Đường Hiến Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Hiến Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tang Xianzong.jpg
Vua nhà Đường
Trị vì 5/9/805[1][2] - 14/2/820[3]
Tiền nhiệm Đường Thuận Tông
Kế nhiệm Đường Mục Tông
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên thật Lý Thuần (李淳)
sau đổi thành Thuần (純)
(đổi năm 805)
Niên hiệu Nguyên Hòa (元和): 25/1/805[4][5] - 9/2/821[6][7]
Thụy hiệu Chiêu văn Chương võ Đại thánh Chí thần Hiếu hoàng đế
(昭文章武大聖至神孝皇帝)
Miếu hiệu Hiến Tông (憲宗)
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Thuận Tông
Thân mẫu Trang Hiến hoàng hậu Vương thị
Sinh 778[8]
Mất 14/2/820[3][7]
An táng Cảnh lăng

Đường Hiến Tông (chữ Hán: 唐憲宗, bính âm: Tang Xiàn zōng, 778 - 14 tháng 2 năm 820), tên thật là Lý Thuần (李純 Lǐ Chún), hay Lý Thuần (李淳), thụy hiệu đầy đủ Thánh Thần Chương Vũ Hiếu hoàng đế[9] (聖神章武孝皇帝) hay Chiêu Văn Chương Vũ Đại Thánh Chí Thần Hiếu hoàng đế[10] (昭文章武大聖至神孝皇帝) là vị hoàng đế thứ 11 hay 14 của nhà Đường[11] trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 805 đến 820. Ông là con trai trưởng của Đường Thuận Tông. Ông đã được đưa lên ngôi sau khi vua cha bị đột quỵ và bị các hoạn quan trong triều ép thoái vị.

Ông là một vị vua chăm lo triều chính và đã nhận ra mối nguy của phiên trấn và quyết tâm quét sạch các phiên trấn này. Quân đội triều đình đã đánh bại nhiều tiết độ sứ như Lưu Tịch, Lý Kỹ, Dương Huệ Lâm trong các năm 806 - 807. Năm 813, tiết độ sứ Điền Hoằng Chính ở Ngụy Bác[12]đã quy phục triều đình. Thất bại đầu tiên của ông năm 813 trước Vương Thừa Tông nhưng đến năm 817, sau thất bại của Lý Sư Đạo và sự phục tùng của Vương Thừa Tông thì hầu như phần lớn các tiết độ sứ đều quy thuận triều đình. Các sử gia sau này nói tới thời kỳ trị vì của ông như là Nguyên Hòa trung hưng.

Thời kỳ trị vì của Hiến Tông làm ổn định nhanh thể chế nhà Đường trước các sức mạnh phá hủy từ các tiết độ sứ, nhưng lại là thời kỳ nổi lên của các hoạn quan. Bản thân Hiến Tông có lẽ cũng đã bị hoạn quan Trần Hoằng Chí (陳弘志) sát hại năm 820 khi ông mới 43 tuổi. Giả thiết không bao giờ được chứng minh cho rằng Quách quý phi và con trai của bà là thái tử Lý Hằng (sau đó là Đường Mục Tông) cũng dính líu vào việc này.

Thời Đại Tông, Đức Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thuần chào đời vào năm 778 tại Đông cung, thành Trường An do lúc đó, ông nội ông là Đường Đức Tông Lý Quát vẫn là hoàng thái tử. Cha của ông là Đường Thuận Tông Lý Tụng và mẫu thân là Vương thị, lương đệ của Lý Tụng. Sang năm 779, Đức Tông lên ngôi, năm 780, cha ông tức Lý Tụng được phong làm hoàng thái tử[13], Lý Thuần mang thân phận đích hoàng tôn. Trong những năm 784 - 785, Lý Thuần mới khoảng sáu, bảy tuổi có một hôm được gặp ông nội Đức Tông. Đức Tông ôm ông vào lòng và hỏi

Tử là ai, sao lại ở gần trẫm thế?[14].

Lý Thuần trả lời

Là đệ tam thiên tử[14].

Đức Tông ngạc nhiên nhưng vô cùng thích thú và tỏ ra quý mến ông. Vào tháng 6 ÂL năm Trinh Nguyên thứ tư (788), Lý Thuần lúc đó đã 10 tuổi được sách phong tước vị Quảng Lăng vương. Năm 793, Đức Tông lấy Quách thị, người con gái của Công chúa Thăng Bình (con gái Đường Đại Tông) với chồng là Quách Ái (con trai đại tướng Quách Tử Nghi) cho kết hôn với Lý Thuần và Quách thị được phong làm vương phi[15][16]. Năm 804, cha Lý Thuần bị đột quỵ, mất khả năng nói và đi lại. Khi Đường Đức Tông qua đời vào tháng 2 năm 705[17], triều đình xảy ra tranh cãi về việc ai là người kế vị, bởi thái tử Lý Tụng mắc bệnh, không đủ khả năng quản lí triều chính. Một số hoạn quan trong triều không muốn lập Lý Tụng, khi hai đại thần Trịnh NhânVệ Thứ Công vào cung soạn thảo di chiếu, các hoạn quan này lại đề nghị nên để Lý Thuần trực tiếp lên ngôi vua còn Lý Tụng là thái thượng hoàng. Nhưng Vệ Thứ Công cho rằng quyết định như vậy có thể làm cho hoàng tộc xảy ra tranh chấp, nên vẫn quyết định lập thái tử Lý Tụng, cuối cùng mọi người bằng lòng. Ngày Giáp Ngọ (26 tháng 2), Lý Tụng lên ngôi, tức là Đường Thuận Tông[2].

