Đường Duệ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Duệ Tông (唐睿宗)
Tang Ruizong.png
Hoàng đế Trung Hoa
Tại vị 27/2/684-19/10/690
Tiền nhiệm Đường Trung Tông
Kế nhiệm Võ Tắc Thiên (nhà Võ Chu)
Hoàng đế Trung Hoa
Tại vị 25/7/710-8/9/712[1]
Tiền nhiệm Đường Thương Đế
Kế nhiệm Đường Huyền Tông
Thông tin chung
Tên thật Lý Húc Luân, Lý Luân, Lý Đán, Võ Luân, Võ Đán (xem Thay đổi họ tên)
Thụy hiệu Ngắn: Thánh chân Hoàng đế (聖真皇帝)[2]
Dài: Huyền chân Đại thánh Đại hưng Hiếu hoàng đế[3]
玄真大聖大興孝皇帝
Miếu hiệu Duệ Tông (睿宗)
Hoàng tộc Nhà Đường (唐)
Thân phụ Đường Cao Tông
Thân mẫu Võ Tắc Thiên
Sinh 22/6/662
Mất 13/7/716 (54 tuổi)

Đường Duệ Tông (chữ Hán: 唐睿宗, bính âm: Tang Ruizong; 22 tháng 6 năm 662 - 13 tháng 7 năm 716), tên thật là Lý Húc Luân (李旭轮), Lý Luân (李轮), Lý Đán (李旦) hay Võ Đán (武旦), là vị hoàng đế thứ năm và thứ bảy của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc, ở ngôi hai lần vào các thời điểm 27 tháng 2 năm 684 - 8 tháng 10 năm 69025 tháng 7 năm 710 - 8 tháng 9 năm 712.

Với thân phận là con trai thứ tám của Đường Cao Tông Lý Trị, hoàng đế thứ ba của nhà Đường và cũng là con trai thứ ba của nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên, Lý Đán từng được phong nhiều chức vị cao trong triều dưới thời vua cha, kèm theo đó là tước vương: Ân vương, Dự vương, Kí vương, Tương vương... Năm 684, ông được mẹ là Võ Thái hậu đưa lên ngai vàng sau khi anh trai Đường Trung Tông Lý Hiển bị phế, nhưng trong suốt sáu năm (684 - 690), toàn bộ quyền lực trong triều đều nắm trong tay Thái hậu. Năm 690, ông bị ép buộc nhường ngôi vua cho thái hậu, làm gián đoạn nhà Đường trong 15 năm. Lý Đán bị giáng làm Hoàng tự.

Năm 697, khi Lý Hiển được Thái hậu đón về từ Phòng châu, Lý Đán nhường ngôi thái tử cho anh, còn mình xuống làm Tương vương. Sau khi nhà Đường khôi phục (705), ông tiếp tục phục vụ dưới triều đại thứ hai của Đường Trung Tông. Sau khi Trung Tông bị giết (710), dưới sự thúc giục của em gái là công chúa Thái Bình cùng con trai Lâm Tri vương Lý Long Cơ, Lý Đán phế truất Thương Đế, đăng quang lần thứ hai. Sang năm 712, ông nhường ngôi cho Lý Long Cơ, tự xưng là Thái thượng hoàng. Ông qua đời vào năm 716 ở tuổi 55.

Thời Đường Cao Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Đán là con trai thứ tám của Đường Cao Tông, hoàng đế thứ ba của nhà Đường với hoàng hậu Võ Mị Nương (Sau là Võ Tắc Thiên). Ông chào đời vào ngày 22 tháng 6 năm 762 ở kinh đô Trường An, ban đầu được đặt tên là Lý Húc Luân. Ngay cuối năm đó, Lý Đán khi chưa tròn 6 tháng tuổi đã được vua cha phong cho tước vị Ân vương, Diêu lĩnh kí châu[4] đại đô đốc, Thiền vu đại đô hộ, Hữu kim ngô vệ đại tướng quân; mặc dù các chức vụ này chỉ mang ý nghĩa tượng trưng.

Khi trưởng thành, Lý Húc Luân tỏ ra là người cung kính hiếu thuận và chăm chỉ, thích đọc nhiều sách vở cổ và có tài viết thư pháp. Năm 666, Lý Húc Luân được cải phong làm Dự vương. Năm 669, Lý Húc Luân lại được đổi làm Kí vương và cùng lúc đó, Cao Tông cũng quyết định bỏ chức Húc trong tên húy của ông, do đó tên của ông là Lý Luân.

