Đường Văn Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Văn Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì 13/1/82710/2/840[1]
Tiền nhiệm Đường Kính Tông
Kế nhiệm Đường Vũ Tông
Thông tin chung
Tên thật Lý Hàm (李涵)
Lý Ngang (李昂)
Niên hiệu Thái Hòa (827-835)
Khai Thành (836-840)
Thụy hiệu Đầy đủ: Nguyên thánh Chiêu hiến Hiếu hoàng đế (元圣昭献孝皇帝)
Miếu hiệu Văn Tông
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Mục Tông
Thân mẫu Trinh Hiến hoàng hậu Tiêu thị
Sinh 20 tháng 11, 809
Mất 10 tháng 2, 840 (30 tuổi)
Trung Quốc
An táng Chương lăng

Đường Văn Tông (chữ Hán: 唐文宗, bính âm: Tang Wenzong, 20 tháng 11 năm 809 - 10 tháng 2 năm 840[2]), thụy hiệu đầy đủ là Nguyên Thánh Chiêu Hiến Hiếu hoàng đế (元圣昭献孝皇帝), tên thật là Lý Hàm (李涵) hay Lý Ngang (李昂), là vị hoàng đế thứ 15 hay 17[3] của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Lý Hàm là con trai thứ hai của Đường Mục Tông Lý Hằng, mẹ là Tiêu thị. Ban đầu ông được phong tước vị Giang vương. Sau cái chết của anh trai là Đường Kính Tông Lý Đam (827), Lý Hàm được bọn hoạn quan Vương Thủ Trừng ủng hộ lên ngôi, cải tên là Lý Ngang. Trong thời gian ở ngôi, nạn hoạn quan lộng quyền - vốn manh nha từ thời Đại Tông, Đức Tông đã ngày càng khó kiềm chế. Văn Tông mặt dù rất cố gắng để hạn chế quyền lực của hoạn quan nhưng cuối cùng thất bại. Cũng trong những năm này, phiên trấn các nơi cũng liên tiếp nổi dậy. Sau chính biến Cam Lộ (835) ông hầu như đã bị hoạn quan kiểm soát và từ đó thì sống trong tâm trạng u uất và tuyệt vọng cho đến khi qua đời năm 841, có thuyết cho rằng Văn Tông bị hoạn quan sát hại.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Hàm chào đời vào ngày 20 tháng 11 năm 809 dưới thời ông nội Đường Hiến Tông Lý Thuần ở ngôi. Khi đó, cha ông là Đường Mục Tông Lý Hựu vẫn đang giữ tước vị Toại vương[4], chưa được phong làm hoàng thái tử[5]. Ông chào đời bốn tháng sau người anh là Đường Kính Tông Lý Đam (22 tháng 7 năm đó). Mẹ Lý Hàm là Tiêu thị, người Mân, về sau được truy phong Trinh Hiến hoàng hậu[6]

Năm 820, Đường Hiến Tông mất, Lý Hựu (lúc này đã đổi tên thành Lý Hằng) lên ngôi, tức là Đường Mục Tông. Năm sau, 821, Mục Tông phong vương cho một số em trai và con trai của mình, trong đó Lý Hàm được phong làm Giang vương][7]. Năm 824, Mục Tông băng, người anh cả của Lý Hàm là Lý Đam nối ngôi, tức Đường Kính Tông][8]. Đến ngày 9 tháng 1 năm 827, Kính Tông bị bọn hoạn quan Lưu Khắc Minh, Điền Vụ Trừng, Hứa Văn Đoan, Tô Tá Minh ... sát hại. Lưu Khắc Minh muốn khống chế triều đình và đưa con trai của Đường Hiến Tông là Giáng vương Lý Ngộ làm hoàng đế. Ngày 10 tháng 1, Khắc Minh giả di chiếu, đưa Giáng vương ra gặp chư tể tướng. Bọn Khắc Minh lại bố trí tay chân nắm giữ cung điện, mưu trừ các hoạn quan khác. Nhóm hoạn quan gồm Xu mật sứ Vương Thủ Trừng, Trung úy Lương Thủ Khiêm, Ngụy Tòng Gián ... nghe tin có biến động, bèn tập hợp binh lính tiến vào cung diệt tặc, đồng thời cho đón Lý Hàm vào cung. Cuối cùng quân Thần Sách của Vương Thủ Trừng và quân Phi Long giết chết hết bọn loạn đảng Lưu Khắc Minh, Giáng vương Ngộ cũng chết trong loạn quân[9].

