - 27/12/683
Tiền nhiệm Đường Thái Tông
Kế nhiệm Đường Trung Tông
Tên húy
Lý Trị
Niên hiệu
Vĩnh Huy, Hiển Khánh, Long Sóc, Lân Đức, Càn Phong, Tổng Chương, Hàm Hanh, Thượng Nguyên, Nghi Phượng, Điều Lộ, Vĩnh Long, Khai Diệu, Vĩnh Thuần, Hoằng Đạo: Xem văn bản.
Thụy hiệu Đầy đủ: Thiên Hoàng Đại thánh Đại hoằng Hiếu hoàng đế
Ngắn: Thiên Hoàng đại đế
Miếu hiệu Cao Tông
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Vua Đường Thái Tông
Thân mẫu Trưởng Tôn hoàng hậu
Sinh 21/7/628
Mất 27/12/683
An táng Kiền lăng

Đường Cao Tông (628 - 683) (高宗 Gāo zōng) là miếu hiệu của Lý Trị (李治 Lǐ Zhì), là hoàng đế thứ ba của nhà Đường, cai trị Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 649-683. Tên lúc nhỏ là Vi Thiện (为善).

Ông là con trai thứ chín của Đường Thái Tông và hoàng hậu Trưởng Tôn thị (không rõ tên). Lý Trị là người yếu đuối, nhu nhược, bệnh tật triền miên. Vào cuối đời Thái Tông thì ông bị hoàng tử Lý Thái tranh giành ngôi vua. Rất may là Lý Trị được mọi người bao che. Sau đó do Đường Thái Tông thấy Lý Thái là kẻ tham lam nên không cho Lý Thái làm Thái tử.

Lý Trị lên ngôi năm 21 tuổi, vì ông chỉ là kẻ ngu ngốc nên không biết coi triều chính. Mọi việc Lý Trị cứ theo Đường Thái Tông Lý Thế Dân mà làm nên đất nước vẫn thanh bình, yên ổn.

Lý Trị đã lập Vương thị (con dâu do Đường Thái Tông lập) làm hoàng hậu. Năm 655, khi thấy nàng Võ thị nhan sắc tuyệt trần nên ông đã phế Vương thị, lập Võ thị (sau là Võ Tắc Thiên) làm hoàng hậu. Năm 660 Lý Trị bị đột quỵ, nằm liệt gường, không thể coi triều chính, từ đó quyền hành rơi vào tay Võ hậu. Võ hậu hống hách, ngang tàng và sau đó bà ta trở thành thế lực mạnh nhất trong triều. Năm 683 Lý Trị bệnh nặng và mất, ở ngôi 34 năm, thọ 55 tuổi

Mục lục

Sinh thời [sửa]

Lên ngôi [sửa]

Tài năng và tính cách [sửa]

Quan hệ với Võ Tắc Thiên [sửa]

Tể tướng [sửa]

Niên hiệu [sửa]

  • Vĩnh Huy (永徽): 650 - 655
  • Hiển Khánh (顯慶): 656 - tháng 2 âm lịch năm 661
  • Long Sóc (龍朔): Tháng 3 âm lịch năm 661 - 663
  • Lân Đức (麟德): 664 - 665
  • Càn Phong (乾封): 666 - tháng 2 âm lịch năm 668
  • Tổng Chương (總章): Tháng 2 âm lịch năm 668 - tháng 2 âm lịch năm 670
  • Hàm Hanh (咸亨): Tháng 3 âm lịch năm 670 - tháng 8 âm lịch năm 674
  • Thượng Nguyên (上元): Tháng 8 âm lịch năm 674 - tháng 11 âm lịch năm 676
  • Nghi Phượng (儀鳳): Tháng 11 âm lịch năm 676 - tháng 6 âm lịch năm 679
  • Điều Lộ (調露): Tháng 6 âm lịch năm 679 - tháng 8 âm lịch năm 680
  • Vĩnh Long (永隆): Tháng 8 âm lịch năm 680 - tháng 9 âm lịch năm 681
  • Khai Diệu (開耀): Tháng 9 âm lịch năm 681 - tháng 2 âm lịch năm 682
  • Vĩnh Thuần (永淳): Tháng 2 âm lịch năm 682 - tháng 12 âm lịch năm 683
  • Hoằng Đạo (弘道): Tháng 12 âm lịch năm 683.

Gia quyến [sửa]

Cha, mẹ [sửa]

Vợ [sửa]

  • Vương hoàng hậu (lập năm 650, phế và tử hình năm 655)
  • Võ hoàng hậu (tức Võ Tắc Thiên, lập năm 655)
  • Tiêu thục phi (phế và tử hình năm 655)
  • Từ tiệp dư
  • Lưu cung nhân
  • Trịnh cung nhân
  • Dương cung nhân
  • Hàn quốc phu nhân Võ thị (chị gái Võ Tắc Thiên), có thuyết cho rằng bà này sinh ra Chương Hoài thái tử Lý Hiền[1].
  • Ngụy quốc phu nhân Hạ Lan thị[2].

Con cái [sửa]

Trai [sửa]

  1. Yên vương Lý Trung (mẹ là Lưu cung nhân)
  2. Nguyên Điệu vương Lý Hiếu (mẹ là Trịnh cung nhân)
  3. Trạch vương Lý Thượng Kim (mẹ là Dương cung nhân)
  4. Ung vương Lý Tố Tiết (mẹ là Tiêu thục phi)
  5. Hiếu Kính hoàng đế (đại vương) (miếu hiệu Đường Nghĩa Tông) Lý Hoằng.
  6. Chương Hoài thái tử (Lộ vương) Lý Hiền
  7. Trung Tông Lý Hiển
  8. Duệ Tông Lý Đán (còn có tên là Lý Húc Luân)

Gái [sửa]

Đường Cao Tông có 4 con gái[3]

  1. Công chúa Nghĩa Dương Lý Hạ Ngọc (mẹ là Tiêu thục phi, lấy Quyền Nghị)
  2. Công chúa Cao An (mẹ là Tiêu thục phi, ban đầu phong là công chúa Tuyên Thành, lấy Vương Úc)
  3. Công chúa An Định (Đường Cao Tông) (mẹ là Võ hậu, đột tử do lượng khí cacbonic trong phòng quá lớn)
  4. Công chúa Thái Bình Lý Lệnh Nguyệt (mẹ là Võ hậu, lấy Tiết Thiệu, sau lấy Võ Du Kị (武攸暨)).

Ghi chú [sửa]