Làm hoàng thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Do Thuận Tông bệnh nặng nên quyền lực trong cung thuộc về Chiêu dung Ngưu thị cùng hoạn quan Lý Trung Ngôn, còn ngoại vụ do Vương Thúc Văn quyết định. Ngưu Chiêu dung vẫn ngại Lý Thuần thông minh quyết đoán sẽ gây trở ngại cho mình nên không muốn lập ông làm thái tử. Ở trong triều, Vương Thúc Văn cùng một số đại thần khác đề xướng cuộc Duy Tân</ref> Vĩnh Trinh nhằm cải cách đất nước, trong đó hạn chế quyền lực của hoạn quan. Nhóm Câu Văn Trân, Lưu Quang Kì, Tiết Doanh Trân ... lo sợ mất quyền lực bèn tính kế đối phó, trước tiên là lập Lý Thuần chính vị thái tử. Họ dâng sớ xin cho triệu Vệ Thứ Công, Lý Trình, Vương Nhai vào điện thảo chiếu lập thái tử. Các đại thần soạn tờ chiếu trong đó có bốn chữ: lập đích dĩ trưởng trình lên, Thuận Tông gật đầu. Ngày Quý Tị (26 tháng 5), Lý Thuần được phong làm hoàng thái tử, đổi tên là Thuần (純)[2].

Vương Thúc Văn cầm quyền thấy Lý Thuần được lập, muốn lôi kéo Lý Thuần ủng hộ cải cách của mình mình, bèn phái Lục Chất làm sư phó của ông để xem xét. Nhưng khi Lục Chất nhắc đến việc này, Lý Thuần tức giận nói

Phụ vương bảo tiên sinh giảng cho ta về kinh nghĩa, sao lại nhắc đến chuyện khác[2] .

Lục Chất sợ hãi lui ra và không dám nhắc đến nữa. Đến mùa hạ năm 805, thế lực của Vương Thúc Văn trong triều suy yếu dần do sự công kích từ phiên trấn bên ngoài và hoạn quan trong triều. Tháng 7, Vương Thúc Văn phải về nhà phụng dưỡng thân mẫu bị bệnh[2] [18], hoạn quan nhân đó bàn kế hoạch loại bỏ các đại thần thân tín của Thúc Văn và chấm dứt công cuộc cải cách, tiếp sau là đưa Lý Thuần lên ngôi. Ngày Ất Mùi 26 tháng 8, hoạn quan ép Thuận Tông cho thái tử nhiếp chính, thay mặt Thuận Tông yết kiến bá quan ở triều đường. Ngày hôm sau, 27 tháng 8 Lý Thuần đến điện Lân Đức nghe bách quan tấu sự.

Ngày Canh Tí (31 tháng 8), Đường Thuận Tông hạ chiếu nhường ngôi cho Lý Thuần, cải nguyên Vĩnh Trinh còn mình xưng Thái thượng hoàng đế, mẹ tự hoàng là Vương thị làm thái thượng hoàng hậu. Ngày Ất Tị (5 tháng 9), tự hoàng chính thức đăng cơ ở điện Tuyên Chánh, tức là Đường Hiến Tông, thượng hoàng chuyển sang ở cung Sùng Khánh[2][14][19] .

Làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Vĩnh Trinh và sơ kì Nguyên Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi lên ngôi, Hiến Tông cho bãi chức các đại thần đề xướng Vĩnh Trinh Duy Tân như Vương Thúc Văn, Vương Bái, Hàn Thái, Hàn Diệp, Liễu Tông Nguyên ... và đuổi họ ra khỏi triều đình, sau lại bắt Vương Thúc Văn phải tự tử. Vĩnh Trinh Duy Tân chấm dứt. Ngày hôm sau 6 tháng 9 (Bính Ngọ), công chúa Thăng Bình dâng 50 tì nữ, nhưng Hiến Tông cho rằng thượng hoàng không thể nhận nên mình cũng không thể nhận rồi trả về[14] .

Trước khi Hiến Tông lên ngôi, triều đình đã bổ dụng thêm hai tể tướng là Viên TưĐỗ Hoàng Thường, đến đây Hiến Tông tiếp tục phong Trịnh Dư Khanh làm Đồng bình chương sự. Trong những ngày đầu trị vì của Hiến Tông, một số Tiết độ sứ như Hàn Toàn Nghĩa ở Hạ Tuy và Sử Y Thận ở Phụng Nghĩa đã vào triều yết tân thiên tử để tỏ ý quy phục. Tháng 9 ÂL bắt đầu để tang Duệ Chân hoàng hậu Thẩm thị, mẹ của Đức Tông. Thời loạn An Sử, Thẩm thái hậu mất tích và mặc dù triều đình đã tìm kiếm hơn 40 năm mà mãi không tìm ra, nên đến đó, Lễ nghi sử cho rằng thái hậu chắc không còn, thỉnh Hiến Tông suất quần thần chịu tang. Hiến Tông đồng tình.[2]

Cuối năm 805, bách quan đề nghị thượng hoàng tôn hiệu là Ứng Can Thánh Thọ thái thượng hoàng và Hiến Tông là Văn Vũ Đại Thánh Hiếu Đức hoàng đế. Cùng lúc, có ẩn sĩ La Lệnh Tắc từ Trường An đến Phổ Nhuận[20] và nói với Thứ sử Tân châu Lưu Dung rằng La Lệnh Tắc nhận cáo của thượng hoàng yêu cầu phế truất Hiến Tông lập vua khác. Nhưng không ai nghe theo chỉ dụ này, Lệnh Tắc bị đưa về Trường An và bị đánh đến chết.

