Đường Hiến Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Hiến Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tang Xianzong.jpg
Vua nhà Đường
Trị vì  5/9/805[1][2] - 14/2/820[3]
Tiền nhiệm Đường Thuận Tông
Kế nhiệm Đường Mục Tông
Tên thật
Lý Thuần (李淳)
sau đổi thành Thuần (純)
(đổi năm 805)
Niên hiệu
Nguyên Hòa (元和): 25/1/805[4][5] - 9/2/821[6][7]
Thụy hiệu Chiêu văn Chương võ Đại thánh Chí thần Hiếu hoàng đế
(昭文章武大聖至神孝皇帝)
Miếu hiệu Hiến Tông (憲宗)
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Thuận Tông
Thân mẫu Trang Hiến hoàng hậu Vương thị
Sinh 778[8]
Mất 14/2/820[3][7]
An táng Cảnh lăng

Đường Hiến Tông (chữ Hán: 唐憲宗, bính âm: Xiàn zōng) (778 – 820), tên thật là Lý Thuần (李純 Lǐ Chún) là vị vua thứ 11 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Ông trị vì từ năm 805 đến 820. Ông là con trai trưởng của Đường Thuận Tông. Ông đã được đưa lên ngôi sau khi vua cha bị đột quỵ và bị các hoạn quan trong triều ép thoái vị.

Ông là một vị vua chăm lo triều chính và đã nhận ra mối nguy của phiên trấn và quyết tâm quét sạch các phiên trấn này. Quân đội triều đình đã đánh bại nhiều tiết độ sứ như Lưu Tịch, Lý Kỹ, Dương Huệ Lâm trong các năm 806 - 807. Năm 813, tiết độ sứ Điền Hoằng Chính đã quy phục triều đình. Thất bại đầu tiên của ông năm 813 trước Vương Thừa Tông nhưng đến năm 817, sau thất bại của Lý Sư Đạo và sự phục tùng của Vương Thừa Tông thì hầu như phần lớn các tiết độ sứ đều quy thuận triều đình. Các sử gia sau này nói tới thời kỳ trị vì của ông như là Nguyên Hòa trung hưng.

Thời kỳ trị vì của Hiến Tông làm ổn định nhanh thể chế nhà Đường trước các sức mạnh phá hủy từ các tiết độ sứ, nhưng lại là thời kỳ nổi lên của các hoạn quan. Bản thân Hiến Tông có lẽ cũng đã bị hoạn quan Trần Hoằng Chí (陳弘志) sát hại năm 820. Giả thiết không bao giờ được chứng minh cho rằng Ý An hoàng hậu Quách thị và con trai của bà là Lý Hằng (sau đó là Đường Mục Tông) cũng dính líu vào việc này.

Mục lục

[sửa] Gia đình

[sửa] Cha mẹ

[sửa] Vợ

  • Ý An hoàng hậu Quách thị
  • Hiếu Minh hoàng hậu Trịnh thị
  • Kỷ mĩ nhân
  • Thượng cung Tống nhược chiêu

[sửa] Con trai

Hiến Tông có 20 con trai, Kỷ mĩ nhân sinh Lý Ninh, Ý An hoàng hậu sinh Mục Tông, Hiếu Minh hoàng hậu sinh Tuyên Tông, 17 vương khác do hậu cung sinh.

  1. Bình Nguyên quận vương →Đặng vương →Hoàng thái tử →Huệ Chiêu thái tử Lý Ninh (李寧)
  2. Đồng An quận vương →Lễ vương Lý Uẩn (李恽) hay Lý Khoan (李寬)
  3. Toại vương →Đường Mục Tông Lý Hằng (李恆)
  4. Bành Thành quận vương →Thâm vương Lý Tông (李悰) hay Lý Sát (李察)
  5. Cao Mật quận vương →Dương vương Lý Hãn (李忻) hay Lý Hoàn (李寰)
  6. Văn An quận vương →Giáng vương Lý Ngộ (李悟) hay Lý Liêu (李寮)
  7. Kiến vương Lý Khác (李恪) hay Lý Thẩm (李審)
  8. Phu vương Lý Cảnh (李憬)
  9. Quỳnh vương Lý Duyệt (李悦)
  10. Miện vương Lý Tuân (李恂)
  11. Vụ vương Lý Dịch (李怿)
  12. Mậu vương Lý Âm (李愔)
  13. Quang vương →Đường Tuyên Tông Lý Thầm (李忱)
  14. Truy vương Lý Hiệp (李恊)
  15. Hành vương Lý Đảm (李憺)
  16. Thiền vương Lý Sung (李㤝)
  17. Lệ vương Lý Chúy (李惴)
  18. Bành vương Lý Dịch (李惕)
  19. Tín vương Lý Đản (李憻)
  20. Vinh vương Lý Trách (李㥽)

[sửa] Con gái

Đường Hiến Tông có 18 con gái[9]

  1. Lương Quốc Huệ Khang (ban đầu là Phổ Ninh công chúa, lấy Vu Quý Hữu).
  2. Vĩnh Gia (xuất gia làm đạo sĩ)
  3. Hành Dương (chết non)
  4. Tuyên Thành (lấy Thẩm ? (沈)
  5. Trịnh Quốc Ôn Nghi (ban đầu là Phàn Dương công chúa, lấy Vi Nhượng).
  6. Kỳ Dương Trang Thục (mẹ là Ý An hoàng hậu, lấy Đỗ Tông).
  7. Trần Lưu (lấy Bùi Tổn).
  8. Chân trữ công chủ (lấy Tiết Hồng (薛翃)
  9. Nam Khang (lấy Trầm Phần, mất khoảng năm Hàm Thông).
  10. Lâm Chân (ban đầu là Tương Thành công chúa, lấy Vệ Chu, mất khoảng năm Hàm Thông).
  11. Phổ Khang (chết non)
  12. Chân Nguyên (ban đầu là An Lăng công chúa, lấy Đỗ Trung Lập).
  13. Vĩnh Thuận (lấy Lưu Hoằng Cảnh).
  14. An Bình (lấy Lưu Dị, mất khoảng năm Càn Phù).
  15. Vĩnh An (xuất gia làm đạo sĩ).
  16. Nghĩa Ninh (chết non)
  17. Định An (ban đầu là Thái Hòa công chúa, lấy khả hãn Hồi Cốt Sùng Đức).
  18. Quý Hương (chết non)

[sửa] Ghi chú