Đường Thương Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Thương Đế
唐殤帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đường
Tại vị 8 tháng 7 năm 710 – 25 tháng 7 năm 710
Tiền nhiệm Đường Trung Tông
Nhiếp chính Vi hoàng hậu
Kế nhiệm Đường Duệ Tông
Thông tin chung
Phối ngẫu Lục hoàng hậu
Tên đầy đủ Lý Trọng Mậu (李重茂)
Niên hiệu Đường Long
Thụy hiệu Thương Đế[1] (殤帝)
Thiếu Đế[2] (少帝)
Miếu hiệu Không có
Hoàng tộc Nhà Đường
Thân phụ Đường Trung Tông
Sinh 695[3] hay 698[4]
Mất 5 tháng 9 năm 714[5]
Phòng Châu

Đường Thương Đế (唐殤帝) (695[3] hay 698[4]5/9/714[5]), còn gọi là Đường Thiếu Đế (唐少帝), tên thật là Lý Trọng Mậu (李重茂), là một vị hoàng đế của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc, trị vì trong một thời gian ngắn trong năm 710.

Lý Trọng Mậu là con trai út của Đường Trung Tông, được một người phi tần của vị hoàng đế này sinh ra. Vào năm 710, hoàng hậu Vi thị và con gái của bà là công chúa An Lạc (tên thật là Lý Khỏa Nhi là những người có quyền hành cực lớn, nhưng Lý Khỏa Nhi vẫn không thể thuyết phục Trung Tông phong cho mình làm hoàng thái nữ (công chúa kế vị). Trong khi đó Vi hoàng hậu lại muốn mình trở thành "hoàng đế" giống như mẹ của hoàng đế Trung Tông là Võ Tắc Thiên và các sử gia Trung Hoa cho rằng bà cùng Lý Khỏa Nhi đã đầu độc Trung Tông vào tháng 7 năm 710. Vi hậu sắp xếp để Lý Trọng Mậu, khi đó là Ôn vương, kế vị Trung Tông làm hoàng đế, hy vọng có thể kiểm soát được vị hoàng đế còn quá trẻ tuổi này trong vai trò của một thái hậu nhiếp chính.

Tuy nhiên, các kế hoạch của Vi hậu đã bị thất bại bởi sự can thiệp từ phía em gái của Trung Tông là công chúa Thái Bình và cháu gọi Trung Tông bằng bác là Lâm Truy vương Lý Long Cơ, con trai thứ ba của Lý Đán trong một vụ đảo chính cung đình chưa tới một tháng sau khi Trọng Mậu lên ngôi. Cả Vi hậu lẫn công chúa An Lạc đều bị giết trong vụ đảo chính này, và vào ngày 25 tháng 7 năm đó vị hoàng đế trẻ buộc phải thoái vị cho cha của Lý Long Cơ là An Quốc Tương vương Lý Đán, một cựu hoàng đế (tức Đường Duệ Tông). Ông bị giáng xuống làm Ôn vương như trước đó.

Lý Trọng Mậu chỉ làm hoàng đế trong vòng có 17 ngày, bị giáng xuống làm Ôn vương và bị đưa ra khỏi kinh đô Trường An. Ông chết 4 năm sau đó khi đang ở Phòng Châu làm thứ sử. Ngay sau khi ông chết, Lý Long Cơ, khi đó là hoàng đế kế vị cha mình (tức Đường Huyền Tông), đã phục hồi chức vị hoàng đế và truy tặng thụy hiệu Thương Đế cho ông, nghĩa đen là "hoàng đế chết trẻ". Lý Trọng Mậu còn được nhắc tới trong sử sách Trung Hoa như là Thiếu Đế, nghĩa đen là "hoàng đế trẻ con". Phần lớn các sử gia trước đây không coi ông là hoàng đế và không liệt kê ông trong danh sách các hoàng đế nhà Đường, mặc dù các sử gia hiện đại thì lại vẫn coi ông là hoàng đế.

Thời Võ Tắc Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Trọng Mậu sinh ra khoảng năm 695 hay năm 698 - trong thời gian khi cha của ông là Lý Hiển, một cựu hoàng đế của nhà Đường đã bị buộc phải thoái vị năm 684, bị đi đày với tước hiệu Lư Lăng vương.

Sau đó Lý Hiển được bà nội của ông là nữ hoàng Võ Tắc Thiên cho được về kinh đô Lạc Dương để tái lập làm thái tử. Mẹ ông là một phi tần của Lý Hiển, nhưng không rõ tên tuổi và nguồn gốc do sử sách không ghi lại. Năm 700, Võ Tắc Thiên phong ông làm Bắc Hải vương.