Năm 675, Đường Cao Tông một lần nữa đổi phong Lý Luân làm Tương vương, bái làm Hữu vệ đại tướng quân. Sang năm 678, ông được phong Lạc châu mục, đổi tên là Đán.[5]

Năm 676, khi quân Thổ Phiên tiến công vào biên giới nhà Đường, Cao Tông phong cho Lý Luân cùng anh là Lý Hiển (tức Đường Trung Tông) làm tướng chỉ huy quân đội chống Thổ Phiên, nhưng thực tế quyền cầm quân nằm trong tay hai tướng Lưu Thẩm LễKhế Bật Hà Lực.

Ở ngôi lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ thời Đường Cao Tông, Võ hoàng hậu đã nắm đại quyền lớn trong triều, lần lượt mưu hại hai thái tử là Lý Hoằng (con ruột) cùng Lý Hiền (con người chị là Hàn quốc phu nhân). Cuối cùng Lý Hiển được phong làm thái tử năm 681[6].

Ngày 27 tháng 12 năm 683, Đường Cao Tông mất ở Lạc Dương[7]. Lý Hiển kế ngôi, tức Đường Trung Tông. Lợi dụng Trung Tông bận việc để tang, Võ hoàng hậu tự xưng Thái hậu, lâm triều xưng chế, tự xưng là trẫm. Ngày 26 tháng 2 năm 683, lấy cớ Trung Tông phong cho cha vợ Vi Huyền Trinh nắm quyền trong triều, Võ Thái hậu hạ lệnh phế Trung Tông làm Lư Lăng vương, đày sang Quân châu[8]. Hôm sau, 27 tháng 2, Thái hậu hạ chiếu lập Dự vương Lý Đán làm Tân đế, tự xưng Đường Duệ Tông, cải nguyên là Văn Minh năm thứ nhất. Tuy nhiên mọi việc trong triều đều do Thái hậu quyết đoán, Duệ Tông không có thực quyền.

Thái hậu ngay lập tức hạ lệnh đổi tên một loạt cung điện ở kinh thành và một số châu quận theo ý thích của mình, lại cho xây đền miếu thờ tổ tiên họ Võ trong kinh thành.

Mùa thu năm 684, Anh quốc công Từ Kính Nghiệp (cháu nội Lý Tích) khởi loạn chống lại Võ Thái hậu, lấy danh nghĩa khôi phục hoàng vị cho Trung Tông. Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa không kéo dài, Thái hậu sai Lý Tri ThậpMã Kính Thần dẹp loạn, giết được Kính Nghiệp[9]. Cuối năm đó, do nghi ngờ tể tướng Bùi Viêm muốn chống lại mình, Thái hậu sai chém đầu Bùi Viêm và giáng chức hoặc bắt giam tất cả những người cầu xin cho ông ta[10]. Sang ngày Đinh Mão tháng 9 ÂL năm 683, thái hậu lại tiếp tục bình diệt được cuộc khởi nghĩa của Vương Quả Thảo ở Quảng châu. Trong thời gian đó, thái hậu bắt đầu tìm kiếm tình nhân và làm nhiều việc dâm loạn cung trung.

Tết nguyên đán năm 686, Võ Thái hậu hạ chiếu giao lại chính quyền do Duệ Tông, nhưng Duệ Tông biết bà ta không thực tâm, nên không dám chấp nhận. Thái hậu tiếp tục lâm triều xưng chế. Cùng năm đó, Thái hậu sai chế ra một cái hộp bằng đồng đặt trước triều đường, để cho những người hiến kế hay hoặc dự báo được tinh tượng, hoặc muốn tố cáo gian ác, hoặc muốn tiến cử nhân tài... mà ngại không dám nói thì cho bỏ thư vào đó.

Thái hậu từ việc Từ Kính Nghiệp tạo phản, nghi ngờ các lão thần không phục mình, bèn muốn giết một số người để ra oai. Bà ta phái mật thám theo dõi các quan lại trong triều, rồi bảo nếu ai thấy có quan lại nào có ý chống lại thái hậu thì hãy cáo mật. Bà thường không hỏi nguyên do và thực giả, cho bãi chức hoặc giết chết đại thần đó. Người người vì việc cáo mật này cũng được thăng chức cao.

Năm 687, Thái hậu nhân danh Đường Duệ Tông phong vương cho các hoàng tử con ông: Thành Mĩ làm Hằng vương, Long Cơ làm Sở vương, Long Phạm làm Vệ vương, Long Nghiệp làm Triệu vương. Cũng trong năm đó, đại thần Lưu Y Chi dù có lời khen thái hậu nhưng lại bị bà ta ghét bỏ, sau đó thái hậu lại phát hiện Y Chi muốn Duệ Tông nắm quyền, bèn giam vào ngục. Duệ Tông dù không tham gia chính sự nhưng vẫn hạ lệnh xá miễn, nhưng Y Chi biết rằng hành động của Duệ Tông càng làm ông ta chết nhanh hơn. Quả nhiên sau đó thái hậu bắt Y Chi tự vẫn.

