Đường Ý Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Ý Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đường
Tại vị 13/9/859 – 15/8/873[1]
Tiền nhiệm Đường Tuyên Tông
Kế nhiệm Đường Hy Tông
Thông tin chung
Tên đầy đủ Lý Thôi
Niên hiệu Đại Trung (13/9/859-16/12/860)
Hàm Thông (17/12/860-17/12/874)[1]
Thụy hiệu Chiêu Thánh Cung Huệ Hiếu hoàng đế
Hoàng tộc Nhà Đường
Sinh 28 tháng 12 năm 833[1]
Mất 15 tháng 8 năm 873[1]
Trung Quốc
An táng Giản lăng

Đường Ý Tông (chữ Hán: 唐懿宗, bính âm: Tang Yizong, 28 tháng 12 năm 833 - 15 tháng 8 năm 873[1][2]), thụy hiệu đầy đủ Chiêu Thánh Cung Huệ Hiếu hoàng đế (昭聖恭惠孝皇帝), tên thật là Lý Ôn (李溫) hay Lý Thôi (李漼), là vị hoàng đế thứ 18 hay 20[3] của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Đường Ý Tông là con trai cả của Đường Tuyên Tông, vua thứ 17 của nhà Đường, mẫu thân là Triều thị (Nguyên Chiêu thái hậu), chào đời vào năm 833. Mặc dù mang thân phận trưởng tử nhưng Lý Ôn không được vua cha yêu quý và không được lập làm hoàng thái tử. Khi Tuyên Tông băng hà vào năm 859, hoạn quan Vương Tông Thật tiêu diệt những người chống đối và ủng hộ Lý Ôn làm vua thay vì Quỳ vương Lý Tư - hoàng tử được Tuyên Tông yêu quý. Lý Ôn đổi tên thành Lý Thôi, trở thành Ý Tông nhà Đường. Trong 14 năm tại vị, Ý Tông bỏ bê triều chính, ham mê tửu sắc, tăng thuế nhân dân để phục vụ cho những nhu cầu xa xỉ của mình, tiêu dùng kiệt quệ ngân khố được cha mình là Đường Tuyên Tông đã dày công tích luỹ, khiến lòng người oán hận. Vì thế đến cuối thời đại Ý Tông, Đại Đường lâm vào cảnh rối loạn, đói kém, dịch bệnh hoành hành kèm theo đó là sự nổi dậy của các thủ lĩnh nông dân khiến triều đại nhà Đường rơi vào tình trạng không thể cứu vãn. Năm 873, Ý Tông qua đời, ngôi hoàng đế được truyền cho người con trai mới 11 tuổi là Lý Nghiễm, tức Đường Hi Tông.

Thân thế và tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Ôn là con trai trưởng của Đường Tuyên Tông Lý Thầm, mẫu thân ông là Nguyên Chiêu hoàng thái hậu Triều thị[4]. Ông chào đời vào ngày 28 tháng 12 năm 833, tức ngày 14 tháng 11 ÂL năm Thái Hòa thứ 7 thời Đường Văn Tông - người anh em họ của ông, tại Quang để. Khi đó Tuyên Tông còn mang tước vị Quang vương. Sau khi Văn Tông qua đời, người em là Đường Vũ Tông được lập lên ngôi. Đến năm 846, Vũ Tông mất, phụ thân ông - Lý Thầm được các hoạn quan ủng hộ, đưa lên ngôi vị hoàng đế, tức là Đường Tuyên Tông[5]. Trong năm này, Tuyên Tông phong vương cho năm người con trai của mình, trong đó có Lý Ôn. Ông được nhận tước hiệu Vận vương[4][5]. Mẫu thân của ông là Triều thị chỉ được phong làm mĩ nhân, cấp bậc thứ 9 trong số các phi tần lục cung[6]. Triều thị qua đời vào những năm Đại Trung (846 - 859) và được truy phong là Chiêu dung, cấp bậc thứ 6 trong các phi tần lục cung.

