Đường Thuận Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Thuận Tông
Sinh và mất: 761[1]11/2/806[1][2]
Họ: Lý (李)
Tên: Tụng (誦)
Thời gian trị vì: 28/2/805[1][3]31/8/805[1][4]
Triều: Đường
Niên hiệu: Vĩnh Trinh (永貞)[5]
Ngày theo niên hiệu: 1/9/805[1][6]25/1/806[1][7]
Miếu hiệu: Thuận Tông (順宗)
Thụy hiệu:
(đầy đủ) 
Chí đức Đại thánh Đại an Hiếu hoàng đế
(至德大聖大安孝皇帝)

Đường Thuận Tông (chữ Hán: 唐順宗, bính âm: Tang Shùnzōng, 761 - 11 tháng 2 năm 806[8]), thụy hiệu đầy đủ là Chí Đức Hoằng Đạo Đại Thánh Đại An Hiếu hoàng đế (至德大聖大安孝丘帝), tên thật là Lý Tụng (Trung văn giản thể: 李诵, phồn thể: 李誦, bính âm: Lǐ Sòng) là vị hoàng đế thứ 11 hay 13[9] của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa và cũng là người có thời gian tại vị ngắn nhất trong số các vị vua nhà Đường (nếu không kể Đường Thương Đế cùng các hoàng đế không được sử sách thừa nhận như Lý Thừa Hoành, Lý Uân, Lý Dụ...).

Lý Tụng chào đời vào tháng 1 ÂL (không rõ ngày) năm Thượng Nguyên thứ hai thời tằng tổ Đường Túc Tông (761) tại đại nội đông cung, thành Trường An. Ông là con trai trưởng của Đường Đức Tông Lý Thích, mẹ là Chiêu Đức hoàng hậu Vương thị. Khi phụ thân của ông là Đường Đức Tông đăng cơ (779), ông được phong tước vị Tuyên vương rồi được sách lập làm hoàng thái tử và giữ ngôi vị này hơn 20 năm. Ông được ghi nhận là người nhân đức, chăm học, biết giữ lễ tiết với sư phó, rất được Đức Tông yêu quý. Thời vua cha tại vị, ông được tham gia vào công việc của triều chính.

Không may, tháng 9 ÂL năm 804, Thuận Tông bị bệnh đột ngột và bị liệt nửa người, không thể nói được. Tuy nhiên khi vua cha qua đời, Thuận Tông vẫn được đưa lên ngôi vào ngày 28 tháng 2 năm 805 và đề xướng cải cách nhằm xây dựng lại đất nước, trọng dụng các nhân tài nhân Vương Bí, Vương Thúc Văn, Vi Chấp Nghị, Hàn Diệp, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích..., bãi bỏ những chính sách hủ bại thời Đức Tông, biếm truất tham quan, phế trừ cung thị và có ý định hạn chế quyền lực của hoạn quan, sử xưng là Vĩnh Trinh duy tân. Nhưng cuối cùng cải cách thất bại, Thuận Tông bị hoạn quan ép buộc nhường ngôi cho thái tử Lý Thuần, tức Đường Hiến Tông, cuộc cải cách kể như tan thành mây khói. Ngày 11 tháng 2, Thuận Tông bị hoạn quan độc sát ở điện Hàm Ninh, thọ 46 tuổi.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tụng chào đời vào tháng giêng Âl năm 761 dưới thời cụ nội Đường Túc Tông Lý Hanh tại đông nội Trường An. Khi đó, ông nội ông là Đường Đại Tông Lý Dự đang là hoàng thái tử và cha ông, Đường Đức Tông Lý Thích giữ tước vị Phụng Tiết quận vương. Mẫu thân của ông là Vương phu nhân, sau này được phong làm hoàng hậu.

Dưới thời Đường Đại Tông trị vì (762 - 779, song không rõ năm nào), Lý Tụng được lập làm Tuyên Thành quận vương[10]. Năm 779, Đại Tông mất, Đức Tông lên ngôi[11]. Tháng 6 ÂL cùng năm, Lý Tụng được phong tước vị Tuyên vương, sang ngày Đinh Mão tháng 1 ÂL năm Kiến Trung nguyên niên (780), ông được lập làm hoàng thái tử.