Võ Thái hậu không dừng lại ở việc xưng chế mà còn muốn làm nữ đế. Mùa thu năm 688, các hoàng thân gồm Việt vương Lý Trinh cùng con là Lang Nha vương Lý Xung khởi binh, ban hịch nói Duệ Tông bị thái hậu vây bức trong cung cấm, nên nay khởi binh Cần vương. Thái hậu sai Khúc Sùng Dụ, Sầm Trường Sai thảo phạt, đánh bại Việt vương, Việt vương tự sát. Thái hậu sai đổi họ của Lý Trinh thành Hủy.[11][12]. Sau vụ này, Thái hậu cho tàn sát nhiều tôn tộc Lý thị như Hàn vương Lý Nguyên Quỹ, Lỗ vương Lý Linh Quỳ, Thường Lạc công chúa..., rồi cũng đổi tất cả họ sang họ Hủy.

Năm 690, nhiều phe cánh của Thái hậu trong triều dâng sớ khuyên bà ta xưng đế. Duệ Tông biết thế cục bất lợi, cũng đành xin Thái hậu lên ngôi. Thái hậu bằng lòng. Ngày 8 tháng 10 năm 690, Duệ tông thoái vị, Võ thái hậu đăng cơ, đổi quốc hiệu thành Đại Chu. Nhà Đường bị gián đoạn. Duệ Tông bị thái hậu giáng làm người kế vị, nhưng được gọi là Hoàng tự thay vì thái tử.[13]

Thời Võ Tắc Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Thái hậu mặc dù lập Lý Luân làm hoàng tự, song các thân vương họ như Ngụy vương Võ Thừa Tự, Lương vương Võ Tam Tư đều nhắm đến vị trí thái tử, nhiều lần nói rằng không có hoàng đế nào lại truyền ngôi cho người họ khác. Tuy nhiên trong những năm đầu tiên, Thái hậu vẫn chưa thay đổi vị trí kế vị.

Năm 693, đại thần Hồ Tì Đoạn được Thái hậu tin tưởng, vu cáo vợ Lý Luân là Lưu thị cùng người thiếp của ông, Đậu thị lập đàn bùa phép mưu hại Võ Thái hậu. Do đó Thái hậu cho xử tử cả Lưu thị và Đậu thị[14]. Lý Luân cực kì lo sợ mình sẽ bị liên lụy, do đó ông không dám khóc thương cho hai người, sinh hoạt vẫn tiến hành như bình thường. Tuy nhiên sau đó Hồ Tì Đoàn lại tiếp tục tìm cớ hãm hại Lý Luân, nhưng Thái hậu không tin hắn nữa, sai giết đi. Cũng trong lúc đó, mẹ của Đậu Đức phi là Bàng thị bị người đến tố cáo, Bàng thị bị khép tội chết, cho giảm một bậc.

Cũng trong năm đó, lại có lời tố cáo Lý Luân mưu phản. Võ Thái hậu tức giận, sai giam lỏng ông trong phủ, không cho đại thần gặp mặt, đồng thời phế các con ông từ thân vương làm quận vương. Những người bị nghi đồng mưu đều bị Lai Tuấn Thần tra tấn dã man. Bấy giờ có An Kim Tàng tự mổ bụng của mình để giải oan cho Lý Luân. Thái hậu nghe tin cảm động, cho an táng Kim Tàng và xá miễn cho Lý Luân.

Năm 698, do lời khuyên của đại thần Địch Nhân Kiệt cùng các nam sủng là anh em Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông, Võ Thái hậu quyết định đón Lư Lăng vương Lý Hiển về kinh. Tháng 10 cùng năm, Lý Đán xin nhường ngôi kế vị cho Lý Hiển. Võ thái hậu bằng lòng, lập Lý Hiển làm Thái tử[15]. Sang năm 699, Lý Đán được đổi phong làm Tương vương, kiêm chức Thái tử hữu vệ suất.

Cũng năm 699, Thái hậu đổi họ của Lý Hiển và Lý Luân thành Võ, đổi tên Võ Luân thành Võ Đán. Do lo sợ sau khi mình chết đi thì hai họ Lý - Võ sẽ không dung nhau, Thái hậu bèn ép Võ Hiển, Võ Đán cùng Thái Bình công chúa và Phò mã Võ Du Kị phải thề độc sẽ không làm hại họ Võ. Những lời thề đó được khắc trên thanh sắt và giữ trong kho triều đình.