Lý Ôn tuy là con trưởng nhưng không được sự yêu thương của Đường Tuyên Tông. Sau khi vua cha lên ngôi, ông chỉ được bố trí ở Thập lục trạch, nơi ở của các thân vương trong triều đình thay vì được lập làm hoàng thái tử và sống tại Đông cung; trong khi đó người em ông là Quỳ vương Lý Tư lại nhận được sự sủng ái của vua cha và được sống trong cung. Tuyên Tông từng có ý lập Lý Tư làm hoàng thái tử, nhưng vì Lý Tư không phải là con trưởng nên Tuyên Tông do dự không quyết, cuối cùng thì trong suốt 13 năm tại vị không bao lập thái tử[7].

Những năm cuối đời, Tuyên Tông tin theo chuyện thần tiên ma quỷ và mong được trường sinh bất tử. Năm 858, Tuyên Tông đã cho triệu đạo sĩ Hiên Viên Tập từ núi Phù La về kinh để giúp mình luyện đan. Đến năm 859, do lạm dụng đan dược của bọn đạo sĩ Ngu Tử ChiVương Nhạc nên Tuyên Tông trở nên nóng nảy thất thường rồi bị nổi ung nhọt ở lưng. Tháng 8 ÂL bệnh trở nặng, tể tướng và triều thần muốn vào gặp nhưng không được. Biết khó qua khỏi, Tuyên Tông quyết định chọn Lý Tư là hoàng đế kế vị, phó thác cho các đại thần Xa mật sứ Vương Quy Trường, Mã Công Nho, Tuyên Huy nam viện sự Vương Cư Phương... Ba người này bất hòa với hoạn quan Vương Mậu Huyền, người giữ chức Hữu quân Trung úy và cai quản đội quân Thần Sách. Tả trung úy Thần Sách quân Vương Tông Thật bị ba người lập mưu biếm chức đến Hoài Nam[8] làm giám quân. Ngày 7 tháng 9, Tả quân phó sứ Nguyên Thật khuyên Tông Thật nên đến yết kiến Tuyên Tông trước khi rời đi, nhưng khi Tông Thật chưa vào điện thì Tuyên Tông đã băng rồi. Tông Thật nhân đó lật ngược lại thế cờ, giả chiếu chỉ rồi sai Tề Nguyên Giản đón Vận vương Ôn vào cung. Ngày Nhâm Thìn (9 tháng 9), hoạn quan giả di chiếu lập Lý Ôn làm hoàng thái tử, đổi tên là Lý Thôi. Vương Quy Trường, Mã Công Nho, Vương Cư Phương bị gán tội rồi bị giết. Ngày Quý Tị (10 tháng 9), triều đình tuyên bố hoàng đế băng hà, tuyên di chiếu cho Lệnh Hồ Đào nhiếp trùng tể. Ngày Bính Thân (13 tháng 9), Lý Thôi tức vị, xưng là Đường Ý Tông[7].

Làm hoàng thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ kì (859 - 863)[sửa | sửa mã nguồn]

Không bao lâu sau khi lên ngôi, Ý Tông tôn bà nội của mình là hoàng thái hậu Trịnh thị làm Thái hoàng thái hậu, còn mẫu thân của ông là Triều thị đã mất thì được truy phong làm hoàng thái hậu, thụy là Nguyên Chiêu. Ông đại xá trong nước và sắc phong cho một số đại thần: Tiết độ sứ Hà Hoằng Kính ở Ngụy Bác được phong làm Trung thư lệnh, Tiết độ sứ U châu Trương Doãn là Đồng bình chương sự. Vào tháng 11 ÂL năm này, tể tướng Tiêu Nghiệp bị bãi chức, dời làm Tiết độ sứ Kinh Nam. Đầu năm 860, Ý Tông lấy Hàn Lâm học sĩ thừa chỉ, Binh bộ thị lang Đỗ Thẩm Quyền làm Đồng bình chương sự[7]. Những năm Tuyên Tông, tể tướng Lệnh Hồ Đào nắm quyền triều chính lâu ngày, áp chế đại thần, chuyên quyền đốc đoán. Vì thế không lâu sau khi lên ngôi, Ý Tông quyết định bãi chức của Lệnh Hồ Đào, sung làm Tiết độ sứ Hà Trung. Cựu tể tướng Bạch Mẫn Trung được phục chức, phong Môn Hạ thị lang, Đồng bình chương sự, nắm quyền trong triều.

