Đường Thuận Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Thuận Tông
Sinh và mất: 761[1]11/2/806[1][2]
Họ: Lý (李)
Tên: Tụng (誦)
Thời gian trị vì: 28/2/805[1][3]31/8/805[1][4]
Triều: Đường
Niên hiệu: Vĩnh Trinh (永貞)[5]
Ngày theo niên hiệu: 1/9/805[1][6]25/1/806[1][7]
Miếu hiệu: Thuận Tông (順宗)
Thụy hiệu:
(đầy đủ) 
Chí đức Đại thánh Đại an Hiếu hoàng đế
(至德大聖大安孝皇帝)

Tiền nhiệm : Đường Đức Tông Đường Thuận Tông (761-806) (chữ Hán: 唐順宗, bính âm: Shùn zōng), tên thật là Lý Tụng (giản thể: 李诵, phồn thể: 李誦, bính âm: Lǐ Sòng) là hoàng đế thứ 10 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Ông được phong làm Thái Tử năm 779 và lên ngôi hoàng đế năm 805 và cai trị gần 1 năm. Thuận Tông là con trai cả của Đường Đức Tông.

Ông là một vị vua chăm lo triều chính và dùng các quan giỏi như Liễu Tôn Nguyên để cải cách triều chính. Ông tìm cách hạn chế quyền lực của các hoạn quan tham nhũng và có chút thành công bước đầu trong cuộc Vĩnh Trinh Duy Tân ngắn ngủi do ông đề xướng và thực hiện. Niên hiệu trong thời cai trị của ông là Vĩnh Trinh (永貞 Yǒng zhēn). Tháng 8 năm 805, ông bị đột quỵ và bị các hoạn quan ép thoái vị nhường ngôi cho con trai ông.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Đường thư, quyển 14.
  2. ^ www.sinica.edu.tw
  3. ^ www.sinica.edu.tw
  4. ^ www.sinica.edu.tw
  5. ^ Thuận Tông thực tế không đặt niên hiệu Vĩnh Trinh cho tới tận khi ông nhường ngôi cho hoàng đế Hiến Tông, nhưng niên hiệu Vĩnh Trinh thường được gắn với ông hơn là với Hiến Tông.
  6. ^ www.sinica.edu.tw
  7. ^ www.sinica.edu.tw