Ngày 5 tháng 2 năm 806 (Bính Dần tháng 1 ÂL năm Nguyên Hòa nguyên niên thời Hiến Tông), Hiến Tông suất quần thần đến cung Hưng Khánh dâng tôn hiệu cho thượng hoàng là Ứng Can Thánh Thọ thái thượng hoàng, còn bản thân xưng tôn hiệu Văn Vũ Đại Thánh Hiếu Đức hoàng đế[5] . Ngày Bính Thân, 11 tháng 2, thượng hoàng mất ở cung Hưng Khánh, được an táng ở Phong Lăng. Sau đó Hiến Tông tôn Thái thượng hoàng hậu Vương thị làm Hoàng thái hậu. Ông cũng tiến hành phong quan chức trên danh nghĩa cho một số phiên trấn bên ngoài như Điền Quý An ở Ngụy Bác[21]Vương Sĩ Chân ở Thành Đức làm Đồng bình chương sự, Lưu Tế ở Lư Long và Lý Sư Cổ ở Bình Lư làm thị trung[5] .

Diệt Lý Kĩ, Lưu Tịch và Dương Huệ Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối năm 805, Tây Xuyên[22] tiết độ sứ Vi Cao hoăng, tướng dưới quyền Lưu Tịch tự xưng là lưu hậu, đuổi Tiết độ sứ do nhà Đường bổ nhiệm rồi thượng biểu xin phong chức lên triều đình. Do thực lực chưa ổn định nên Hiến Tông chấp nhận công nhận Lưu Tịch, nhưng ngay sau đó Lưu Tịch lại đòi thêm cả đất Đông Xuyên[23] và Sơn Nam Tây Đạo[24]. Không được triều đình chấp thuận, Lưu Tịch đưa quân tấn công vào Đông Xuyên, bao vây Đông Xuyên Tiết Độ sứ Lý Khang ở Tử châu. Hiến Tông bấy giờ có ý đánh Thục, triều thần cho rằng đất Thục hiểm trở khó công, duy có tể tướng Đỗ Hoàng ThườngLý Cát Phủ khích lệ Hiến Tông xuất quân. Mùa xuân năm 806, lấy Tả Thần Sách hành doanh Tiết độ sứ Cao Sùng Văn dẫn 5000 quân làm tiên phong, Lý Nguyên Dịch dẫn 2000 quân yểm hậu, cùng Sơn Nam Tây Đạo Tiết độ sứ Nghiêm Lệ cùng tiến công Lưu Tịch[14]. Chiến sự nổ ra quyết liệt, ban đầu Lưu Tịch bắt sống được Lí Khang nhưng không lâu sau thì liên tục bại trận, phải bỏ trốn khỏi Tử châu. Hiến Tông hạ chiếu tước quan chức của Lưu Tịch. Sau đó Lưu Tịch cũng tập hợp được khoảng 10.000 quân tiếp tục chống trả nhưng vẫn liên tiếp thua trận ở Đức Dương rồi Hán châu. Sau đó Lưu TịchLư Văn Nhược mất cả Thành Đô, định bỏ trốn sang Thổ Phiên nhưng bị quân Đường bắt được và giải về kinh vào mùa thu năm đó. Hiến Tông hạ lệnh giết chết toàn gia[5] . Cũng năm 806, ông phong vương cho các hoàng tử: Ninh làm Đặng vương, Khoan làm Lễ vương, Hựu làm Toại vương, Sát làm Thâm vương, Hoàn làm Dương vương, Liêu làm Giáng vương, Thẩm làm Kiến vương. Chính thất Quách thị (đã hạ sinh hoàng tử Lý Hựu) được sắc phong làm Quý phi.

Trước đó Hàn Toàn Nghĩa khi vào triều để cháu là Dương Duệ Lâm ở lại Hạ Tuy[25] làm lưu hậu. Trong khi đó Đỗ Hoàng Thường lấy cớ Hàn Toàn Nghĩa không có công lớn mà xa xỉ quá độ nên bắt Toàn Nghĩa phải trí sĩ, lấy Lý Diễn lên thay làm Hạ Tuy tiết độ sứ. Lý Diễn vừa đến thì Dương Huệ Lâm đã đưa binh chống lại, bảo: Tướng sĩ bức thần làm tiết độ sứ. Triều đình quyết định lấy quân ở Hà Đông và Thiên Đức thảo phạt Dương Huệ Lâm. Không lâu sau, Dương Huệ Lâm bị Trương Thừa Kim giết chết ở Hạ châu, gửi thủ cấp về kinh, kết thúc cuộc nổi loạn. Cao Sùng Văn được triều đình phong làm Tiết độ sứ Đông Xuyên.[5] Sau đó Tiết độ sứ Bình Lư Lý Sư Cổ hoăng, em là Lý Sư Đạo được chư tướng tôn làm Tiết độ phó sứ. Hiến Tông vừa mới tiến hành hai chiến dịch lớn nên muốn cho quân nghỉ ngơi, bèn công nhận Lý Sư Đạo, phong làm lưu hậu ở Bình Lư.