Ngày 11 tháng 1 (Quý Mão), hoạn quan lấy lệnh của Thái hoàng thái hậu Quách thị cho Bùi Độ làm nhiếp trùng tể, bách quan yết kiến Giang vương Hàm ở tử thần ngoại vũ, Giang vương bật khóc trong buổi gặp hôm đó. Ngày 13 tháng 1 (Quý Tị), Lý Hàm chính thức lên ngôi, tức là Đường Văn Tông.[6][9], đổi tên là Lý Ngang. Năm đó ông mới 18 tuổi.

Làm hoàng thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ kì Thái Hòa (827 - 829)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 1 (Mậu Thân) tôn mẹ là Tiêu thị làm hoàng thái hậu, mẹ của Kính Tông là Vương thị làm Bảo Lịch thái hậu. Lúc đó, thái hoàng thái hậu Quách thị (bà của Văn Tông) được bố trí ở cung Hưng Khánh, Vương thái hậu ở Điện Nghĩa An, Tiêu thái hậu sống ở đại nội. Văn Tông vốn tính hiếu thuận, phụng sự ba cung đều như nhau. Mỗi khi các nơi tiến công kì trân dị vật thì trước đưa đến tông miếu, tiếp đó dâng đến ba cung còn dư thừa mới để tự mình chi dùng[9]. Không lâu sau, ông phong cho Hàn Lâm học sĩ Vi Xử Hậu làm Trung thư thị lang, Đồng bình chương sự (tể tướng).

Văn Tông lại thấy rằng qua hai triều Mục Tông, Kính Tông, do sự xa xỉ của các hoàng đế khiến quốc khố cạn kiệt, vì thế ngay khi lên ngôi đã chủ trương tiết kiệm và tỏ ra cần mẫn trong việc xử lí công việc triều chính. Ông cho phép những cung nữ nào chưa được triệu hạnh có thể về quê với gia đình, tổng cộng được khoảng 3000 người. Thấy tân chủ mới lên ngôi đã làm những việc thuận lòng người, trong ngoài náo nức đón chờ một thời đại thái bình mới. Tuy nhiên Văn Tông mặc dù bên ngoài khuyến khích việc triều thần can gián, nhưng bản chất lại là con người thiếu quyết đoán. Mỗi khi cùng các tể tướng bàn định việc gì, cũng thường hay thay đổi ý kiến. Như tháng 4 ÂL năm 827, Vi Xử Hậu bàn luận công việc với Văn Tông ở Diên Anh Cực, nhân bất đồng ý kiến đã xin từ chức, Văn Tông không chấp nhận, cố sức giữ lại.

Trong những năm đầu ông lên ngôi, nạn phiên trấn tiếp tục bùng phát mạnh mẽ. Những năm cuối đời Kính Tông, Tiết độ sứ Hoành Hải[10] Lý Toàn Lược hoăng, con là phó sứ Lý Đồng Tiệp tự ý nắm quyền ở Hoành Hải mà không có sự đồng ý của triều đình, triều đình cũng làm ngơ không hỏi đến. Sau khi Văn Tông lên ngôi, Đồng Tiệp sai hai em là Đồng Chí, Đồng Tốn đến xin nhận mệnh lệnh của nhà Đường, mong được Văn Tông công nhận. Cũng năm đó, Tiết độ sứ Trung Vũ Vương Phái hoăng, Văn Tông phong Thái bộc khanh Cao Vũ lên thay làm tiết độ sứ. Đối với trấn Hoành Hải, Văn Tông phong cho Ô Trọng Dận thay Lý Đồng Tiệp đảm nhận chức Tiết độ sứ, dời Lý Đồng Tiệp làm Duyện Hải[11] tiết độ sứ. Lý Đồng Tiệp lấy cớ tướng sĩ bức ép mà kháng lại triều mệnh, tự chiếm cứ đất Thương. Triều đình bèn quyết định thảo phạt Đồng Tiệp, có chiếu tước bỏ quan chức và cử các tiết độ sứ các vùng xung quanh là Ô Trọng Dận, Vương Trí Hưng, Sử Hiến Thành, Khang Chí Mục, Lý Thính, Trương Bá ... thảo phạt Lý Đồng Tiệp, nhưng không giành thắng lợi ngay được[9] mà Lý Đồng Tiệp lại được Tiết độ sứ Thành Đức[12]Vương Đình Thấu giúp đỡ. Văn Tông lại điều quân thảo phạt luôn cả trấn Thành Đức. Cuối năm đó Ô Trọng Dận hoăng, triều đình phong hoàng thân là Bảo Nghĩa tiết độ sứ Lý Hựu đến đảm nhiệm trấn Hoành Hải. Về sau quân triều đình do hoàng thân Lý Hựu chỉ huy đánh bại, Lý Đồng Tiệp đầu hàng rồi bị giết[6]. Vương Đình Thấu sợ hãi, bèn dâng Cảnh châu để cầu hòa với triều đình.