Lý Tụng được cho là người khoan dung và nhân ái, coi trọng việc nghiên cứu nghệ thuật và giỏi về thư pháp. Đối với các bậc sư phó từng dạy học cho mình, Lý Tụng tỏ ra kính trọng, khi gặp là cúi chào bất chấp thân phận thái tử. Sang năm 781, Lý Tụng kết hôn với biểu cô Tiêu thị, con gái của bà cô ruột mình là Cáo Quốc công chúa (con gái Đường Túc Tông) cùng chồng là Tiêu Thăng, sau đó Tiêu thị được phong làm thái tử phi[12].

Những năm đầu thời Đức Tông chứng kiến sự nổi loạn của các phiên trấn. Sau khi bốn trấn ở Hà Bắc tuyên bố li khai (781) thì đến cuối năm 783, quân đội Kinh Nguyên[13] do Diêu Lệnh Ngôn cầm đầu nhân dịp được lệnh đánh dẹp bốn trấn cũng đã nổi loạn và tấn công vào cung điện. Đường Đức Tông không có cách nào chống lại, đành phải bỏ Trường An chạy về Phụng Thiên[14]. Lý Tụng cùng các hoàng tử, công chúa khác và một số thành viên trong tông thất cũng chạy theo Đức Tông đến Phụng Thiên. Sau đó, quân Kinh Nguyên đưa Chu Thử lên làm hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Tần[15]. Đầu năm 784, Chu Thử xua quân tấn công Phụng Thiên, Lý Tụng tham gia vào việc chống giặc. Ông đích thân lên thành đốc thúc binh sĩ cự chiến khiến lòng quân phấn khích và tham gia cứu giúp những binh sĩ bị thương[16]. Sau này, Chu Thử không thể chiếm được Phụng Thiên rồi bị lực lượng của Lý Hoài Quang đẩy lui.

Sau khi biến loạn chấm dứt, Lý Tụng theo Đức Tông trở về Trường An (3 tháng 8 năm 784). Năm 787, một biến cố xảy ra làm đe dọa đến vị trí thái tử của Lý Tụng khi tể tướng Trương Diên Thưởng phát hiện đại thần Lý Thăng có qua lại mật thiết với công chúa Cáo Quốc, mẹ vợ của Lý Tụng (Trương Diên Thưởng và cha Lý Thăng là Lý Thúc Minh vốn có tư oán với nhau). Đức Tông tỏ ý nghi ngờ Cáo Quốc công chúa có mưu đồ khác. Ban đầu, theo lời khuyên của Lý Bí, Đức Tông không tiến hành điều tra vì việc này có thể gây bất lợi cho thái tử Tụng, chỉ đẩy Lý Thăng ra khỏi triều đình[17]. Nhưng đến mùa thu cùng năm, lại có người tố cáo Cáo Quốc công chúa không chỉ qua lại mật thiết với Lý Thăng mà còn với nhiều đại thần khác như Tiêu Đỉnh, Lý Vạn, Vi Khác, hơn thế còn sử dụng bùa chú để trù ếm Đức Tông. Đức Tông cả giận, cho bắt giam Cáo Quốc công chúa và từ đó cũng đối xử lạnh nhạt với Lý Tụng (do Đức Tông cho rằng việc làm của công chúa là để đưa Lý Tụng - con rể bà ta lên ngôi sớm hơn). Đức Tông muốn phế Thái tử phi Tiêu thị, lập Vương lương đệ làm thái tử phi, nhưng Lý Tụng ra sức cầu xin, Đức Tông vẫn không nguôi giận mà còn có ý muốn phế Lý Tụng để đưa Thư vương Lý Nghị làm hoàng đế. Tuy nhiên sau cùng đại thần Lý Bí đứng ra nói lí lẽ với Đức Tông nên Đức Tông bỏ ý định này.[18] Sau này Cáo Quốc công chúa qua đời và Lý Tụng bị bệnh, Đức Tông bèn giết chết Tiêu phi[19]