Tháng 9 năm 807, thấy hai trấn đã bị diệt, Tiết độ sứ Trấn Hải[26] Lý Kĩ lo sợ, bèn xin vào triều yết kiến để tỏ lòng trung thành. Nhưng sự thực Lý Kĩ không muốn vào triều mặc dù đã để phán quan Vương Đạm ở lại trấn làm lưu hậu. Cuối cùng Lý Kĩ dâng sớ nói có bệnh không thể đến kinh. Hiến Tông vẫn muốn Lý Kĩ vào triều nhưng không được, bèn quyết định thảo phạt, lấy Lý Nguyên Tố làm Tiết độ sứ mới và tước quan chức của Lý Kĩ. Kĩ đến đường cùng cũng quyết định phản loạn. Kĩ thấy đất Tuyên châu phì nhiêu nên muốn lấy trước, bèn sai Trương Tử Lương, Lý Phụng, Điền Thiếu Khanh đem quân đánh. Nhưng ba người đã hợp nhau làm phản, bắt Lý Kĩ rồi đầu hàng Đường triều. Sau đó Lý Kĩ bị triều đình giết chết[5] . Sau việc này, Tiết độ sứ Sơn Nam Đông Đạo[27] xin cưới một công chúa trong hoàng gia và giao trả lại trấnc cho triều đình. Hiến Tông gả công chúa Phổ Ninh cho. Tết năm 808, Hiến Tông đổi tôn hiệu là Duệ Thánh Văn Vũ hoàng đế.

Tình hình triều chính và ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu hạ năm 808, Hiến Tông ra lệnh khuyến khích các đại thần trong triều can gián những điều không đúng của vua hay quan lại triều đình, ai nói đúng sẽ được thăng chức. Các đại thần Ngưu Tăng Nhụ, Hoàng Phủ Thực, Lý Tông Mẫn thẳng thắn chỉ trích nhiều thiếu sót của triều đình mà không kiêng dè. Giám khảo Vi QuánDương Ư Lăng đánh giá cao những lời chỉ trích này, dâng trình lên, Hiến Tông bằng lòng. Nhưng tể tướng Lý Cát Phủ không vừa lòng vì những lời chỉ trích xúc phạm đến mình, bèn đến khóc lóc với Hiến Tông, bảo rằng Hàn lâm học sĩ Bùi 垍 và Vương Nhai xung đột với nhau, mà Hoàng Phủ Thực lại là cháu của Vương Nhai nên có thể họ bí mất cấu kết với nhau, chuẩn bị sẵn lời nói để nói trong ngày khảo thí. Hiến Tông bèn giáng chức Vương Nhai làm Đô Quan viên ngoại lang, tước danh vị học sĩ, sau đó biếm ra Quắc Châu, nhưng sau cũng dùng lại. Bọn của Ngưu Tăng Nhụ không được xét thăng chức mà cũng không bị phạt, sau họ đến phục vụ cho Tiết độ sứ các nơi. Về sau Lý Cát PhủNgưu Tăng Nhụ được nắm quyền trong triều mà tiếp tục tranh chấp với nhau, Lý Cát Phủ đứng đầu Lý Đảng, Ngưu Tăng Nhụ đứng đầu Ngưu Đảng, sử xưng là Ngưu Lý Đảng tranh[28].

Bộ tộc Sa Đà vốn nhiều năm phụ thuộc Thổ Phiên, được Thổ Phiên bố trí ở đất Cam Châu. Trong năm 808, xảy ra sự kiện Hồi Cốt tiến đánh Thổ Phiên, Thổ Phiên nghi ngờ Sa Đà có liên kết với Hồi Cốt, nên muốn thiên người Sa Đà sang Hà Ngoại. Tù trưởng Sa Đà hoảng sợ, bèn nảy ra ý quy phục nhà Đường. Ba vạn người Sa Đà đi đến phía đông Đức Kiền Sơn, bị Thổ Phiên đuổi theo truy bắt. Tù trưởng Tận Trung chết, con là Chấp Nghi đem 10000 người dân và 3000 quân kị đên Linh châu đầu hàng nhà Đường. Tiết độ sứ Linh Diêm Phạm Hi Triều ra tiếp đón và bố trí chỗ ở cho người Sa Đà. Ban đầu họ định cư tại Sóc Phương[29] sau dời sang Hà Đông[30]. Sa Đà dần phát triển thế lực, đến cuối đời Đường cũng phát triển mạnh mẽ, người Sa Đà đã kiến lập nên ba vương triều thời Ngũ Đại là Hậu Đường, Hậu TấnHậu Hán[31][32].

Năm 809, Hàn lâm học sĩ Lý Giáng thỉnh cầu Hiến Tông nên lập hoàng thái tử. Hiến Tông chấp thuận, lập con trưởng là Đặng vương Lý Ninh do Kỉ mĩ nhân sinh ra làm hoàng thái tử[5] . Năm 810, Hiến Tông phong cho Quyền Đức Dư làm Đồng bình chương sự (tể tướng). Cuối năm 811, do chán việc Lý Cát Phủ chuyên quyền, Hiến Tông bèn bổ dụng Lý Giáng cùng đảm nhận tướng vị để tạo ra đối trọng với Lý Cát Phủ và rất tín nhiệm Lý Giáng[33] .

Năm 812, thái tử Lý Ninh hoăng, thụy là Huệ Chiêu thái tử[34][35]. Hiến Tông sau đó bỏ qua con thứ hai Lý Khoan do cung tần sinh ra để lập con thứ ba Toại vương Lý Hựu, con của Quách quý phi làm hoàng thái tử, đổi tên là Lý Hằng[33] [36]. Các đại thần cũng nhân đó dâng sớ xin lập Quách quý phi làm hoàng hậu, nhưng Hiến Tông cho rằng Quý phi đã có thế lực lớn bên nhà mẹ (Quý phi là cháu gái của Đại tướng quân Quách Tử Nghi), nếu phong hậu thì các phu nhân khác sẽ e ngại mà không dám tiếp cận ông, nên vẫn để trống ngôi hậu đến tận khi qua đời[37].