Mùa hạ năm 828, con trưởng của Kính Tông là Tấn vương Lý Phổ hoăng, thọ 4 tuổi. Văn Tông ban đầu có ý lập Lý Phổ làm thái tử, nghe tin Phổ đã chết thì thương xót, truy tặng là Điệu Hoài thái tử[13]. Đầu năm 829, tể tướng Vi Xử Hậu cũng mất[9], Hàn lâm học sĩ Lộ Tùy lên thay đảm nhận tướng vị. Sau khi triều đình diệt Lý Đồng Tiệp, Tiết độ sứ Ngụy Bác[14]Sử Hiến Thành lo sợ mình sẽ là mục tiêu tiếp theo của quân triều đình, nên thỉnh cầu vào triều và xin quy phục. Văn Tông hạ lệnh dời Sử Hiến Thành đến làm Tiết độ sứ Hà Trung[15] và trấn Ngụy Bác được giao cho Lý Thính, ngoài ra còn cắt ba châu Tương, Vệ, Thiền giao cho phó sứ Ngụy Bác cũ là Sử Hiếu Chương[16]. Nhưng trước khi Sử Hiến Thành rời trấn thì binh sĩ Ngụy Bác nổi dậy giết chết ông ta rồi đưa Hà Tiến Thao làm Ngụy Bác lưu hậu. Tiến Thao lại đưa quân tấn công và đánh bại Lý Thính. Triều đình vừa trải qua chiến dịch ở Hoành Hải nên không muốn tiếp tục chiến tranh, đành công nhận Hà Tiến Thao là Tiết độ sứ và trao lại ba châu Tương, Vệ, Thiền cho Tiến Thao[16].

Cuối năm đó, Lý Tông Mẫn được phong làm tể tướng dưới sự ủng hộ của hoạn quan. Ít lâu sau, Lý Tông Mẫn oán ghét đại thần Lý Đức Dụ nên đuổi Đức Dụ ra trấn Nghĩa Thành. Quân Nam Chiếu tấn công vào địa giới Tây Xuyên[17], tiết độ sứ Đỗ Nguyên Dĩnh tấu lên triều đình và đưa đại quân chống lại, nhưng thất bại. Quân Nam Chiếu tiến thẳng vào Thành Đô và sắp chiếm được rồi cử sứ đến triều đình xin trị tội Đỗ Nguyên Dĩnh. Văn Tông nghe tin, bèn lấy Tiết độ sứ Đông Xuyên Quách Chiêu kiêm luôn cả Tây Xuyên, biếm chức Nguyên Dĩnh để điều đình. Quân Nam Chiếu chấp nhận hòa ước, nhưng cũng bắt giữ nhiều phụ nữ, bách công và vàng bạc châu báu rồi mới rút về nước[16].