Cũng vào đầu năm 860, Đại Đường và Nam Chiếu xảy ra một cuộc tranh chấp. Lúc Tuyên Tông băng, Nam Chiếu sai sứ sang viếng tang. Khi vua Nam Chiếu Phong Hựu Thích chết, con là Tù Long nối ngôi thì triều Đường lấy cớ Tù Long phạm húy vào tên của Đường Huyền Tông (Lý Long Cơ) nên không hạ chiếu sắc phong cho Tù Long. Tù Long tức giận, tự xưng là hoàng đế, đặt tên nước là Đại Lý, cải nguyên Kiến Cực và cho quân xâm phạm vào biên cương[7][9] Còn ở bên trong có cường đạo ở Chiết Đông[10]Cừu Phủ tác loạn, dẫn quân đánh phá các châu, huyện, quân triều đình nhiều lúc gặp bất lợi[7][9]. Năm 860, triều đình cử Vương Thức cầm quân đánh dẹp, đến mùa thu cùng năm thì dẹp yên được cuộc khởi nghĩa, Cừu Phủ bị bắt đưa về kinh và bị xử tử[9]. Vương Thức được thăng chức Kiểm giáo hữu tán kị thường thị, các tướng dưới quyền đều được ban thưởng.

Không lâu sau khi tái nhiệm chức tể tướng, Bạch Mẫn Trung lên triều yết kiến Ý Tông thì bỗng bị ngã và bị thương nặng. Vì thế Mẫn Trung ba lần dâng biểu lên Ý Tông xin từ chức, ban đầu Ý Tông không đồng tình. Hữu bổ khuyết Vương Phổ dâng tấu cho rằng nên để Mẫn Trung từ chức, liền bị đày làm Dương Địch lệnh. Đến tháng 9 ÂL, Mẫn Trung dâng biểu từ chức lần thứ 5, Ý Tông lại phong ông ta làm Tư đồ, Trung thư lệnh. Mãi đến năm 861, Ý Tông mới quyết định đổi Bạch Mẫn Trung làm Tiết độ sứ Phượng Tường và phong cho Đỗ Tông lên đảm nhận tứ vị. Cuối năm 860, Ý Tông truy tặng quan chức cho cố tể tướng Lý Đức Dụ là Thiếu bảo, Tả bộc xạ, tước Vệ quốc công. Không lâu sau, tể tướng Hạ Hầu Tư bị bãi, sung làm Tiết độ sứ Tây Xuyên[11].

Tháng 11 ÂL năm 860, Ý Tông đổi niên hiệu thành Hàm Thông năm thứ nhất, xá thiên hạ[9]. Trong những năm này, quân Nam Chiếu liên tục quấy phá vào vùng biên, ban đầu Nam Chiếu liên kết với người dân nổi dậy ở An Nam đô hộ phủ[12] công phá quận Giao chỉ, Đô hộ Lý Vũ phải bỏ trốn. Mãi đến giữa năm 861, triều đình phái Vương Khoan là Kinh lược sứ cùng với thổ quân của Lý Vũ hợp sức mới bình dẹp được. Nhưng ngay sau đó, Nam Chiếu lại tấn công vào Ung châu[13] và bao vây nơi này. Sang năm 862, Nam Chiếu lại tấn công vào An Nam một lần nữa. Triều đình phải ra lệnh cho Thái Tập dẫn 30000 quân tới giải nguy cho An Nam thì người Man mới tạm lui.