Năm 701, quân Đột Quyết xâm phạm biên giới nhà Đường. Võ Đán phụng mệnh đánh dẹp, nhưng sau đó Đột Quyết lui quân trước. Năm 702, Võ Đán được phong làm Đô đốc Tĩnh châu[16]. Sang năm 703, ông được phong làm Ung châu[17] mục, cai trị các vùng lãnh thổ phía tây, bao gồm cả Trường An.

Trong cung, Thái hậu sủng hạnh hai mỹ nam là Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông. Võ Đán cùng công chúa Thái Bình từng dâng thư xin Võ Thái hậu phong vương cho Dịch Chi, tuy Thái hậu không đồng ý, nhưng cũng phong cho Dịch Chi và Xương Tông tước vị Quốc công.

Thời Trung Tông phục tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 705, sau cuộc chính biến cung đình, nhóm đại thần do Trương Giản Chi đứng đầu ép Thái hậu thoái vị, nhường ngôi cho Võ Hiển. Võ Hiển đăng cơ lần nữa, đổi quốc hiệu thành Đường, đổi họ Võ của mình và Võ Đán thành họ Lý như cũ. Lý Đán dường như không hay biết về cuộc chính biến này.

Giữa năm đó, Trung Tông phong Lý Đán làm An Quốc Tương vương. Trung Tông còn muốn phong Lý Đán làm Thái úy (tương đương thừa tướng), sau đó lại định lập làm Thái đệ nối ngôi, nhưng Lý Đán từ chối. sau đó Trung Tông lập con mình là Lý Trọng Tuấn làm thái tử.

Vi hoàng hậu, Võ Tam Tư (Cháu Võ hậu) cùng công chúa An Lạc đều muốn làm nữ đế, nhiều lần khuyên Trung Tông cải lập An Lạc làm Hoàng thái nữ, do đó khiến Lý Trọng Tuấn bất mãn. Năm 707, Trọng Tuấn phát binh khởi loạn, giết cha con Võ Tam Tư[18]. Tuy nhiên không lâu sau Trọng Tuấn bị đánh dẹp. Công chúa An Lạc vốn muốn trừ khử công chúa Thái Bình và Lý Đán nên vu cáo hai người có thông đồng với Trọng Tuấn. Đường Trung Tông sai Tiêu Chí Trung điều tra việc này, nhưng Chí Trung muốn bảo vệ Lý Đán, bèn nhắc lại việc năm xưa Lý Đán từng nhường ngôi thái tử cho Trung Tông, khiến Trung Tông động lòng, sau đó xét thấy không có chứng cứ nên ngừng truy cứu.

Ở ngôi lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh biến Đường Long[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 7 năm 710, Đường Trung Tông đột nhiên băng hà. Nhiều sử gia nghi ngờ việc này là do Vi hậu cùng công chúa An Lạc bí mật hạ độc để cho An Lạc có thể dễ dàng xưng nữ đế về sau. Vi hoàng hậu nắm giữ triều chính, tuyên bố lập Ôn vương Lý Trọng Mậu làm đế, xưng Đường Thương Đế, kì thực Vi hậu nắm hết mọi quyền hành. Lý Đán chỉ được phong làm Tham mưu chính sự. Gian thần Tông Sở Khách theo lệnh Vi Thái hậu, dâng sớ cho rằng Lý Đán không có khả năng nắm quyền, và cùng đại thần trong phe cánh đòi phế quyền chấp chính của Lý Đán, xin Vi Thái hậu lâm triều xưng chế. Thái hậu đồng tình. Ngày 5 tháng 7, Lý Đán được phong làm Thái úy, song chỉ có hư vị.

Thái hậu, An Lạc công chúa cùng Tông Sở Khách âm mưu học theo Võ hậu xưng đế trước đây, dự định mưu hại Lý Đán và Thái Bình công chúa để loại bỏ vật cản. Con trai thứ ba của ông là Lâm Tri vương Lý Long Cơ, do Đậu thị sinh, là người thông minh cái thế, chiêu mộ nhiều văn sĩ võ tướng, cũng có thế lực lớn trong triều. Thị lang bộ binh Thôi Nhật Dụng dâng sớ tố cáo họ Vi, họ Võ cùng Tông Sở Khách, do đó bị Thái hậu sai trị tội. Nhật Dụng lo sợ, sai hòa thượng chùa Bảo Tăng là Nhuận Mật đến cầu cứu Lý Long Cơ. Long Cơ bèn nhân cơ hội đó, liên kết cùng công chúa Thái Bình cùng con trai Thái Bình là Tiết Sùng Giản, cùng bọn Chung Thiệu Nguyên, Vương Sùng Diệp... mật mưu tiêu diệt Vi Thái hậu. Long Cơ sợ nếu như sự bại thì có thể liên lụy đến cha, nên không báo việc cho Lý Đán biết.