Năm 795, tể tướng Lục Chí do bị cận thần Bùi Diên Linh gièm pha nên bị giáng chức và bị lưu đày. Học sĩ Dương Thành dẫn đầu một số đại thần dâng biểu tâu rằng Lục Chí vô tội làm Đức Tông giận luôn cả các đại thần này và muốn xử phạt luôn, tuy nhiên Lý Tụng đứng ra cầu xin cho họ, cuối cùng Đức Tông không xử phạt họ[20]. Do quá tin tưởng Bùi Diên Linh cùng Vi Cừ Mưu, Đức Tông có ý định phong chúng làm tể tướng, nhưng do Lý Tụng một mực can ngăn nên cuối cùng Đức Tông không làm như vậy.

Cuối thời Đức Tông, Lý Tụng kết giao cùng Hàn Lâm đãi chiếu Vương Bái, một người giỏi về thư pháp, cùng Vương Thúc Văn, người giỏi về chơi cờ. Hai người thường được triệu vào đông cung và thân thiết với Lý Tụng. Vương Thúc Văn thường kể về sự khổ ải của bá tánh trong dân gian với Lý Tụng. Có lúc Lý Tụng mời nhiều đại thần học sĩ vào đông cung để bàn việc thì Vương Thúc Văn lại nói với ông rằng Đức Tông vẫn còn tại vị mà thấy Lý Tụng kết giao hiền sĩ sẽ nghĩ ông đang thu phục nhân tâm, có ý khác. Lý Tụng lo sợ và nhận ra sai lầm của mình, sau đó lại càng tin tưởng Thúc Văn hơn. Thúc Văn kết giao với các đại thần có danh tiếng như Lục Thuần, Lã Ôn, Lý Cảnh Kiệm, Hàn Diệp, Hàn Thái, Trần Gián, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích và giới thiệu với Lý Tụng. Các tiết độ sứ bên ngoài nếu ai dâng vàng bạc lên Thúc Văn đều sẽ được Thúc Văn tiến cử với thái tử. Lý Tụng dần thiết lập bộ máy cai trị trong tương lai sau khi mình lên ngôi.

Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Không may vào mùa đông năm 804, Lý Tụng bị bệnh đột quỵ sau đó trở nên liệt nửa người và không thể nói[8]. Sau đó Đức Tông cũng mắc bệnh, chư vương đều đến thỉnh an, duy lại không thấy Lý Tụng do ông đã bị liệt; do vậy Đức Tông sinh ra đau buồn làm bệnh trở nên trầm trọng hơn. Ngày 25 tháng 2 năm 805 (Quý Tị tháng 1 ÂL), Đức Tông băng. Các đại thần Trịnh NhânVệ Thứ Công được triệu vào cung thảo di chiếu. Ban đầu, các hoạn quan cho rằng thái tử có bệnh không thể nối ngôi, nhưng Vệ Thứ Công bảo thái tử tuy có bệnh nhưng là đích trưởng, lòng người đều hướng về, vả lại cũng không đến nỗi hoàn toàn bất lực. Nếu lập người khác e sẽ sinh loạn. Do đó Lý Tụng - đang bị liệt nửa người và không thể nói - được đưa lên ngôi. Ngày Giáp Ngọ (26), tuyên di chiếu ở điện Tuyên Chánh, Lý Tụng gặp mặt trăm quan. Ngày Bính Thân (28 tháng 2), Lý Tụng tức vị ở điện Thái Cức, tức là Đường Thuận Tông[21].