Đầu năm 862, Ý Tông tiếp nhận tôn hiệu từ quần thần là Duệ Văn Minh Thánh Hiếu Đức hoàng đế. Cũng trong dịp đó, tể tướng Tưởng Thân bị biếm chức, sung làm tiết độ sứ Hà Trung. Trong lúc đất nước bắt đầu hỗn loạn thì Ý Tông lại bỏ bê triều chính. Ông tôn thờ Phật giáo một cách thái quá, thường triệu sư tăng vào cung thuyết pháp, nhiều lần ghé thăm các ngôi chùa và lãng phí tiền bạc cho việc tôn thờ Đức Phật. Lại bộ thị lang Tiêu Phỏng dâng sớ can ngăn, Ý Tông khen ngợi là thẳng thắn nhưng lại không làm theo. Trong lúc đó Thái Tập ở An Nam dâng biểu xin triều đình giữ 5000 quân ở lại Giao châu phòng bị người Man tấn công, triều đình không theo. Do đó chẳng mấy lâu sau thì Nam Chiếu lại kéo đến quấy nhiễu, tấn công vào Giao châu rồi kiểm soát được vùng đất này.

Tháng 7 ÂL cùng năm, quân lính Từ châu[14] nổi dậy, đuổi Tiết độ sứ Ôn Chương. Triều đình phải cho đổi Ôn Chương làm Bân Ninh tiết độ sứ. Cũng trong năm này, Hạ Hầu Tư lại được thăng chức Tả bộc xạ, Đồng bình chương sự (tể tướng)[9]. Vào năm 863, giặc cướp tấn công vào Từ châu, giết chết quan lại nhưng sớm bị dẹp yên. Khi đó tả trung úy Dương Huyền Giá có giao tình với Dương Thu nên tiến cử ông này lên làm tể tướng, trong khi tể tướng Đỗ Thẩm bị biếm chức làm Tiết độ sứ Trấn Hải và Đỗ Tông cũng bị biếm làm Tiết độ sứ Phượng Tường.

Trung kì (864 - 869)[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 864, tiết độ sứ Chiêu Nghĩa[15] là Thẩm Tuân bị gia nô Quý Tần giết chết, triều đình cử Kinh triệu doãn Lý Tân thay thế. Trong lúc này ở An Nam, triều đình phái Khang Thừa Huấn dẫn quân chống lại Nam Chiếu nhưng không giành được thắng lợi quyết định. Trong lúc đó thì Khang Thừa Huấn đóng quân ở ngoài sợ bị nghi ngờ nên từ chức, triều đình mới cử Cao Biền sang An Nam. Mãi đến năm 866, Cao Biền mới đánh bại được người Man và giành lại quyền kiểm soát Giao châu

Cuối năm 864, tể tướng Hạ Hầu Tư bị bãi làm Tiết độ sứ Hà Đông. Tháng 3 ÂL năm 865, tể tướng Tiêu Trí hoăng, Ý Tông phong cho Cao Cừ lên thay vào vị trí này. Đầu năm 866, thái hoàng thái hậu Trịnh thị băng hà, tôn thụy là Hiếu Minh hoàng hậu; cũng trong năm đó thì Dương Thu phạm tội, bị bãi chức. Trong khi đó thì quan hệ của nhà Đường với Nam Chiếu lại ngày một xấu đi, nhất là khi Nam Chiếu nhiều lần tấn công vào trấn Tây Xuyên gần vùng biên giới. Ý Tông trong khi đó lại quyết định tách Tây Xuyên làm hai trấn là Tây Xuyên và Định Biên gồm 7 châu thuộc trấn Tây Xuyên cũ, bổ nhiệm Lý Sư Vọng làm Tiết độ sứ Định Biên và dời trụ sở của trấn này đến Tây châu, một nơi không thích hợp làm căn cứ cho việc phòng thủ. Cuối cùng thì quân Nam Chiếu tấn công ngày một dữ dội vào biên cương và triều đình đối phó một cách lúng túng và kém hiệu quả.