Ngày Nhâm Tý 21 tháng 7, Long Cơ dẫn theo quân Lâm Vũ tiến vào cung, giết hết bè đảng phản Đường. Vi Thái hậu bỏ trốn khỏi cung, bị tên phi kị chém đầu. Công chúa An Lạc đang trang điểm, cũng bị chém chết. Âm mưu xưng đế của mẹ con Vi hậu tiêu tan.

Sau khi sự việc thành công, Lý Long Cơ đến tạ tội với Lý Đán, sau đó đón ông vào cung, nhập phụ cho Thương Đế. Lý Long Cơ được phong làm Bình vương.

Ngày Quỹ Mão (24 tháng 7), công chúa Thái Bình ép Thương Đế hạ chiếu nhường ngôi cho Lý Đán. Lý Đán cố từ chối, nhưng sau đó chấp thuận. Ngày Giáp Thìn (25 tháng 7), Lý Đán đăng cơ lần thứ hai, ra lệnh xá thiên hạ, giáng Đường Thương Đế làm Ôn vương.[19]

Lập thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi lên ngôi, Duệ Tông muốn phong cho một người con làm thái tử. Ông đứng trước hai sự chọn lựa giữa Lý Thành Khí, con trai trưởng do chính thê sinh ra và Lý Long Cơ, con trai thứ nhưng lập được công lớn trong việc khôi phục nhà Đường. Thành Khí thấy ông khó xử, bèn từ chối: Quốc gia an lạc thì lập con trai đích trưởng, nếu quốc gia nguy biến thì lập người có công. Nếu không làm vậy thì bá tánh thất vọng. Thần không có ý đứng trên Bình vương (Long Cơ).

Sau đó đại thần Lưu U Cầu dẫn đầu các quan xin tôn lập Long Cơ làm thái tử. Long Cơ cũng dâng biểu xin nhường cho anh trưởng, nhưng cuối cùng chấp nhận. Ngày Đinh Tị (26 tháng 7) Lý Đán lập Lý Long Cơ làm Hoàng Thái tử.

Mâu thuẫn Thái Bình - Long Cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, thượng cho khôi phục lại chức vị cho nhiều người bị giết hay bị cách chức dưới thời Võ Tắc ThiênĐường Trung Tông như Diêu Nguyên Chi, Tiêu Chí Trung, Lang Ngập, Yến Khâm Dung, cựu thái tử Lý Trọng Tuấn, Trương Giản Chi, Viên Thứ Kỉ, Lý Đa Tộ...; lại cách chức nhiều đại thần được Vi hậu tiến cử dưới thời Trung Tông như Tống Cảnh, Sầm Hi, Thôi Thực, Trương Tích, Lý Kiệu... Võ Tam Tư và con là Võ Sùng Huấn bị tước hết tước vị đã truy phong và bị quật thây, san phẳng mộ.

Cùng năm 710, con trai Đường Trung TôngLý Trọng Phúc tự xưng hoàng đế, tôn Duệ Tông làm Hoàng quý thúc, Ôn vương Trọng Mậu làm Hoàng thái đệ, mưu đoạt lại ngôi đế. Duệ Tông sai quân đánh dẹp, không lâu sau Trọng Phúc tử trận, cuộc nổi dậy bị dẹp tan[20][21].

Công chúa Thái Bình sau khi lập công đưa thượng lên ngôi, được phong ấp vạn hộ, trở thành công chúa có thế lực nhất dưới thời nhà Đường. Thấy Lý Long Cơ còn nhỏ, công chúa Thái Bình tỏ ra khinh thị và ganh ghét, muốn tìm cớ hãm hại. Hai bên rơi vào thế đối đầu nhau, chia làm hai phe phái trong triều. Nhiều lần bà ta nói với Duệ Tông rằng thái tử không phải con trưởng, không thể lập được. Thượng không nghe. Công chúa Thái Bình lại bố trí nhiều tai mắt bên cạnh thái tử, tìm cơ hội tố cáo nếu thấy thái tử có việc gì không đúng đắn. Thái tử rất bất an. Ngày Ất Dậu tháng 11 ÂL, ông cho chôn cất Hiếu Hòa hoàng đế Đường Trung Tông ở Định lăng, và cho hợp táng với Triệu thị, người vợ đầu tiên của Trung Tông[22].

Ngày Kỉ Tị tháng 1 ÂL năm 711, Duệ Tông cải lập Ôn vương Lý Trọng Mậu làm Tương vương, đày đến Tập châu và sai 50000 võ sĩ hộ vệ, thực chất là để xem xét và kiềm chế[23].