Trong lần trị vì thứ hai của Trung Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 705, Võ Tắc Thiên buộc phải thoái vị sau một vụ đảo chính cung đình và Lý Hiển được đưa lên làm hoàng đế (Đường Trung Tông). Ông phong cho Lý Trọng Mậu làm Ôn vương. Lý Trọng Mậu cũng được giao cho nhiệm vụ chỉ huy cấm quân cũng như làm thứ sử Tinh Châu (并州, ngày nay là Thái Nguyên, Sơn Tây), nhưng thực tế không tới Tinh Châu mà vẫn ở trong cung. Trong thời gian đó, ông cưới con gái họ Lục làm vợ với tước phong là Ôn vương phi.

Trị vì ngắn ngủi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 710, Trung Tông chết đột ngột - một cái chết mà các sử gia Trung Hoa cho là do Vi hậu cùng công chúa An Lạc chủ mưu gây ra, nhằm để Vi hậu có thể trở thành "hoàng đế" giống như Võ Tắc Thiên, còn Lý Khỏa Nhi có thể trở thành công chúa kế vị. Trong khi đó, mặc dù Vi hậu đưa Trọng Mậu lên làm hoàng đế, nhưng bà này vẫn nắm quyền hành trong tay trong vai trò của thái hậu nhiếp chính. Lục phi được phong làm Lục hoàng hậu.

Chưa tới một tháng sau, tin tưởng rằng Vi thái hậu có thể chống lại mình, con trai của Lý Đán là Lý Long Cơ cùng công chúa Thái Bình đã nổi loạn, giết chết Vi hậu và Lý Khỏa Nhi. Cha của Lý Long Cơ là Lý Đán, một cựu hoàng khác, đã trở thành nhiếp chính cho vị hoàng đế trẻ nhằm chuẩn bị cho bước tiếp theo là sự thoái vị của Trọng Mậu và sự lên ngôi trở lại của Lý Đán.

Khi các hoạn quan và các phi tần đến gặp vị hoàng đế trẻ để yêu cầu một trong các thủ lĩnh của vụ đảo chính cung đình, đã trở thành tể tướng ngay sau khi vụ đảo chính thành công là Lưu U Cầu soạn thảo một chỉ dụ cho phép Trọng Mậu phong cho mẹ đẻ của mình làm thái hậu, nhưng Lưu đã từ chối và gợi ý rằng hoàng đế nên là Lý Đán, và trong khi Lý Long Cơ công khai nói với Lưu là không nên nói thêm gì nữa thì anh trai của Lý Long Cơ là Tống vương Lý Thành Khí cùng công chúa Thái Bình đã thuyết phục Lý Đán nên kế vị. Vài ngày sau, Lý Đán đồng ý và lên ngôi, thay thế cho Trọng Mậu, người khi đó vẫn còn ngồi trên ngai vàng trong buổi lễ lên ngôi và bị công chúa Thái Bình túm cổ áo để đẩy ra khỏi ngai vàng. Sau đó Duệ Tông giáng ông xuống làm Ôn vương.

Sau trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trọng Mậu bị đuổi ra khỏi ngai vàng, ban đầu ông vẫn ở trong cung để ngăn không cho ai lợi dụng mình làm đảo chính. Năm 711, ông được phong làm Tương vương và đảm nhận chức thứ sử Tập Châu (集州, ngày nay là Ba Trung, Tứ Xuyên). 500 cấm quân được giao nhiệm vụ kèm ông để bảo vệ, thực chất là để giám sát. Năm 714, khi Lý Long Cơ đã lên ngôi (tức Đường Huyền Tông), Lý Trọng Mậu chết. Lý Long Cơ đã phục hồi địa vị hoàng đế và truy tặng thụy hiệu cho ông là Thương Đế, để tang 3 ngày, nhưng không phải là 3 năm như đối với các hoàng đế khác. Ông dường như là không có con, do trong khi anh trai của ông là Tiết Mẫn thái tử Lý Trọng Tuấn chết năm 707 đã được liệt kê con cái thì ông lại không[6].

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường Long (唐隆) 710

Thông tin cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo và ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thụy hiệu do Đường Huyền Tông đặt sau khi ông chết. Nghĩa đen là "chết trẻ".
  2. ^ Thụy hiệu được một số sử gia dùng. Nghĩa đen là "hoàng đế trẻ con".
  3. ^ a ă Năm rút ra từ tuổi khi lên ngôi theo như Đường thư, biên soạn năm 941-945, và theo Tư trị thông giám, biên soạn năm 1065-1084.
  4. ^ a ă Năm rút ra từ tuổi khi chết theo Đường thư và theo Đường hội yếu, được in năm 961.
  5. ^ a ă 兩千年中西曆轉換
  6. ^ Tân Đường thư, quyển 70, phần 2.