Năm 814, Lý Giáng có bệnh xin từ chức, Hiến Tông dời làm Lễ bộ thượng thư. Có chiếu phong cho tiết độ sứ Hà Trung Trương Hoằng Tĩnh cùng Tiết độ sứ Hà Đông Vương Ngạc và Thượng thư hữu thừa Vi Quán Chi đảm nhận tướng vị. Cũng trong năm đó, tể tướng Lý Cát Phủ qua đời[38]. Năm 816, Hiến Tông phong cho Trung thư xá nhân Lý Phùng Cát làm Môn hạ thị lang, đồng bình chương sự, và đại thần khác là Vương Nhai đảm nhiệm tướng vị. Cùng năm Vương thái hậu băng, thụy là Trang Hiến hoàng hậu[39], táng ở Phong lăng.

Đánh các trấn Thành Đức, Chiêu Nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 808, Tiết độ sứ Thành Đức[40] Vương Sĩ Chân hoăng, con là phó sứ Vương Thừa Tông kế tập ở Thành Đức, Hiến Tông muốn Thừa Tông hứa cắt đất hai châu Đức, Lệ quy về triều đình để đổi lấy sự công nhận của mình. Nhưng sau khi được công nhận, Vương Thừa Tông không chịu cắt đất, Hiến Tông bèn tước quan chức của Vương Thừa Tông rồi cử Thổ Đột Thừa Thôi cầm quân đánh diệt. Trong khi đó Điền Quý An ở trấn Ngụy Bác cũng ủng hộ Vương Thừa Tông, dự định hai trấn liên quân cùng kháng triều đình.

Cũng năm 809, Ngô Thiếu Thành ở Trấn Hoài Tây[41] hoăng, tướng Ngô Thiếu Dương sát con Thiếu Thành là Thiếu Khanh, tự xưng là Chương Nghĩa lưu hậu. Hiến Tông cho rằng Chương Nghĩa dễ đánh diệt hơn Thành Đức, nhưng mình đã trót dùng quân đánh Thành Đức nên chỉ đành tiếc nuối mà thôi, sau đó phong Thiếu Dương làm Hoài Tây lưu hậu. Sang năm 810, quân Đường có thắng có thua nhưng không thể tận diệt được Vương Thừa Tông, Tiết độ sứ Lư Tòng ở Chiêu nghĩa[42] cũng cử quân đến giúp Vương Thừa Tông. Tướng Đường là Ô Trọng Dận lừa bắt được Lư Tòng rồi giải về kinh sư. Hiến Tông cảm kích công ấy, muốn cho Ô Trọng Dận làm Tiết độ sứ mới ở Chiêu Nghĩa, nhưng sau nghe lời Lý Giáng nên thôi. Mùa thu năm đó, Vương Thừa Tông sai người đến kinh trần tình và đổ tội cho Lư Tòng li gián mình với triều đình[33], Hiến Tông do thấy chiến dịch chống Vương Thừa Tông không có kết quả nên đồng ý công nhận Thừa Tông làm lưu hậu.

Sau chiến dịch này, Tiết độ sứ Nghĩa Vũ[43] Trương Mậu Chiêu hoăng, con là Trương Hiếu Trung lên nắm quyền nhưng sợ triều đình tấn công, bèn dâng biểu trả lại trấn. Hiến Tông cử Nhâm Địch Giản đến Nghĩa Vũ thay thế. Tuy nhiên binh lính ở Nghĩa Vũ lại nổi dậy làm loạn, bắt gian Nhâm Địch Giản. Tuy nhiên về sau một nhóm binh sĩ khác giải thoát cho ông ta. Từ đó trấn Nghĩa Vũ lại thuộc tầm kiểm soát của triều đình. Đầu năm 811, triều đình chính thức cho Ngô Thiếu Dương làm Hoài Tây tiết độ sứ[33] .

Phiên trấn quy phục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 812, Tiết độ sứ Ngụy Bác Điền Quý An hoăng. Con là Tiết độ phó sứ Điền Hoài Gián mới 11 tuổi lên kế tục. Hiến Tông lại phong cho Tiết Bình làm Trịnh Hoạt Tiết độ sứ để khống chế Ngụy Bác. Sau đó, binh sĩ ở Ngụy Bác tiến hành binh biến, lật đổ Điền Hoài Gián, đưa Điền Hưng lên nắm quyền ở Ngụy Bác. Theo đề nghị của Lý Giáng, Hiến Tông quyết định công nhận Điền Hưng là Tiết độ sứ Ngụy Bác, đổi tên là Điền Hoằng Chính, đồng thời cũng cử Bùi Độ đến Ngụy Bác đem 500.000 tiền thưởng cho quân sĩ để họ không xúi giục Điền Hoằng Chính phản lại triều đình. Từ đó đến sau khi Hiến Tông qua đời, trấn Ngụy Bác quy phục triều đình. Còn Điền Hoài Gián được đưa đến kinh đô và nhận quan chức trong triều.

Cũng năm đó, quân Thổ Phiên kéo sang cướp phá Kính châu. Để phòng chống sự xâm lăng của Thổ Phiên, Hiến Tông quyết định tăng thêm thế lực cho các đội quân Thần Sách ở Kinh Tây, Kinh Bắc. Hoạn quan do ngày càng được tin tưởng đã trở nên lộng quyền hơn, và gây ra nhiều cuộc đảo chính trong cung đình về sau. Quan lại nhà Đường cũng cho xây Nguyệt Thành ở Sóc Phương để phòng bị Thổ Phiên cướp phá, từ đó Sóc Phương được bảo vệ vững chắc.