Thái Bình công chúa nhiều lần tố cáo Long Cơ mưu phản, lại mua chuộc đại thần Vi An Thạch. Duệ Tông bắt đầu nghi ngờ thái tử, triệu An Thạch vào hỏi ý, nhưng An Thạch cố gắng khuyên can và bênh vực cho thái tử, nên bị Thái Bình ghét bỏ. Thái Bình tố cáo An Thạch, nhưng An Thạch được Quách Nguyên Chấn xin giúp nên không bị trị tội. Các đại thần Tống Cảnh, Diêu Nguyên Chi cũng ủng hộ thái tử, tây với Duệ Tông nên đưa những người con trai khác cùng Bân vương Lý Thủ Lễ - con Chương Hoài thái tử Lý Hiền, cháu đích tôn của Cao Tông - ra làm Thứ sử các châu và an trí Thái Bình cùng các con ở kinh đô. Duệ Tông chấp nhận do các con ra khỏi kinh thành, song vẫn giữ tự do cho công chúa Thái Bình.

Công chúa Thái Bình nghe vậy tức giận, uy hiếp Lý Long Cơ phải tố cáo Tống CảnhLý Nguyên Chi mưu phản. Kết quả hai đại thần bị đuổi xuống các châu, các thân vương bị đẩy khỏi kinh đô cũng được trở về.

Tháng 5 năm 711, thượng phong cho con gái của Tống vương Lý Thành Khícông chúa Kim Sơn gả cho Khã hãn Đột Quyết là Mặc Xuyết. Trong khi đó Lý Long Cơ cũng có sự chuẩn bị để đối phó với Thái Bình. Tháng 7 cùng năm, Long Cơ xin nhường ngôi thái tử cho anh là Thành Khí, Duệ Tông lo lắng, không đồng ý. Long Cơ nhân đó xin cho Thái Bình về kinh, ông đành phải chấp thuận vì muốn trấn an Long Cơ.

Đầu năm 712, do đất nước đã lâu không có nạn binh đao, Duệ Tông cho hạn chế tuổi nhập quân của trai tráng trong nước xuống còn từ 25 đến 55 tuổi.

Làm thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Nắm giữ triều đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 712, tướng Đường là Đại đô đốc U châu Tôn Thuyên giao chiến với bộ tộc Hề Tù Lý ở Lãnh Kính. Sau đó, các tướng Lý Giai Lạc, Chu Dĩ Đễ cũng dẫn 20000 bộ binh và 8000 kị binh đánh các nước Hề và Khiết Đan. Chiến trận bất lợi, quân Đường bị đánh tan tác, quân đội tổn thất gần hết.

Tháng 8, trên bầu trời xuất hiện dị tượng, sao Tuệ Tinh ra hướng tây, kinh Hiên viên nhập vào Thái vi là điềm sắp thay đổi triều đại. Công chúa Thái Bình muốn hại thái tử, bèn sai bọn thuật giả báo việc này và nói thái tử sẽ lên ngôi hoàng đế, mục đích để cho Duệ Tông giết chết Long Cơ trừ hậu hoạn. Nhưng Thượng cho rằng nên nhân cơ hội này, truyền ngôi cho Long Cơ cũng có thể trừ được nạn. Công chúa Thái Bình cực lực phản đổi, nhưng không có kết quả.

Sau đó ông triệu Long Cơ vào cung, ban chỉ dụ nhường ngôi. Long Cơ cố từ chối, nhưng sau cùng chấp nhận. Ngày Nhâm Thìn, ông chính thức xuống chiếu. Thái Bình công chúa lo sợ nếu Long Cơ nắm quyền sẽ bất lợi cho mình, nên khuyên Duệ Tông vẫn nên nắm giữ quyền lực lớn hơn hoàng đế. Duệ Tông bất đắc dĩ phải chấp nhận.

Ngày Canh Tí tháng 8 (8 tháng 9 năm 712), Duệ Tông chính thức nhường ngôi. Sau đó, Lý Long Cơ tức vị hoàng đế, xưng là Đường Huyền Tông[24]. Duệ Tông trở thành Thái thượng hoàng, nhưng vẫn xử lý triều chính, năm ngày ra triều một lần. Tuy nhiên mâu thuẫn giữa công chúa Thái BìnhĐường Huyền Tông vẫn tiếp diễn. Trong bảy vị đại thần đầu triều thì năm người theo Thái Bình công chúa, do đó bà ta nắm được ưu thế, nhờ vào việc Thượng hoàng nắm quyền để tham gia can thiệp triều chính. Đại thần Lưu U Cầu tố cáo bè đảng của công chúa Thái Bình tố cáo bọn Đậu Hoài Trinh, Thôi Thực mưu đồ bất chính, cần trị tội. Thượng hoàng ra lệnh hạ ngục Lưu U Cầu vì tội vu cáo, Huyền Tông chỉ có cách thuận theo.