Vào năm 868, binh lính ở Từ châu làm loạn dưới sự chỉ huy của Bàng Huân. Khi trước vào năm 864 để đối phó với các cuộc tấn công của nước Đại Lý, Ý Tông đã hạ lệnh tuyển mộ 3000 quân sĩ ở Từ châu đến phòng thủ ở Quế châu[16] trong vòng ba năm. Nhưng khi thời hạn đã hết vào năm 868 thì Từ Tứ quan sát sứ Thôi Ngạn Tăng muốn binh sĩ ở lại phòng thủ thêm một năm nữa, khiến quân sĩ nổi giận. Họ cùng nhau nổi dậy chống lại triều đình, tôn Lương liệu phán quan Bàng Huân làm thủ lĩnh[17]. Quân nổi dậy cướp bóc khắp nơi rồi trở về Từ châu, quan lại địa phương không sao chống lại được. Sau nỗ lực hòa giải hòa giải thất bại của triều đình, quân nổi dậy trở về Từ châu vào tháng 9 ÂL năm 868 và chiếm giữ nơi này, gây sức ép buộc triều đình chấp thuận cho họ chiếm giữ. Không được chấp thuận, quân Từ châu tiến hành cướp bóc, quấy nhiễu các vùng lân cận, triều đình cũng không thể ngăn chặn. Đến tháng 10 ÂL, loạn binh chiếm được Bành Thành, Bàng Huân dâng biểu cầu phong lên triều đình, Ý Tông không chấp nhận. Do vậy, Bàng Huân chính thức tuyên bố li khai. Ý Tông bèn cử Hữu kim ngô đại tướng quân Khang Thừa Huấn làm Nghĩa Thành tiết độ sứ, Từ châu hành doanh đô chiêu thảo sứ; Thần Vũ đại tướng quân Vương Yến Quyền làm Từ châu bắc diện hành doanh chiêu thảo sứ; Vũ Lâm tướng quân Đái Khả Sư làm Từ châu nam diện hành doanh chiêu thảo sứ, kết hợp với binh lực của các bộ tộc Sa Đà, Khiết Đan, Thổ Dục Hồn ... cùng nhau tiến đánh Bàng Huân. Chiến sự kéo dài sang năm 869. Vào cuối năm này, Khang Thừa Huấn mới chiếm lại được Từ châu, Bàng Huân tử trận. Ngày Tân Sửu tháng 10 năm đó, cuộc nổi dậy bị đánh dẹp hoàn toàn[17].

Cuối năm 869, Lý Sư Vọng giết chết sứ giả Đại Lý là Dương Tù Khánh, khiến hoàng đế Tù Long tức giận, đem quân tấn công vào trấn Định Biên. Lý Sư Vọng không chống đỡ nổi, triều đình lại phải cử Đậu Bàng lên thay Sư Vọng nhưng cũng không thể đánh bại Nam Chiếu. Sau đó Nam Chiếu chiếm được nhiều vùng đất gần biên giới, bao vây Thành Đô. Cuối cùng Ý Tông bổ nhiệm Cao Biền làm Tây Xuyên tiết độ sứ, sáp nhập Định Biên vào Tây Xuyên như cũ thì quân Đại Lý mới rút lui, nhưng triều đình cũng tổn thất nặng nề về nhân mạng và của cải.

Hậu kì (870 - 873)[sửa | sửa mã nguồn]

Tết Nguyên đán năm 870, Ý Tông tiếp nhận tôn hiệu từ quần thần là Duệ Văn Anh Vũ Minh Đức Chí Nhân Đại Thánh Quảng Hiếu hoàng đế, xá thiên hạ[18]. Ít lâu sau, do sự gièm pha của tể tướng Lộ Nham cùng Hàn lâm học sĩ Vi Bảo Hành (chồng của công chúa Đồng Xương), Ý Tông đã hạ lệnh bãi chức của Khang Thừa Huấn và lưu đày ông ta đến Ân châu làm Tư mã[18]. Tể tướng Tào Xác cũng bị bãi chức, dời làm Tiết độ sứ Trấn Hải. Con rể Ý Tông là Vi Bảo Hành được phong làm tể tướng.