Năm 814, Ngô Thiếu Dương hoăng, con là Ngô Nguyên Tế được lên kế tập, Hiến Tông không đồng ý công nhận. Do đó sang năm 815, Ngô Nguyên Tế đem quân tấn công các trấn khác để gây áp lực lên triều đình. Hiến Tông lệnh tước quan chức của Nguyên Tế rồi cử binh thảo phạt. Ngô Nguyên Tế sai sứ đến cầu viện Lý Sư ĐạoVương Thừa Tông. Do đó hai người dâng biểu xin Hiến Tông tha tội cho Ngô Nguyên Tế nhưng ông không theo. Quân triều đình được Điền Hoằng Chính hỗ trợ, giành lợi thế trước quân Hoài Tây. Lý Sư Đạo bèn cử 2000 quân đến Thọ Xuân bề ngoài là hỗ trợ quân triều đình nhưng bên trong ngầm giúp Ngô Nguyên Tế. Đồng thời, Sư Đạo sai sát thủ đến cướp phá các đoàn chuyển vận lương thực dùng trong quân đội của nhà Đường. Sau đó thấy tình hình chiến sự bất lợi, Lý Sư Đạo lập kế ám sát tể tướng Võ Nguyên HoànhBùi Độ, người chủ ý tiêu diệt phiên trấn rồi lại dâng biểu xin vua bãi binh. Cuối cùng Võ Nguyên Hoành bị giết nhưng Bùi Độ may mắn thoát được. Hiến Tông bị kinh động một phen, cũng hạ lệnh các tể tướng khi vào triều đều được phép đem theo kị sĩ bảo vệ, nhưng các đại thần vẫn lo sợ. Hiến Tông lại nghi ngờ Vương Thừa Tông chủ mưu việc này nên quyết định thảo cả phạt Thành Đức, đồng thời cũng quyết định cho Bùi Độ làm tể tướng. Về sau Hiến Tông mới biết chủ mưu thực sự là Lý Sư Đạo, nhưng do đã cử binh thảo phạt Thành Đức và Hoài Tây nên ông không còn binh mã trong tay để chống Lý Sư Đạo[37] .

Năm 816, có chiếu bãi quan tước của Vương Thừa Tông. Ở mặt trận Thành Đức và Hoài Tây, quân Đường có thắng nhiều trận nhưng không thể giành được ưu thế hoàn toàn và không thể trừ dứt được hai trấn. Đến năm 817, thấy việc thảo phạt các trấn đã lâu không giành thắng lợi, Hiến Tông theo đề nghị của Lý Phùng Cát, chỉ tập trung đánh vào Hoài Tây trước rồi sau mới đánh các trấn khác. Bùi Độ thỉnh cầu ra trận đốc chiến, Hiến Tông chuẩn y. Cuối năm 817, Tiết độ sứ Đường Tùy Đặng[44]Lý Tố hợp quân với triều đình tấn công bất ngờ vào lực lượng của Ngô Nguyên Tế ở Thái châu. Nguyên Tế bị bắt và bị đưa về Trường an hành quyết[45].

Thấy Ngô Nguyên Tế bị diệt, Vương Thừa TôngLý Sư Đạo cực kì sợ hãi. Sang năm 818, Vương Thừa Tông để nghị gửi cho đến Trường An làm con tin, cắt đất ba châu thuộc quyền quản lí của mình quy về triều đình và nhờ Điền Hoằng Chính nói giúp. Hiến Tông chấp nhận tha cho Lý Sư Đạo, ba châu do Sư Đạo cắt cho triều đình được Hiến Tông trao cho Tiết độ sứ Trình Quyền Tự ở Hoành Hải[46]. Hiến Tông ra lệnh xá tội và khôi phục quan chức cho Vương Thừa Tông. Lý Sư Đạo cũng hứa cắt đất ba châu Nghi, Mật, Hải và gửi con tin nhưng sau đó không thực hiện. Do vậy Hiến Tông cử quân thảo phạt trấn Bình Lư. Lý Quang Nhan được bố trí ở Nghĩa Thành để chuẩn bị thảo phạt. Chiến sự nổ ra quyết liệt, quân Đường giành thắng lợi rất nhiều trận. Đến năm 819, Lý Sư Đạo nghi ngờ tướng dưới quyền là Lưu Ngộ, âm mưu giết đi. Lưu Ngô biết được, bèn quyết định phản lại Lý Sư Đạo, bất ngờ đưa quân tấn công Sư Đạo ở Vận châu và giết Sư Đạo cùng con trai ông ta, gửi đầu về Trường An. Sau thất bại của Lý Sư Đạo, Hiến Tông chia nhỏ trấn Bình Lư làm ba phần để dễ dàng khống chế, Lưu Ngộ được phong làm Tiết độ sứ Nghĩa Thành[47][7] .Nạn phiên trấn tạm thời được dẹp yên.

Lạm dụng thuốc tiên, bất đắc kì tử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dẹp được phiên trấn, Hiến Tông sinh ra dâm dật kiêu căng và xa xỉ. Các đại thần Hoàng Phủ BácTrình Dị hiểu điều đó nên tăng tiền trong ngân khố vào việc chi tiêu trong cung, do đó được Hiến Tông sủng tín. Hoàng Phủ Bác và Trình Dị được thăng dần đến tể tướng. Các tể tướng khác như Bùi Độ, Thôi Quần nhiều lần can ngăn, công không nghe. Bùi Độ chán nản muốn từ quan nhưng lại không được. Sau đó Hiến Tông nghe lời Bác và Dị, đuổi hai vị tể tướng khỏi kinh đô Trường An[48].

Hiến Tông lại tin vào thần tiên ma thuật và mong được trường sinh bất lão, bèn hạ chiếu triệu tập phương sĩ trong thiên hạ đến Trường An luyện đan cho mình. Hoàng Phủ Bác tiến cử yêu đạo Liễu Bí. Hiến Tông bố trí cho Liễu Bí ở Hưng Đường cung để luyện đan.