Thuận Tông không thể nói được, do đó không thể giải quyết tất cả công việc triều chính. Mỗi lần lâm triều đều phải ngồi sau rèm hoạn quan Lý Trung Ngôn cùng Ngưu chiêu dung đứng cạnh. Mỗi khi bách quan tâu việc gì thì Lý Trung bẩm lại với Thuận Tông. Trước đây lúc Đức Tông sắp mất, Vương Bái vào cung, xưng chiếu cho Vương Thúc Văn làm người quyết định mọi việc. Khi Thuận Tông lên ngôi thì khi có biểu dâng lên, quyền phê duyệt thuộc về Thúc Văn, Thúc Văn đưa cho Lý Trung Ngôn, sau đó Trung Ngôn thảo chiếu thư nhân danh Thuận Tông mà đưa xuống quần thần, nói là ý của Thuận Tông, bên ngoài không ai biết cả. Đến ngày Quý Mão tháng 2 ÂL, Thuận Tông mới ra gặp bách quan ở Tử Thần môn. Vương Thúc Văn và một số đại thần khác như Hàn Thái, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích là những người thực sự nắm quyền, các quyết sách trong triều đều là ý của họ. Thúc Văn lại giao kết với Lý Trung Ngôn và Ngưu chiêu dung để tạo thêm thế lực.

Sang tháng 3, phong cho Vi Chấp Nghị làm Thượng thư tả thừa, Đồng bình chương sự (tể tướng). Quyết định nhân sự này thực chất là ý của Vương Thúc Văn (Vi Chấp Nghị là thân tín của Thúc Văn). Trong thời gian đó, triều đình quyết định bãi bỏ một số chính sách hủ bại thời Đức Tông, bắt đầu Vĩnh Trinh duy tân

  1. Miễn thuế còn nợ cho cả nước
  2. Bãi chính sách độc quyền về muối và sắt của triều đình
  3. Nhóm đại thần Ngũ phường tiểu nhân bị bãi chức
  4. Bỏ lệ nhận đồ cống vàng bạc từ các phiên trấn bên ngoài
  5. Các đại thần bị đuổi thời Đức Tông một số được triệu về, trong đó có Lục Chí, Hàn Cao, Dương Thành, Vi Cao...

Tuy nhiên việc Vương Thúc Văn chuyên quyền khiến cho một số hoạn quan có thế lực dưới thời Đức Tông oán ghét. Trong số hoạn quan đó có Câu Văn Trân, Lưu Quang Kì, Tiết Doanh Trân... dâng sớ xin cho triệu Vệ Thứ Công, Lý Trình, Vương Nhai vào điện thảo chiếu lập thái tử. Lúc đó Ngưu chiêu dung oán ghét con trưởng của Thuận Tông là Quảng Lăng vương Lý Thuần (淳), đến đây, các đại thần đưa sẵn tờ chiếu có chữ: lập đích dĩ trưởng trình lên, Thuận Tông gật đầu. Ngày Quý Tị (26 tháng 5), Lý Thuần được phong làm thái tử, đổi tên là Thuần (純).

Đại thần Giả Đam thấy Vương Thúc Văn chuyên quyền nên không muốn vào triều nữa. Trong tháng 5, các tể tướng họp ở trung thư, thì Thúc Văn bước vào đòi nghị sự (mặc dù không là tể tướng). Sau đó, ngày Nhâm Dần tháng 4 ÂL, Đức Tông phong vương cho các hoàng đệ: Ngạc làm Khâm vương, Thành làm Trân vương. Các hoàng tử Kiến Khang quận vương Hoán làm Đàm vương, đổi tên là Kính; Dương Xuyên quận vương Miện làm Quân vương, đổi tên là Vĩ; Lâm Hoài quận vương Tuân làm Tự vương, đổi tên là Túng; Hoằng Nông vương Mỗi phong làm Cử vương, đổi tên là Thư; Hán Đông quận vương Vịnh phong làm Mật vương, đổi tên là Trù; Tấn Lăng quận vương Đê làm Tuân vương, đổi tên là Tổng; Cao Bình quận vương Tự phong làm Thiệu vương, đổi tên là Ước; Vân An quận vương Tư phong làm Tống vương, đổi tên là Kết; Tuyên Thành quận vương Hoài phong làm Tập vương, đổi tên là Tương; Đức Dương quận vương Tư phong làm Kí vương, Hà Đông quận vương Ấp phong làm Hòa vương, đổi tên là Ỷ; Huyến làm Hành vương; Huân làm Hội vương; Quán làm Phúc vương; Hoành Nam làm Phủ vương, Cổn làm Nhạc vương, Thân làm Viên vương; Luân làm Quế vương... Sau Thuận Tông lên điện tuyên sắc lập thái tử, trung ngoài đều vui vẻ, nhưng Thúc Văn bắt đầu lo lắng. Sau đó, Câu Văn Trân thắng thế trong cuộc đối đầu chính trị, bãi danh hiệu Hàn Lâm học sĩ của Thúc Văn, chỉ phong thêm chức Hộ bộ thị lang; thế lực của Vương Thúc Văn giảm dần. Sau đó triều đình gia phong Chương Nghĩa tiết độ sứ Ngô Thiếu Thành làm đồng bình chương sự, nắm quyền tể tướng trên danh nghĩa.