Đầu năm 713, Thượng hoàng khuyên Đường Huyền Tông đến tuần tra biên giới phía bắc, tuyển sĩ tốt ở các quận gia nhập quân đội. Tuy nhiên sau đó bọn sĩ tốt mới nhập ngũ bị giải tán, Huyền Tông cũng không đến phía bắc nữa.

Giao lại quyền lực và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hạ năm 713, công chúa Thái Bình cùng các tể tướng Đậu Hoài Trinh, Sầm Hi, Tiêu Chí Trung, Thôi Thực, Tiết Tắc, Thường Nguyên Giai, Lý Từ, Lý Khâm, Lý Du, Giả Ưng Phúc... âm mưu phế truất Đường Huyền Tông. Việc này bị Huyền Tông biết được, Huyền Tông không muốn làm kinh động Thượng hoàng, nên bí mật đến bắt bọn họ.

Ngày Giáp Tí tháng 6 ÂL năm 713 (29 tháng 7), Đường Huyền Tông cho giết hết tất cả các đại thần hợp mưu tác loạn của công chúa trong ngự lâm quân. Công chúa bỏ chạy đến trốn ở chùa Nam Sơn trong ba ngày. Thượng hoàng nghe có biến động, đến môn lâu để xem[25]. Huyền Tông đến yết kiến, báo việc biến động cho Thượng hoàng.

Ngày Ất Sửu (30 tháng 7 năm 713), Thượng hoàng ra lệnh giao lại quyền hành trong triều cho Huyền Tông, chuyển sang sống ở điện Bách Phúc. Sau đó, công chúa Thái Bình bị bắt được và bị Huyền Tông bắt tự tử. Thái thượng hoàng đành phải ra mặt xin Huyền Tông tha chết cho em gái, nhưng Huyền Tông từ chối.

Ngày Đinh Hợi tháng 6 (tức ngày 13 tháng 7) năm 716, Thượng hoàng băng hà ở điện Bách Phúc, hưởng dương 54 tuổi. Huyền Tông sai con gái mình là công chúa Vạn An làm nữ quan, cầu phúc cho vong linh của Thượng hoàng[26].

Ngày Canh Ngọ tháng 7 cùng năm, Thượng hoàng được an táng ở Kiền Lăng, truy miếu hiệu Duệ Tông, thụy là Đại Thánh hoàng đế.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn Minh (文明 Wén Míng) 2/684 - 8/684[27]
  • Quang Trạch (光宅 Guāng Zhái) 9/684 - 12/684
  • Thùy Củng (垂拱 Chúi Gǒng) 1/685 - 12/688
  • Vĩnh Xương (永昌 Yǒng Chāng) 1/689 - 11/689
  • Thái Sơ (載初 Zǎi Chū) 11/689 - 8/690

Lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cảnh Vân (景雲 Jǐng Yún) 7/710 - 1/712
  • Thái Cực (太極 Tài Jí) 1/712 - 4/712
  • Diên Hòa (延和 Yán Hé) 5/712 - 8/712