Trung và hậu kì Thái Hòa (830 - 835)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời đại Văn Tông, Ngưu Lý Đảng tranh - một cuộc tranh chấp trong nội bộ các đại thần triều đình - vốn manh nha ngay từ thời Hiến Tông đã bùng phát dữ dội. Sau khi tể tướng Vi Xử Hậu mất và Bùi Độ từ nhiệm, Ngưu Tăng Nhụ được Lý Tông Mẫn tiến cử lên chức Binh bộ thượng thư, Đồng bình chương sự. Hai người kết bè đảng trong triều, gọi là Ngưu đảng và ra sức lấn át đại thần Lý Đức Dụ (vốn được Bùi Độ tiến cử trước đó), đẩy Đức Dụ ra trấn Nghĩa Thành. Về sau các nhà sử học gọi phe đảng của Lý Đức Dụ là Lý đảng. Trong khi đó Văn Tông chán ghét hoạn quan chuyên chính - nhất là Trung úy Vương Thủ Trừng - người kiểm soát quân đội triều đình và lấn át cả vua, lại nghĩa trước đó hai hoàng đế Hiến Tông, Kính Tông đã cũng chết trong tay hoạn quan, do vậy muốn tìm cách diệt trừ. Giữa năm 830, ông tìm cách liên hệ với Hàn lâm học sĩ Tống Thân Tích. Thấy Thân Tích là người có thể dùng được, Văn Tông phong ông ta làm tể tướng. Thân Tích lại tiến cử Lại bộ thị lang Vương Phan. Nhưng Vương Phan làm tiết lộ việc này đến tai Vương Thủ Trừng, nên Thủ Trừng đã có sự chuẩn bị. Năm 831, Thủ Trừng ngầm giật dây cho Thần Sách đô ngu hậu Đậu Lư Trứ vu cáo Tống Thần Tích có ý đồ phế bỏ Văn Tông để lập hoàng đệ là Chương vương Lý Thấu. Văn Tông chưa truy xét kĩ càng đã vội tức giận. Sau đó ông bãi chức Tống Thân Tích làm tư mã Khai châu, Chương vương Thấu giáng làm Sào huyện công. Kế hoạch diệt trừ hoạn quan bước đầu thất bại[6][16].

Trước đó năm 830, Lý Đức Dụ được bổ làm Tiết độ sứ Tây Xuyên[18]. Sang năm 831, Phó sứ Duy châu[19] của Thổ Phiên là Tất Đát có ý định dâng đất đầu hàng nhà Đường, đưa chúng tướng tới Thành Đô. Đức Dụ cho quân tiến vào Duy châu và chuẩn bị lấy nơi đây làm bàn đạp để lấn sâu vào đất Thổ Phiên. Tin này truyền đến triều đình, nhiều đại thần có ý thuận theo kế hoạch của Đức Dụ. Nhưng Ngưu Tăng Nhụ không đồng ý vì cho rằng nếu ngang nhiên lấy đất của Thổ Phiên chính là phản lại hòa ước trước kia và sẽ dẫn đến việc Thổ Phiên quấy nhiễu biên cảnh. Văn Tông bèn hạ lệnh cho Lý Đức Dụ trả đất và bọn Tất Đất cho người Thổ. Cuối cùng Tất Đát bị Thổ Phiên giết một cách thảm khốc. Từ đó Lý Đức Dụ sinh oán thù Ngưu Tăng Nhụ. Năm 833 quần thần đề nghị tôn hiệu cho ông là Thái Hòa Văn Vũ Chí Đức hoàng đế nhưng Văn Tông không nhận. Mãi đến cuối năm đó, quần thần lấy lí do Văn Tông làm vua đã 8 năm mà chưa có tôn hiệu, lại dâng tôn hiệu là Thái Hòa Văn Vũ Nhân Thánh hoàng đế, nhưng ông vẫn không nhận.

Từ sau cái chết của Điệu Hoài thái tử, Văn Tông vẫn chần chừ chưa lập thái tử mới. Mãi đến cuối năm 832, ông mới hạ lệnh lập con trai của mình là Lỗ vương Lý Vĩnh làm hoàng thái tử[6][16][20]. Cũng năm đó, Văn Tông lại hối hận việc trả đất cho Thổ Phiên trước kia và bất bình với Ngưu Tăng Nhụ. Tăng Nhụ sợ hãi bèn xin từ chức và được bổ làm Tiết độ sứ Vũ Xương[21]. Sau đó, Văn Tông triệu Lý Đức Dụ vào triều và phong làm tể tướng năm 833. Sau đó, Lý Đức Dụ nhân cơ hội lật đổ bè đảng của Lý Tông Mẫn, nhiều đại thần bị giáng chức, bản thân Tông Mẫn bị đuổi khỏi Trường An, giáng làm Tiết độ sứ Sơn Nam Tây Đạo[22].