Trong khi đó đại thần Hoàng Thường đề xuất Vi Chấp Nghị suất quần thần thỉnh cầu thái tử giám quốc vì bệnh tình của Thuận Tông ngày một nặng nhưng Vi Chấp Nghị không theo. Vi Chấp Nghị sợ thái tử có ý chống lại mình, bèn bổ dụng Cấp sự trung Lục Chất làm Đông cung thị độc để dò xét thái tử. Tuy nhiên Lục Chất nhanh chóng bị Lý Thuần đuổi đi.

Trước tình thế bất lợi, tháng 5 ÂL, Vương Thúc Văn lập kế hoạch nắm giữ quyền kiểm soát đội quân Thần Sách do các hoạn quan cai quản bằng việc bổ dụng Phạm Hi Triều làm tướng chỉ huy lực lượng Thần Sách quân ở khu vực phía tây Trường An, Hàn Thái làm Hành quân tư mã để dần nắm được lực lượng quân Thần Sách. Tuy nhiên đám hoạn quan đã đối phó bằng cách ra lệnh cho quân đội Thần Sách không tuân theo mệnh lệnh của Phạm Hi Triều và cũng không tiếp đón, do vậy Phạm Hi TriềuHàn Thái phải trở về Trường An. Trong lúc đó giữa Vương Thúc Văn và tể tướng Vi Chấp Nghị cũng nảy sinh bất đồng ý kiến rồi hai người trở nên ghét nhau. Thế lực của Vương Thúc Văn ngày càng suy yếu khi ông bị mất lòng các Tiết độ sứ địa phương. Mở đầu là Tiết độ sứ Tây Xuyên[22] dâng biểu lên thái tử Lý Thuần với lời lẽ khắc nghiệt, tố cáo Thúc Văn chuyên quyền làm suy bại triều cương. Tiếp đó Tiết độ sứ Kinh Nam Bùi Quân, Tiết độ sứ Hà Đông Sử Nghiêm Thụ cũng có cùng ý kiến với Vi Cao dâng biểu tố cáo Vương Thúc Văn. Phe đảng của Thúc Văn chấn động và lo sợ.

Tháng 7, mẹ của Vương Thúc Văn bị bệnh nặng[23], đáng lý Thúc Văn phải xin nghỉ về chăm sóc, nhưng lại lấy cớ phải cống hiến cho triều đình mà thoái thác. Câu Văn Trân đưa lời chì chiết, nói Thúc Văn bất hiếu. Thúc Văn không nói lại được, đến ngày 19 tháng 7 (Đinh Tị) thì đành xin nghỉ chức về nhà phụng dưỡng mẹ. Từ sau khi Thúc Văn đi khỏi, Vi Chấp Nghị bắt đầu bỏ những chính sách của Vương Thúc Văn khiến Thúc Văn rất giận và dự định trở lại nắm quyền, giết chết Vi Chấp Nghị nhưng không thể thực hiện. Vương Bái trong triều nhiều lần thỉnh cầu cho Vương Thúc Văn trở về triều và phong làm tể tướng, nhưng trước sau không được hồi đáp. Vương Bái sợ bị hại cũng lấy cớ bị đột quỵ không thể ra ngoài và xin được từ chức. Phe đảng của Thúc Văn mất quyền lực, cuộc Vĩnh Trinh duy tân cũng sắp thất bại.