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Túc Minh Thuận Thánh hoàng hậu Lưu thị (肃明順聖皇后刘氏, ? - 693), chính thất, bị Võ Tắc Thiên xử tử.
  2. Đậu Đức phi (窦德妃, ? - 693), bị Võ Tắc Thiên xử tử, truy phong Chiêu Thành Thuận Thánh Hoàng hậu (昭成顺圣皇后).
  3. Đậu Lư Quý phi (豆卢贵妃, 661 - 740), hậu duệ Hoàng tộc Mộ Dung (慕容) của Tiền Yên. Lúc 15 tuổi, bà trở thành thiếp của Lý Đán, phong làm Nhụ nhân (孺人). Năm 684, Lý Đán kế vị, phong Đậu Lư thị làm Quý phi (贵妃), khi Võ Hậu xưng đế thì bà trở lại danh vị Nhụ nhân. Bà tính cẩn trọng, điềm nhã nên tránh sự truy sát của Võ hậu. Sau khi Đậu Đức phi bị ban chết, con nhỏ là Lý Long Cơ (李隆基) được bà nhận nuôi dưỡng.
  4. Thôi Quý phi (崔贵妃).
  5. Vương Đức phi (王德妃).
  6. Vương Hiền phi (王賢妃).
  7. Liễu Cung nhân (柳宫人).
  8. Thôi Nhụ nhân (崔孺人).
  9. Đường Nhụ nhân (唐孺人, 672 - 692), cháu gái Đường Kiệm (唐俭).
  • Hậu duệ:
  1. Ninh Vương Lý Hiến [李憲, 679 - 742], còn có tên là Thành Khí (成器), truy phong Nhượng Hoàng đế (讓皇帝), mẹ Lưu Hoàng hậu.
  2. Thân Vương Lý Huy [李撝, ? - 724], còn có tên là Thành Nghĩa (成义), truy phong Huệ Trang Thái tử (惠莊太子), mẹ Liễu Cung nhân.
  3. Đường Huyền Tông Lý Long Cơ [李隆基], mẹ Đậu Đức phi.
  4. Kỳ Vương Lý Phạm [李範, ? - 726], còn có tên là Long Phạm (隆範), truy phong Huệ Văn Thái tử (惠文太子), mẹ Thôi Nhụ nhân.
  5. Tiết Vương Lý Nghiệp [李业, ? - 734], còn có tên Long Nghiệp (隆业), truy phong Huệ Tuyên thái tử (惠宣太子), mẹ Vương Đức phi.
  6. Tùy Vương Lý Long Đệ [李隆悌], vốn là Nhữ Nam Quận vương [汝南郡王], mất sớm, truy phong Tùy Vương.
  7. Thọ Xương Công chúa (壽昌公主), mẹ là Lưu Hoàng hậu, hạ giá lấy Thôi Chân (崔真).
  8. An Hưng Chiêu Hoài Công chúa (安興昭懷公主), mất sớm.
  9. Kinh Sơn Công chúa (荊山公主), hạ giá Tiết Bá Dương (薛伯阳).
  10. Hoài Dương Công chúa (淮陽公主), hạ giá Vương Thừa Khánh (王承庆).
  11. Đại Quốc Công chúa (代國公主), mẹ Lưu Hoàng hậu, hạ giá lấy Trịnh Vạn Quân (郑万钧).
  12. Lương Quốc Công chúa (涼國公主), hạ giá Tiết Bá Dương.
  13. Tiết Quốc Công chúa (薛國公主), hạ giá Bùi Tốn (裴巽).
  14. Nhược Quốc Công chúa (鄎國公主), mẹ Thôi quý phi, hạ giá Trịnh Hiếu Nghĩa (郑孝义).
  15. Kim Tiên Công chúa (金仙公主, 689 - 732), mẹ Đậu Đức phi. Xuất gia đạo sĩ.
  16. Ngọc Chân Công chúa (玉真公主, 690 - 762), mẹ Đậu Đức phi. Xuất gia đạo sĩ.
  17. Hoắc Quốc Công chúa (霍國公主), hạ giá Bùi Hư Kỷ (裴虚己).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thoái vị nhường ngôi cho con là Lý Long Cơ để làm Thái thượng hoàng. Trên thực tế, còn tiếp tục ra chỉ lệnh có ảnh hưởng và tác động lớn hơn của Huyền Tông cho tới tận 29 tháng 7 năm 713. Chính thức giao lại quyền lực cho con trai vào ngày 30 tháng 7 năm đó.
  2. ^ Đường thư, quyển 7.
  3. ^ Đặt năm 754.
  4. ^ Hành Thủy, Hà Bắc hiện nay
  5. ^ Cựu Đường thư, quyển 7, Bản kỉ 7
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 202
  7. ^ Tân Đường thư, quyển 5, Bản kỉ 5
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 203
  9. ^ Tân Đường thư, quyển 93, liệt truyện 18
  10. ^ Cựu Đường thư, quyển 87, liệt truyện 37
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 204
  12. ^ Cựu Đường thư, quyển 76, liệt truyện 26
  13. ^ Tân Đường thư, quyển 4, bản kỉ 4
  14. ^ Tư trị thông giám, quyển 205
  15. ^ Cựu Đường thư, quyển 7, Bản kỉ 7
  16. ^ Thái Nguyên, Sơn Tây hiện nay
  17. ^ Tây An, Thiểm Tây hiện nay
  18. ^ Cựu Đường thư, quyển 86, liệt truyện 36
  19. ^ Tư trị thông giám, quyển 209
  20. ^ Tư trị thông giám, quyển 210
  21. ^ Tân Đường thư, quyển 5
  22. ^ Theo luật, Trung Tông được cải táng cùng Vi thứ nhân, nhưng Duệ Tông cho rằng Vi thứ nhân mưu hại Trung Tông, không đáng được hợp táng
  23. ^ Tư trị thông giám, quyển 210
  24. ^ Cựu Đường thư, quyển 8, Bản kỉ 8
  25. ^ Tư trị thông giám, quyển 210
  26. ^ Tư trị thông giám, quyển 211
  27. ^ Tháng ở đây tính theo âm lịch