Đầu năm 834, Văn Tông bị bệnh đột quỵ và từ đó sức khỏe trở nên suy yếu hẳn, thần thức không còn được như trước. Cũng trong năm đó, Văn Tông cho triệu Lý Trọng Ngôn vào triều và bố trí ở Hàn lâm theo tiến cử của Lý Phùng Cát. Lý Đức Dụ phản đối vì cho rằng Trọng Ngôn là kẻ ác nhưg Văn Tông không theo. Sau đó, Lý Trọng Ngôn liên kết với bọn Vương Thủ Trừng, Trịnh Chú tìm cách đối phó với Đức Dụ và cho triệu Lý Tông Mẫn từ Sơn Nam Tây Đạo trở về triều làm tể tướng lần nữa, còn Đức Dụ bị đẩy làm Tiết độ sứ Trấn Hải[23]. Văn Tông cũng cảm thấy bực tức vì Ngưu Lý tranh giành, nên từng nói

Diệt giặc ở Hà Bắc thì dễ, chứ diệt bằng đảng trong triều e rất khó[24].

Sau đó Lý Đức Dụ lại bị gièm pha là có qua lại mật thiết với Chương vương Thấu, mưu đồ bất chính; rồi bị đày đi xa hơn. Tể tướng Lộ Tùy đứng ra kêu xin cho Đức Dụ cũng bị đẩy làm Tiết độ sứ Trấn Hải[24]. Còn trong triều, Lý Tông Mẫn được làm tể tướng lần thứ hai nhưng cũng không được lâu. Năm 835, trong kinh thành có lời đồn việc Trịnh Chú luyện kim đan cho Văn Tông bằng cách dùng tim và gan của trẻ sơ sinh. Trịnh Chú cho rằng sự việc này là do Kinh Triệu doãn Dương Ngu Khanh chủ mưu, liền tâu với Văn Tông. Văn Tông cả giận, nhốt Ngu Khanh vào nhà giam rồi lưu đày. Lý Tông Mẫn ra sức kêu xin cho Ngu Khanh, kết quả cũng bị biếm làm Thứ sử Minh châu

Từ sau sự việc của Tống Thân Tích, Văn Tông vẫn chưa từ bỏ ý định diệt trừ hoạn quan. Ông cho rằng Lý Huấn (tức Lý Trọng Ngôn, đã tự xin đổi tên) và Trịnh Chú vốn được Vương Thủ Trừng tiến cử nên các hoạn quan sẽ không nghi ngờ hai người này, bèn bí mật liên lạc với họ và bàn kế diệt trừ hoạn quan, đoạt lấy quyền lực của Vương Thủ Trừng. Một số hoạn quan bị hai người này biếm chức và ám sát một số hoạn quan, trong đó có Trần Hoằng Chí - người bị nghi ngờ đã sát hại Đường Hiến Tông khi trước. Đến mùa đông năm đó, Trịnh Chú được cử đến Phượng Tường[25] để tập hợp lực lượng chống lại hoạn quan[24], đồng thời Văn Tông tìm cách bề ngoài thăng chức Thủ Trừng nhưng bên trong tước quyền lực, nhân đó lại trọng dụng hoạn quan Cừu Sĩ Lương vốn có hiềm khích với Thủ Trừng. Rồi sau đó, Lý HuấnTrịnh Chú dâng thư xin nhanh chóng diệt trừ Thủ Trừng. Văn Tông nghe theo, sai mang rượu độc đến buộc Thủ Trừng phải uống[6].