Lúc này, bệnh tình của Thuận Tông ngày một nặng, không thể ra triều được nữa. Ngày 26 tháng 8 (Ất Mùi), hoạn quan ép ông xuống chiếu phong Viên Tư và Đỗ Hoàng Thường làm đồng tể tướng, cho thái tử nhiếp chính, thay mặt Thuận Tông yết kiến bá quan ở triều đường. Ngày hôm sau, thái tử Lý Thuần đến điện Lân Đức nghe bách quan tấu sự.

Ngày 31 tháng 8 (Canh Tí), hoạn quan ép Thuận Tông xuống chiếu nhường ngôi cho Lý Thuần. Lý Thuần nối ngôi, tức là Đường Hiến Tông. Thuận Tông xưng là thái thượng hoàng, mẹ của Hiến Tông là Lương đệ Vương thị được phong làm Thái thượng hoàng hậu, mệnh lệnh của ông được gọi là cáo.[21]. Hôm sau, ngày 1 tháng 9 (Tân Sửu), Thượng hoàng chuyển sang ở cung Hưng Khánh. Sau đó Vương Thúc Văn bị triều đình hạ lệnh giết chết.

Làm thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 9 năm 805 (Ất Tị), Đường Hiến Tông tức vị ở điện Tuyên Chánh. Ngày hôm sau 6 tháng 9 (Bính Ngọ), công chúa Thăng Bình dâng thượng hoàng 50 tì nữ, nhưng Hiến Tông tự ý cho rằng thượng hoàng bị bệnh không thể nhận rồi trả về. Các đại thần trong Duy Tân Vĩnh Trinh dần bị bãi chức.

Cuối năm 805, bách quan thỉnh thượng hoàng tôn hiệu là Ứng Can Thánh Thọ thái thượng hoàng và Hiến Tông là Văn Vũ Đại Thánh Hiếu Đức hoàng đế. Cùng lúc, có ẩn sĩ La Lệnh Tắc từ Trường An đến Phổ Nhuận[24] và nói với Thứ sử Tân châu Lưu Yong rằng La Lệnh Tắc nhận cáo của thượng hoàng yêu cầu phế truất Hiến Tông lập vua khác. Nhưng không ai nghe theo chỉ dụ này, Lệnh Tắc bị đưa về Trường An và bị đánh đến chết.

Ngày 5 tháng 2 năm 806 (Bính Dần tháng 1 ÂL năm Nguyên Hòa nguyên niên thời Hiến Tông), thượng suất quần thần đến cung Hưng Khánh dâng tôn hiệu cho thượng hoàng[25]. Sáu hôm sau, 11 tháng 2 (Bính Thân), thượng hoàng mất ở cung Hưng Khánh, thọ 46 tuổi. Có thuyết cho rằng ông bị hoạn quan đầu độc giết hại.

Ngày Ất Mão tháng 6 ÂL, Hiến Tông suất quần thần truy tôn đại hành thái thượng hoàng đế thụy là Chí Đức Đại Thánh Đại An Hiếu hoàng đế. Ngày Nhâm Thân tháng 7 ÂL năm 806, thi hài của thượng hoàng được táng ở Phong Lăng, tôn miếu hiệu Thuận Tông.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Đường thư dẫn lời của sử quan Hàn Dũ đánh giá về Đường Thuận Tông, tạm dịch như sau:

Khi Thuận Tông còn là thái tử đã tỏ ra khoan dung nhân ái, lưu tâm nghệ thuật, giỏi thư pháp. Đức Tông mỗi lần ban thi chế cho đại thần, phiên trấn đều ra lệnh cho ông viết giúp. Tính tình ông khoan hòa nhân ái, kính rọng sư phó, gặp sư phó thì trước tiên đều cúi chào. Lúc theo triều đình về Phụng Thiên, gặp giặc Thử bức bách, thái tử dẫn đầu quân cấm lữ mà lên thành cự chiến, tự mình đốc thúc tướng sĩ làm lòng quân phấn kích. Lúc Đức Tông mất niềm tin của tể tướng, sủng hạnh tả hữu như Bùi Diên Linh, Lý Tề Vận, Vi Cừ Mưu toàn là những kẻ gian trá, bức bách đại thần Lục Chí, Trường Bàng Hối mà không ai dám lên tiếng chỉ trích, thái tử nói lí trước mặt khiến Đức Tông không dùng bọn Diên Linh, Cừ Mưu làm tể tướng. Lúc dự yến trong Trương Thủy Hi thải hạm, cung nhân trạo ca, chúng nhạc gian phát, Đức Tông rất thíchh thú. Thái tử dẫn lời của thi nhân: Hảo nhạc vô hoang để đối lại. Mỗi lần tấu sự ông bao giờ ưu ái hoạn quan phò tá. Làm thái tử 20 năm, thiên hạ đều cảm nhận được ân đức. Tiếc thay trước khi lên ngôi lại bệnh nặng, để cập tập lộng quyền, nhưng lại có thể truyền chánh cho nguyên lương, làm đời sau tiếp tục thịnh vươngg. Hiền thay!