Tháng 8 ÂL năm 870, con gái yêu của Ý Tông là Đồng Xương công chúa lâm bệnh qua đời. Ý Tông cảm thấy đau buồn và tức giận, đã cho giết Hàn lâm y quan Hàn Tông Thiệu và hơn 20 người khác do không tận tình cứu chữa cho công chúa; thân tộc của họ bị giam vào ngục ở Kinh Triệu. Tể tướng Lưu Chiêm và Kinh Triệu[19] doãn Ôn Chương nghe tin đều dâng lời can gián, nhưng Ý Tông không nghe. Không lâu sau, Lưu Chiêm bị bãi làm Khang châu thứ sử rồi lại bị đày ra Hoan châu; và Ôn Chương bị bãi làm Chấn Chân tư mã, Ôn Chương uất ức tự vẫn. Các đại thần thân tín với Lưu Chiêm như Cao Tương, Dương Tri Chí, Ngụy Đương đều bị đày đến Lĩnh Nam do sự xúi giục của Vi Bảo Hành. Sau đó Bảo Hành còn hợp mưu với Lộ Nham hạ độc giết chết Lưu Chiêm. Đầu năm 871, triều đình tổ chức lễ tang cho Đồng Xương công chúa, truy tặng là Vệ Quốc Văn Ý công chúa. Chi phí dùng cho buổi lễ này cực kì tốn kém, thể hiện sự xa xỉ tột cùng của vua Ý Tông. Do triều đình hỏa táng công chúa và đốt theo rất nhiều vàng bạc nên nhà họ Vi cũng thừa nước đục thả câu, tranh thủ kiếm chác được rất nhiều kim ngân còn sót lại từ trong đống tro tàn. Ý Tông còn dùng quần áo, phục sức mỗi loại 120 cái để chôn theo công chúa, còn cẩm tú, châu ngọc cùng nhiều vật dụng khác cũng nhiều vô kể, đến nỗi những người đứng cách xa 120 lí cũng nhìn thấy ánh sáng từ những vật dụng này chiếu vào mắt. Ý Tông còn ban 100 hộc rượu, bánh và 40 con thác đà cho nhà họ Vi. Ông cùng Quách Thục phi (mẹ Đồng Xương) vô cùng thương nhớ công chúa nên đã hạ lệnh cho nhạc công sáng tác ra khúc thán bách niên có âm điệu ai oán thê lương, cho nghệ sĩ biểu diễn. Số nghệ sĩ là hơn 100 người, được bố trí vàng bạc châu báu làm thủ sức, dùng một tấm lụa dài 800 thất làm thảm múa. Khi những người này ca múa xong thì vàng bạc rơi đầy bao phủ khắp cung điện[18].

Sau khi công chúa qua đời, nhà họ Vi vẫn được Ý Tông đối xử rất tử tế, Vi Bảo Hành làm tể tướng và rất được tín nhiệm, cùng với Lộ Nham nắm quyền triều chính; nhưng sau đó thì hai người bất hòa với nhau, Bảo Hành tố cáo Lộ Nham trước mặt Ý Tông, khiến Nham bị biếm làm Tiết độ sứ Tây Xuyên. Từ đó một mình Vi Bảo Hành nắm quyền, chuyên quyền bất pháp, hãm hại những người không cùng phe cánh, uy chấn trong ngoài, tham ô hối lộ khiến nền chính trị ngày một xuống dốc. Đầu năm 872 Ý Tông phong cho Lưu Nghiệp cùng Triệu Ẩn lên nắm giữ tướng vị cùng với Vi Bảo Hành. Ngoài ra đối với nhà ngoại của công chúa là Quách thị, Ý Tông cũng hết sức che chở. Năm 872, em Quách Thục phi mưu đồ đại sự, đại thần Vi Ân Dụ tố giác lên triều đình. Ý Tông không những không tra xét mà còn đánh chết Ân Dụ. Sau đó mỗi khi đại thần nào tố cáo người của Quách thị thì đều bị quở mắng hay xử phạt rất nặng. Lúc này thì hoàng thất, đặc biệt là các công chúa ngày một kiêu ngạo, hống hách, dâm loạn không còn biết tới tôn ti lễ giáo gì nữa.