Trịnh Chú định đến dự lễ tang của Vương Thủ Trừng, để thu thập bằng chứng mà diệt luôn các hoạn quan khác. Tuy nhiên Lý Hiếu, người có hiềm khích với Trịnh Chú đã bí mật lập ra một kế hoạch khác để diệt cả hoạn quan và Trịnh Chú mà đến cả Văn Tông cũng không biết. Đến ngày 14 tháng 12 năm 835, thân tín của Hiếu là Hàn Ước tâu rằng có cam lộ trên một cái cây gần nhà Hàn để dụ hoạn quan mà tiêu diệt hết. Văn Tông bèn đến điện Hàm Nguyên, sai bọn Cừu Sĩ Lương đến xem cam lộ. Tuy nhiên khi Cừu Sĩ Lương đến chỗ có cam lộ thì Hàn Ước bỗng biến sắc khiến Sĩ Lương nghi ngờ. Nhận thấy gần đó có binh mai phục, Sĩ Lương kinh hãi biến sắc, vội dẫn theo Văn Tông nhanh chóng về cung. Bọn Lý Huấn bèn cho quân tấn công lên. Các hoạn quan nhanh chóng tập hợp lực lượng quân Thân Sách, cùng tổ chức phản công. Bách quan sợ hãi bỏ trốn khỏi điện. Cuối cùng quân của hoạn quan giành thắng lợi, sau đó mở một cuộc tàn sát đẫm máu vào các quan lại triều đình mà họ nghi ngờ có dính dáng đến việc này. Nhiều tể tướng và đại thần bị giết hại, như Vương Nhai, Vương Phan, Thư Nguyên Dư, ... và cả Lý Huấn, Lý Hiếu. Tổng cộng số người bị giết lên đến khoảng 1000. Trịnh Chú về sau cũng bị ám sát tại Phượng Tường[24]. Cừu Sĩ Lương biết việc này có sự tham gia của Văn Tông, nên sinh ra oán hận cả ông. Sĩ Lương dâng biểu kể tội trạng của các đại thần tham gia vào sự việc và từ đó Văn Tông nằm dưới sự kiểm soát của hoạn quan. Sử sách gọi đây là Sự biến Cam Lộ, đánh dấu sự suy giảm nghiêm trọng quyền lực của hoàng đế và triều đình và sự lộng quyền của hoạn quan. Các tể tướng mới là Trịnh Đàm[26]Lý Thạch không thể nắm được nhiều thực quyền trước bọn hoạn quan[24].

Thời kì Khai Thành (836 - 840)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân năm 836 cải nguyên là Khai Thành năm đầu. Cũng lúc đó, Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa[27]Lưu Tòng Gián dâng sớ với lời lẽ gay gắt, tố cáo Cừu Sĩ Lương và các hoạn quan khác. Sĩ Lương cũng sinh ra lo sợ, nên đồng ý cho Văn Tông cùng các tể tướng có thể quyết định một số việc lớn trong triều. Nhưng khi Văn Tông hạ lệnh an táng cho Vương Nhai và một số đại thần đã bị giết thì ngay lập tức, Cừu Sĩ Lương sai quật mộ họ, ném thi thể xuống sông. Sau đó Văn Tông lại cảm thấy hối hận vì đã nghi oan cho Tống Thân Tích, nên quyết định khôi phục chức quan cho ông ta (mặc dù đã chết).

Sau sự biến Cam Lộ, Văn Tông trở nên buồn rầu và chán nản, ít bao giờ cười và có khi còn nói chuyện một mình trong các yến tiệc. Có một lần Văn Tông đàm luận với đại thần là học sĩ Chu Trì, hỏi Trì rằng mình có thể so sánh với vị tiền vương nào. Trì nói ông chính là Nghiêu Thuấn. Văn Tông lại bảo rằng ông hỏi như vậy là muốn biết mình có bằng Chu Noản vương hay Hán Hiến Đế không. Trì ngạc nhiên và cho biết đó là vong quốc chủ. Văn Tông bảo

Xưa kia các vua Noản vương đời ChuHiến Đế đời Hán bị cường thần bức hiếp, còn trẫm lại bị chính bọn nô lệ (tức hoạn quan) bức hiếp. Xét về điểm này thì trẫm cũng đã thua họ rồi.[28]

Năm 837, Cừu Sĩ Lương lập một kế hoạch ám sát Lý Thạch nhưng bất thành. Lý Thạch lo sợ về điều này bèn xin từ chức. Triều đình cho bổ nhiệm các tể tướng mới gồm Trần Di Hành, Dương Tự PhụcLý Giác[28]. Sau đó, Ngưu Lý đảng tranh tiếp tục bùng lên khi Trịnh Đàm và Trần Di Hành là những người đứng đầu Lý đảng chống lại Dương Tự Phục và Lý Giác. Việc các tể tướng tranh giành và mưu hại lẫn nhau khiến Văn Tông cảm thấy khó khăn trong việc cai trị. Đến năm 839, Trịnh Đàm và Trần Di Hành đều bị bãi chức[28].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mẹ thái tử Vĩnh là Vương Đức phi không được Văn Tông sủng ái rồi bị Dương Hiền phi và gièm pha và chết. Thái tử Vĩnh lại thích vui chơi yến tiệc, gần tiểu nhân, nên cũng bị Hiền phi tìm cơ hãm hại. Trong năm 838, Văn Tông từng cho giam lỏng Lý Vĩnh và tính việc phế truất, nhưng nhờ sự can thiệp của đội quân Thần Sách mà ông đã bỏ ý định. Nhưng Lý Vĩnh lại chết trong năm đó, thụy là Trang Khác[28], có lời đồn chính Văn Tông đã sai người giết chết con của mình.