Đầu năm 819, do tin lời đồn có cốt Phật ở một ngôi chùa tại Phụng Thiên[49], Hiến Tông sai rước hộp xương cốt về và bảo các đại thần phải quỳ lạy và quyên tiền đóng góp cho việc xây đền thờ cho hộp xương cốt đó. Đại thần Hàn Dũ lên tiếng can ngăn, Hiến Tông cả giận, hạ lệnh đem Hàn Dũ ra xử tử. Tể tướng Bùi ĐộThôi Quần hết sức kêu xin, Hiến Tông mới tha cho nhưng giáng Hàn Dũ làm Thứ sử Triều Châu[50][51]. Cùng năm, Hiến Tông theo thỉnh cầu của quần thần, xưng tôn hiệu Nguyên Hòa Thánh Văn Thần Vũ Pháp Thiên Ứng Đạo hoàng đế.

Do lạm dụng quá nhiều đơn dược của Liễu Bí, nên hay khát nước và tính tình trở nên khắc nghiệt, các hoạn quan bị ông đối xử tàn bạo, cho dù chỉ phạm lỗi nhỏ cũng có thể bị giết, nên đó hoạn quan rất bất an. Ngày Canh Tí (14 tháng 2 năm 820), Hiến Tông bạo băng tại điện Trung Hòa[52]. Nguyên nhân cái chết của ông được cho là do hoạn quan Trần Hoằng Chí hạ độc.

Tả trung úy Thổ Đột Thừa Thôi âm mưu phế thái tử Hằng để lập Lễ vương Uẩn lên ngôi. Các hoạn quan Mã Tiến Đàm, Lưu Thừa Giai, Vương Thủ Trừng hợp sức đánh bại Thừa Thôi và giết Lễ vương Uẩn. Ngày Bính Ngọ (20 tháng 2), thái tử Hằng tức vị, tức là Đường Mục Tông.[7] . Về sau năm 846, con trai thứ 10 của Hiến Tông là Lý Thầm lên ngôi (Đường Tuyên Tông). Tuyên Tông nghi ngờ cái chết của Hiến Tông có sự nhúng tay của Quách quý phi cùng Mục Tông, nhưng không có bằng chứng xác thực để chứng minh[53].

Sau cái chết của Hiến Tông, các phiên trấn được thế trỗi dậy trở lại, cộng thêm hoạn quan ngày càng nắm nhiều quyền lực. Các vua sau ông đều là những người bạc nhược vô năng, hoặc ham mê tửu sắc, triều Đường dần bước vào thời kì suy vong.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ý An hoàng hậu Quách thị (懿安皇后郭氏, ? - 851), là cháu gái danh thần Quách Tử Nghi (郭子儀), con gái Quách Ái (郭曖) và Thăng Bình công chúa (昇平公主), con gái của Đường Đại Tông. So với Hiến Tông bà thuộc vai vế là biểu cô (表姑). Tuy được cưới làm chính thê nhưng khi đăng cơ, Đường Hiến Tông chỉ phong bà làm Quý phi, do lo sợ gia thế của bà.
  2. Hiếu Minh hoàng hậu Trịnh thị (孝明皇后鄭氏, ? - 865), người Đan Dương. Trịnh thị vốn là vợ lẽ của Tiết độ sứ Lý Kĩ, người bị triều Đường đánh bại và giết chết năm 807. Sau thất bại của Lý Kĩ, cả gia quyến bị bắt sung vào cung làm nô tì, Trịnh thị được sắp xếp hầu hạ Quách quý phi. Sau đó, Trịnh cung nhân được Hiến Tông lâm hạnh sinh ra hoàng tử Lý Thầm. Lý Thầm được phong Quang vương (光王), bà được phong Quang vương thái phi (光王太妃). Sau khi Quang vương đăng cơ, thành Đường Tuyên Tông, bà được tôn làm Hoàng thái hậu, phụng dưỡng rất chu đáo. Bà sống đến đời cháu là Đường Ý Tông thì mất.
  3. Vương hiền phi (王贤妃).
  4. Hà chiêu nghi (何昭仪).
  5. Hứa thái nghi (许太仪).
  6. Mạnh tiệp dư (孟婕妤).
  7. Kỷ mĩ nhân (紀美人).
  8. Quách tài nhân (郭才人).
  9. Triệu cung nhân (赵宫人).
  10. Đỗ cung nhân (杜宫人).
  11. Đỗ thu Nương (杜秋娘), hay Đỗ Trọng Dương (杜仲阳), là thiếp của Lý Kĩ, sau khi Lý Kĩ chết thì bị nạp vào cung.

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Tông có 20 con trai, Kỷ mĩ nhân sinh Lý Ninh, Ý An hoàng hậu sinh Mục Tông, Hiếu Minh hoàng hậu sinh Tuyên Tông, Triệu cung nhân sinh Mậu vương, Đỗ cung nhân sinh Miện vương; 15 vương khác do hậu cung sinh.