Tháng 3 ÂL năm 873, Ý Tông cho rằng có cốt Phật ở trong chùa Pháp Môn, bèn sai sứ nghênh đón về cung. Quần thần cực lực can gián, nói rằng xưa kia Hiến Tông hoàng đế cũng băng hà không lâu sau khi đón cốt Phật về cung[18]. Nhưng vua Ý Tông không nghe mà lại bảo

Bình sinh trẫm được thấy cốt Phật một lần rồi có chết cũng không hối hận.

Buổi lễ rước Phật được tổ chức rất xa hoa và tốn kém, đến tháng 4 ÂL thì Phật cốt được đưa vào kinh sư. Ý Tông ngự ở An Phúc môn, đích thân đến bái lạy, vừa bái vừa khóc, lại ban thưởng vàng bạc cho những phụ lão trong kinh thành từ thấy việc rước cốt Phật đời Nguyên Hòa khi trước. Rồi nghênh Phật cốt vào cấm cung, ba ngày sau mới đưa sang chùa An Quốc Sùng Hóa[18]. Ít lâu sau Vi Bảo Hành lại gièm pha và bãi chức của tể tướng khác là Vương Đạc.

Ngày 12 tháng 8 năm 873 (Mậu Dần tháng 7 ÂL), Ý Tông lâm bệnh rất nặng không thể dậy được. Do trước đó ông không lập thái tử nên các hoạn quan là Tả, hữu trung úy Lưu Hành Thâm, Hàn Văn Ước giả chiếu lệnh lập người con mới 11 tuổi của ông là Phổ vương Lý Nghiễm làm hoàng thái tử vào ngày 14. Hôm sau, 15 tháng 8 (Tân Tị tháng 7 ÂL), Ý Tông băng ở điện Hàm Ninh, thọ 41 tuổi. Di chiếu cho Vi Bảo Hành nhiếp trùng tể. Lý Nghiễm đăng cơ, đổi tên là Huyên, xưng là Đường Hi Tông[18].

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các niên hiệu của Đường Ý Tông (niên hiệu, chữ Hán, bính âm, khoảng thời gian)

  • Đại Trung (大中 Dà chōng) 8/859-10/860[20]. Niên hiệu này là sự kéo dài niên hiệu dưới thời trị vì của vua cha là Đường Tuyên Tông.
  • Hàm Thông (咸通 Xián tōng) 11/860-8/873[20]. Niên hiệu này còn được sử dụng cho tới tháng 11 năm 874 dưới thời Đường Hy Tông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Huệ An hoàng hậu Vương thị (惠安皇后王氏, ? - 866), nguyên là Quý phi, sinh ra Lý Huyên (李儇).
  2. Cung Hiến hoàng hậu Vương thị (恭憲皇后王氏, ? - 867), cung nhân, gia thế bần hàn, nhờ tư sắc mà sủng hạnh, sinh ra Lý Diệp (李晔) rồi chết do bệnh hậu sản.
  3. Thục phi Quách thị (淑妃郭氏), tư sắc tuyệt đẹp, xưng là Trường An đệ nhất mỹ nhân (長安第一美人). Nghe đến mỹ danh, Vận vương Lý Thôi liền nạp làm sủng thiếp, khi đăng cơ phong làm Thục phi (淑妃). Bà sinh ra Đồng Xương công chúa (同昌公主), và gả cho Vi Bảo Hành (韦保衡), có tin đồn bà thường qua lại với Bảo Hành để tư thông. Sau loạn Hoàng Sào, không rõ tung tích.
  4. Sở quốc phu nhân Dương thị (楚国夫人杨氏, 833 - 865), người Hoằng Nông, khi chết truy phong Quý phi.
  5. Hàn quốc phu nhân Vương thị (韩国夫人王氏, 844 - 870), người Thái Nguyên, sau khi mất được truy phong làm Đức phi (德妃), sinh ra Xương Ninh công chúa, thất lang, bát lang 3 người[21].
  6. Tiệp dư Thôi thị (婕妤崔氏).
  7. Tiệp dư Vương thị (婕妤王氏).

