Đường Ý Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Ý Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đường
Tại vị 13/9/859 – 15/8/873[1]
Tiền nhiệm Đường Tuyên Tông
Kế nhiệm Đường Hy Tông
Thông tin chung
Tên đầy đủ Lý Thôi
Niên hiệu Đại Trung (13/9/859-16/12/860)
Hàm Thông (17/12/860-17/12/874)[1]
Thụy hiệu Chiêu Thánh Cung Huệ Hiếu hoàng đế
Hoàng tộc Nhà Đường
Sinh 28 tháng 12 năm 833[1]
Mất 15 tháng 8 năm 873[1]
Trung Quốc
An táng Giản lăng

Đường Ý Tông (28/12/83315/8/873)[1], (chữ Hán: 唐懿宗, bính âm: Táng Yì zōng), tên lúc sinh là Lý Thôi (chữ Hán: 李漼, bính âm: Lǐ Cuǐ) là vị hoàng đế thứ 17 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Ông là con trai cả của Đường Tuyên Tông. Ông trị vì từ năm 859 đến năm 873. Sau khi Đường Tuyên Tông qua đời năm 859, ông được các quan và hoạn quan tham đầy quyền lực đưa lên ngai vàng. Đường Ý Tông là một ông vua lười không chú tâm đến việc triều chính mà suốt ngày hưởng lạc. Ông đã tăng thu thuế thần dân, tiêu dùng kiệt quệ ngân khố được cha mình là Đường Tuyên Tông đã dày công tích luỹ. Ông mất năm 873 sau khi trị vì được 14 năm. Con trai ông là Đường Hy Tông kế vị ngai vàng. Đường Ý Tông đã đánh dấu thời kỳ bắt đầu suy yếu của nhà Đường.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các niên hiệu của Đường Ý Tông (niên hiệu, chữ Hán, bính âm, khoảng thời gian)

  • Đại Trung (大中 Dà chōng) 8/859-10/860[2]. Niên hiệu này là sự kéo dài niên hiệu dưới thời trị vì của vua cha là Đường Tuyên Tông.
  • Hàm Thông (咸通 Xián tōng) 11/860-8/873[2]. Niên hiệu này còn được sử dụng cho tới tháng 11 năm 874 dưới thời Đường Hy Tông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huệ An hoàng hậu Vương thị
  • Cung Hiến hoàng hậu Vương thị
  • Thục phi Quách thị
  • Hàn quốc phu nhân Vương thị, sau khi mất được truy phong làm Đức phi, sinh ra Xương Ninh công chúa, thất lang, bát lang 3 người[3].

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

Ý Tông có 8 con trai, Huệ An hoàng hậu sinh ra Đường Hy Tông, Cung Hiến hoàng hậu sinh ra Đường Chiêu Tông, mẹ đẻ của các vương tử khác không rõ.

  1. Phổ vương → Đường Hy Tông Lý Huyên/Hoàn, con trai thứ 5.
  2. Thọ vương →Đường Chiêu Tông Lý Diệp, con trai thứ 7.
  3. Ngụy vương Lý Dật
  4. Lương vương Lý Đĩnh, mất năm Càn Phù thứ 6 (879).
  5. Thục vương Lý Cát
  6. Dĩnh vương →Hàm vương Lý Khản
  7. Cát vương Lý Bảo
  8. Cung Ai thái tử Lý Ỷ, ban đầu phong làm Mục vương. Bị Lưu Quý Thuật sát hại, năm Thiên Phục thứ 1 (901) truy tặng.

Gái[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện viết rằng Đường Ý Tông có 8 con gái[4], nhưng căn cứ vào Đường văn thập di quyển 34, Thôi Trí Viễn hạ phong công chúa biểu[5] thì Đường Ý Tông có ít nhất là 11 con gái.

  1. Vệ Quốc Văn Ý công chúa (mẹ đẻ là Thục phi Quách thị, ban đầu phong làm Đồng Xương công chúa, lấy Vi Bảo Hành, mất năm Hàm Thông thứ 10.
  2. An Hóa công chúa
  3. Phổ Khang công chúa
  4. Xương Nguyên công chúa (mất khoảng niên hiệu Hàm Thông).
  5. Xương Ninh công chúa (mẹ đẻ là Hàn quốc phu nhân Vương thị).
  6. Kim Hoa công chúa
  7. Nhân Thọ công chúa
  8. Vĩnh Thọ công chúa
  9. Toại Ninh công chúa (con gái thứ 11).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Ngày tháng tính theo lịch Julius, không phải theo lịch Gregory đón trước.
  2. ^ a ă Tính theo âm lịch
  3. ^ Toàn Đường văn bổ di, quyển 2 "Cố Đức phi Vương thị mộ chí minh tịnh tự"
  4. ^ Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện
  5. ^ Đường văn thập di quyển 34 Thôi Trí Viễn hạ phong công chúa biểu: “Thần mỗ ngôn: thần đắc tiến tấu viện trạng báo, phụng khứ niên thập nguyệt thập tứ nhật sắc chỉ, hoàng đế đệ thập nhất muội phong Toại Ninh công chúa. Trưởng nữ phong Đường Hưng công chúa. Thứ nữ phong Vĩnh Bình công chúa”, căn cứ "Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện", Đường Hưng công chúaVĩnh Bình công chúa là con gái của Đường Hy Tông, như thế Toại Ninh công chúa là em gái của Đường Hy Tông, con gái của Đường Ý Tông