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trang Hiến hoàng hậu Vương thị (莊憲皇后王氏, 753 - 816), người Kim Sơn, cha là Vương Tử Nhan (王子颜), nguyên là Lương đệ (良娣). Thái tử phi Tiêu thị do phạm lỗi bị phế, Vương lương đệ thăng làm Thái tử phi, sau khi Thuận Tông lên ngôi lập làm Hoàng hậu.
  2. Thái tử phi Tiêu thị (太子妃萧氏), con gái của Cáo Quốc công chúa (郜国公主), con gái Đường Túc Tông, và phò mã Tiêu Thăng (萧升). Cáo Quốc công chúa bị vu cáo dùng thuật Vu Cổ (巫蛊), liên lụy tới Thái tử phi Tiêu thị, khiến Tiêu thị bị phế truất. Sau đó, Tiêu thị bị Đường Đức Tông sai giết chết lúc Lý Tụng lâm bệnh, thụy là Huệ (惠).
  3. Đổng Lương viên (董良媛), sau khi Thuận Tông nhường ngôi được lập làm Thái thượng hoàng Đức phi (太上皇德妃).
  4. Triệu Chiêu nghi (趙昭儀), sinh Lý Kết, sau phong làm Thái phi.
  5. Vương Chiêu nghi (王昭儀), sinh Lý Tống, Lý Ước, Lý Cổn, sau phong làm Thái phi.
  6. Thôi sung nghi (崔充仪).
  7. Dương sung nghi (杨充仪).
  8. Vương chiêu viên (王昭媛).
  9. Vương chiêu dung (王昭容).
  10. Ngưu chiêu dung (牛昭容).
  11. Trương mĩ nhân (张美人)
  12. Trương chiêu huấn (张昭训), sinh Lý Kinh, sau phong làm Thái phi.
  13. Diêm chiêu huấn (阎昭训), sinh Lý Huyến, sau phong làm Thái phi.
  14. Thôi chiêu huấn (崔昭训), sinh Tầm Dương công chúa và Lâm Nhữ công chúa, sau phong làm Thái phi.
  15. Hứa mỹ nhân (许美人).
  16. Doãn tài nhân (尹才人).
  17. Đoàn tài nhân (段才人).
  18. Trần thị (陈氏), sinh Văn An công chúa.
  • Con trai:Đường Thuận Tông có 27 người con trai[26]
  1. Quảng Lăng quận vương - Hoàng thái tử - Đường Hiến Tông Lý Thuần
  2. Kiến Khang quận vương - Đàm vương Lý Kinh (? - 834)
  3. Dương Xuyên quận vương - Quân vương Lý Vĩ
  4. Lâm Hoài quận vương - Tự vương Lý Túng
  5. Hoằng Nông quận vương - Cử vương Lý Thư (? - 834)
  6. Hán Đông quận vương - Mật vương Lý Trù (? - 806)
  7. Tấn Lăng quận vương - Tuân vương Lý Tống (? - 807)
  8. Cao Bình quận vương - Thiệu vương Lý Ước
  9. Vân An quận vương - Tống vương Lý Kết (? - 822)
  10. Tuyên Thành quận vương - Tập vương Lý Tương (? - 835)
  11. Đức Dương quận vương - Kí vương Lý Tư (? - 833)
  12. Hà Đông quận vương - Hòa vương Lý Ỷ (? - 861)
  13. Hành vương Lý Huyến (? - 826)
  14. Khâm vương Lý Tích
  15. Hội vương Lý Huân (? - 810)
  16. Phúc vương Lý Quán
  17. Trân vương Lý Thiện
  18. Phủ vương Lý Hoành
  19. Nhạc vương Lý Cổn
  20. Viên vương Lý Thân
  21. Quế vương Lý Luân
  22. Dực vương Lý Xước (? - 822)
  23. Kì vương Lý Tập
  • Con gái: Tân Đường thư cho rằng Thuận Tông có ba con gái, nhưng theo tài liệu trên mộ của công chúa Thiệu Dương thì số công chúa ít nhất là 23
  1. Đức Dương công chúa - Hán Dương công chúa Lý Sướng (mẹ là Trang Hiến hoàng hậu, lấy Quách Thung, mất năm Khai Thành thứ năm)
  2. Hàm An công chúa - Phổ An công chúa - Lương quốc Cung Tĩnh công chúa (mẹ là Trang Hiến, lấy Trịnh Hà)
  3. Tín An công chúa - Đông Dương công chúa (lấy Thôi Kỉ)
  4. Vũ Lăng quận chúa - Tây Hà công chúa (lấy Trầm, sau lấy Quách Tiên, mất vào những năm Hàm Thông
  5. Tấn Khang huyện chúa - Tương Dương công chúa (lấy Lương Khắc Lễ)
  6. Thanh Nguyên quận chúa - Dương An công chúa - Quắc Quốc công chúa (lấy Vương Thừa Hệ)
  7. Bộc Dương công chúa - Bộc Dương đại trưởng công chúa
  8. Văn An công chúa (công chúa thứ 17)
  9. Tầm Dương công chúa, con Thôi chiêu nghi, sau xuất gia làm đạo sĩ (công chúa thứ 18)
  10. Lâm Nhữ công chúa (công chúa thứ 21, mất sớm)
  11. Bình Ân công chúa (công chúa thứ 22, mất sớm)
  12. Thiệu Dương công chúa (23, mất sớm)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Đường thư, quyển 14.
  2. ^ www.sinica.edu.tw
  3. ^ www.sinica.edu.tw
  4. ^ www.sinica.edu.tw
  5. ^ Thuận Tông thực tế không đặt niên hiệu Vĩnh Trinh cho tới tận khi ông nhường ngôi cho hoàng đế Hiến Tông, nhưng niên hiệu Vĩnh Trinh thường được gắn với ông hơn là với Hiến Tông.
  6. ^ www.sinica.edu.tw
  7. ^ www.sinica.edu.tw
  8. ^ a ă Cựu Đường thư, quyển 14
  9. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung TôngĐường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục và nhiều sử sách không công nhận Đường Thương Đế
  10. ^ Tân Đường thư, quyển 7
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 225
  12. ^ Tư trị thông giám, quyển 227
  13. ^ Trụ sở nay thuộc Bình Lương, Cam Túc, Trung Quốc
  14. ^ Hàm Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  15. ^ Cựu Đường thư, quyển 200 hạ
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 229
  17. ^ Tư trị thông giám, quyển 232
  18. ^ Tư trị thông giám, quyển 233
  19. ^ Tân Đường thư, quyển 77
  20. ^ Tư trị thông giám, quyển 235
  21. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 236
  22. ^ Trụ sở thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên hiện nay
  23. ^ Tân Đường thư, quyển 168
  24. ^ Bảo Kê, Thiểm Tây hiện nay
  25. ^ Tư trị thông giám, quyển 237
  26. ^ Ngoài ra còn Văn Kính thái tử Lý Nguyên bị Đức Tông lấy làm con