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

Ý Tông có 8 con trai, Huệ An hoàng hậu sinh ra Đường Hy Tông, Cung Hiến hoàng hậu sinh ra Đường Chiêu Tông, mẹ đẻ của các vương tử khác không rõ.

  1. Phổ vương → Đường Hy Tông Lý Huyên [李儇], con trai thứ 5.
  2. Thọ vương → Đường Chiêu Tông Lý Diệp [李晔], con trai thứ 7.
  3. Ngụy vương Lý Dật
  4. Lương vương Lý Đĩnh, mất năm Càn Phù thứ 6 (879).
  5. Thục vương Lý Cát
  6. Dĩnh vương →Hàm vương Lý Khản
  7. Cát vương Lý Bảo
  8. Cung Ai thái tử Lý Ỷ, ban đầu phong làm Mục vương. Bị Lưu Quý Thuật sát hại, năm Thiên Phục thứ 1 (901) truy tặng.

Gái[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện viết rằng Đường Ý Tông có 8 con gái[22], nhưng căn cứ vào Đường văn thập di quyển 34, Thôi Trí Viễn hạ phong công chúa biểu[23] thì Đường Ý Tông có ít nhất là 11 con gái.

  1. Vệ Quốc Văn Ý công chúa (mẹ đẻ là Thục phi Quách thị, ban đầu phong làm Đồng Xương công chúa, lấy Vi Bảo Hành, mất năm Hàm Thông thứ 10.
  2. An Hóa công chúa
  3. Phổ Khang công chúa
  4. Xương Nguyên công chúa (mất khoảng niên hiệu Hàm Thông).
  5. Xương Ninh công chúa (mẹ đẻ là Hàn quốc phu nhân Vương thị).
  6. Kim Hoa công chúa
  7. Nhân Thọ công chúa
  8. Vĩnh Thọ công chúa
  9. Toại Ninh công chúa (con gái thứ 11).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Ngày tháng tính theo lịch Julius, không phải theo lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Academia Sinica, Chinese-Western Calendar Converter
  3. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung TôngĐường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục, cùng với Đường Thương Đế bị các sử gia tranh cãi về việc có nên công nhận là hoàng đế hay không
  4. ^ a ă Cựu Đường thư, quyển 19 thượng.
  5. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 248.
  6. ^ Tân Đường thư, quyển 76
  7. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 249.
  8. ^ Dương Châu, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  9. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 250.
  10. ^ Thiệu Hưng, Chiết Giang, Trung Quốc hiện nay
  11. ^ Trụ sở nay thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc
  12. ^ Bắc Bộ Việt Nam hiện nay
  13. ^ Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc
  14. ^ Từ Châu, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  15. ^ Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  16. ^ Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay
  17. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 251.
  18. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 252.
  19. ^ Gần khu vực thủ đô Trường An của nhà Đường
  20. ^ a ă Tính theo âm lịch
  21. ^ Toàn Đường văn bổ di, quyển 2 "Cố Đức phi Vương thị mộ chí minh tịnh tự"
  22. ^ Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện
  23. ^ Đường văn thập di quyển 34 Thôi Trí Viễn hạ phong công chúa biểu: "Thần mỗ ngôn: thần đắc tiến tấu viện trạng báo, phụng khứ niên thập nguyệt thập tứ nhật sắc chỉ, hoàng đế đệ thập nhất muội phong Toại Ninh công chúa. Trưởng nữ phong Đường Hưng công chúa. Thứ nữ phong Vĩnh Bình công chúa", căn cứ "Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện", Đường Hưng công chúaVĩnh Bình công chúa là con gái của Đường Hy Tông, như thế Toại Ninh công chúa là em gái của Đường Hy Tông, con gái của Đường Ý Tông