  1. Bình Nguyên quận vương →Đặng vương →Hoàng thái tử →Huệ Chiêu thái tử Lý Ninh (李寧)
  2. Đồng An quận vương →Lễ vương Lý Uẩn (李恽), hay Lý Khoan (李寬)
  3. Toại vương →Đường Mục Tông Lý Hằng (李恆)
  4. Bành Thành quận vương →Thâm vương Lý Tông (李悰), hay Lý Sát (李察)
  5. Cao Mật quận vương →Dương vương Lý Hãn (李忻), hay Lý Hoàn (李寰)
  6. Văn An quận vương →Giáng vương Lý Ngộ (李悟), hay Lý Liêu (李寮)
  7. Kiến vương Lý Khác (李恪), hay Lý Thẩm (李審)
  8. Phu vương Lý Cảnh (李憬)
  9. Quỳnh vương Lý Duyệt (李悦)
  10. Miện vương Lý Tuân (李恂)
  11. Vụ vương Lý Dịch (李怿)
  12. Mậu vương Lý Âm (李愔)
  13. Quang vương →Đường Tuyên Tông Lý Thầm (李忱)
  14. Truy vương Lý Hiệp (李恊)
  15. Hành vương Lý Đảm (李憺)
  16. Thiền vương Lý Sung (李㤝)
  17. Lệ vương Lý Chúy (李惴)
  18. Bành vương Lý Dịch (李惕)
  19. Tín vương Lý Đản (李憻)
  20. Vinh vương Lý Trách (李㥽)

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Hiến Tông có 18 con gái[54]

  1. Lương Quốc Huệ Khang công chúa (ban đầu là Phổ Ninh công chúa, lấy Vu Quý Hữu).
  2. Vĩnh Gia công chúa (xuất gia làm đạo sĩ)
  3. Hành Dương công chúa (chết non)
  4. Tuyên Thành công chúa (lấy Thẩm ? (沈)
  5. Trịnh Quốc Ôn Nghi công chúa (ban đầu là Phàn Dương công chúa, lấy Vi Nhượng).
  6. Kỳ Dương Trang Thục công chúa (mẹ là Ý An hoàng hậu, lấy Đỗ Tông).
  7. Trần Lưu công chúa (lấy Bùi Tổn).
  8. Chân Trữ công chúa (lấy Tiết Hồng (薛翃)
  9. Nam Khang công chúa (lấy Trầm Phần, mất khoảng năm Hàm Thông).
  10. Lâm Chân công chúa (ban đầu là Tương Thành công chúa, lấy Vệ Chu, mất khoảng năm Hàm Thông).
  11. Phổ Khang công chúa (chết non)
  12. Chân Nguyên công chúa (ban đầu là An Lăng công chúa, lấy Đỗ Trung Lập).
  13. Vĩnh Thuận công chúa (lấy Lưu Hoằng Cảnh).
  14. An Bình công chúa (lấy Lưu Dị, mất khoảng năm Càn Phù).
  15. Vĩnh An công chúa (xuất gia làm đạo sĩ).
  16. Nghĩa Ninh công chúa (chết non)
  17. Định An công chúa (ban đầu là Thái Hòa công chúa, lấy khả hãn Hồi Cốt Sùng Đức).
  18. Quý Hương công chúa (chết non)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ www.sinica.edu.tw
  2. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 236.
  3. ^ a ă www.sinica.edu.tw
  4. ^ www.sinica.edu.tw
  5. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 237.
  6. ^ www.sinica.edu.tw
  7. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 241.
  8. ^ Đường thư, quyển 14.
  9. ^ Truy tôn sau khi mất
  10. ^ Truy tôn vào năm Đại Trung thứ ba (849)
  11. ^ Do trước đó có Đường Trung TôngĐường Duệ Tông làm vua hai lần không liên tục
  12. ^ Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  13. ^ Tư trị thông giám, quyển 227
  14. ^ a ă â b c Cựu Đường thư, quyển 14.
  15. ^ Cựu Đường thư, quyển 52
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 234
  17. ^ Cựu Đường thư, quyển 13
  18. ^ Cựu Đường thư, quyển 135
  19. ^ http://www.sinica.edu.tw/ftms-bin/kiwi1/luso.sh?lstype=2&dyna=%AD%F0&king=%BE%CB%A9v&reign=%A4%B8%A9M&yy=15&ycanzi=&mm=1&dd=&dcanzi=%A9%B0%A4l
  20. ^ Bảo Kê, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  21. ^ Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  22. ^ Trụ sở thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay
  23. ^ Miên Dương, Tứ Xuyên hiện nay
  24. ^ Trụ sở thuộc Hán Trung, Thiểm Tây hiện nay
  25. ^ Diêm An, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  26. ^ Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  27. ^ Tương Phàn, Hồ Bắc, Trung Quốc hiện nay
  28. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 568 - 571
  29. ^ Ngân Xuyên, Ninh Hạ, Trung Quốc hiện nay
  30. ^ Trụ sở nay thuộc Hà Đông, Thái Nguyên, Sơn Tây
  31. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 574
  32. ^ 中国人史纲, quyển 2, trang 592 - 603
  33. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 238.
  34. ^ Tân Đường thư, quyển 82
  35. ^ Cựu Đường thư, quyển 175
  36. ^ Cựu Đường thư, quyển 16
  37. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 239.
  38. ^ Cựu Đường thư, quyển 148
  39. ^ Cựu Đường thư, quyển 52
  40. ^ Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc
  41. ^ Trú Mã Điếm, Hà Nam hiện nay
  42. ^ Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  43. ^ Trụ sở nay thuộc Bảo Định, Hà Bắc, Trung Quốc
  44. ^ Trú Mã Điếm, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  45. ^ Tư trị thông giám, quyển 240
  46. ^ Hoành Hải, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  47. ^ An Dương, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  48. ^ Tư trị thông giám, quyển 240
  49. ^ Bảo Kê, Thiểm Tây, Trung Quốc ngày nay
  50. ^ Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay
  51. ^ Cựu Đường thư, quyển 160
  52. ^ Cựu Đường thư, quyển 15
  53. ^ Tư trị thông giám, quyển 248
  54. ^ 《新唐书·诸帝公主列传》