Sau khi thái tử chết, Hiền phi đề nghị lập em trai của Văn Tông là Yên vương Lý Dung làm hoàng thái đệ. Văn Tông đem việc này ra bàn luận với các tể tướng và Lý Giác phản đối. Do đó Văn Tông quyết định lập con nhỏ của Kính Tông là Lý Thành Mĩ làm hoàng thái tử mới. Từ năm 839, bệnh tình của Văn Tông ngày một trở nặng hơn do ám ảnh về cái chết của Trang Khác thái tử Lý Vĩnh. Mùa xuân năm 840, bệnh tình trở nặng, Văn Tông sai các hoạn quan Lưu Hoằng DậtTiết Quý Lăng triệu tể tướng Dương Tư Phục, Lý Giác vào cung phó thác thái tử Thành Mĩ. Cừu Sĩ LươngNgưu Hoằng Chí không ủng hộ Thành Mĩ mà giả lệnh Văn Tông, lấy cớ thái tử còn nhỏ, triệu hoàng đệ Dĩnh vương Triền vào cung lập làm hoàng thái đệ, giáng Thành Mĩ là Trần vương. Bách quan yết kiến Dĩnh vương ở Tư Hiền điện. Ngày 10 tháng 2 (Tân Tị), Văn Tông mất ở Thái Hòa điện. Các hoạn quan lấy Dương Tư Phục nhiếp trùng tể. Theo đề nghị của Cừu Sĩ Lương, Dĩnh vương Triền cho ép chết Trần vương Thành Mĩ, Yên vương Dung và Dương Hiền phi. Cừu Sĩ Lương vốn oán Văn Tông nên sau khi ông chết đã cho trục xuất hết nhạc công và nội thị gần gũi với ông. Ngày 20 tháng 2 (Tân Mão), Dĩnh vương Triền lên ngôi, tức là Đường Vũ Tông[28][29].

Câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Xưa kia các vua Noản vương đời ChuHiến Đế đời Hán bị cường thần bức hiếp, còn trẫm lại bị chính bọn nô lệ (tức hoạn quan) bức hiếp. Xét về điểm này thì trẫm cũng đã thua họ rồi.[28]

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các niên hiệu của Đường Văn Tông (niên hiệu, chữ Hán, bính âm, khoảng thời gian)

  • Thái Hòa (Tài hé 太和) 827-835
  • Khai Thành (開成 Kāi chéng) 836-840

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Vương Đức phi (王德妃, ? - 838), từ vị Chiêu nghi (昭仪) thăng làm Đức phi (德妃).
  2. Dương Hiền phi (楊賢妃, ? - 840).
  3. Quách thị (郭氏), cháu gái Quách thái hoàng thái hậu, bị trả về.
  • Con cái:
    • Con trai
  1. Lỗ vương → Hoàng thái tử → Trang Khác thái tử Lý Vĩnh [李永], con của Vương Đức phi.
  2. Tương vương Lý Tông Kiệm [李宗俭].
    • Con gái: Đường Văn Tông có 4 con gái[30]:
  1. Công chúa Hưng Đường
  2. Công chúa Tây Bình
  3. Công chúa Lang Ninh (mất niên hiệu Hàm Thông)
  4. Công chúa Quang Hóa (mất niên hiệu Quảng Minh)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi chú chung: Ngày tháng tại đây lấy theo lịch Julius. Nó không phải là lịch Gregory đón trước.
  2. ^ Academia Sinica
  3. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục
  4. ^ Cựu Đường thư, quyển 16
  5. ^ Hiến Tông ban đầu lập con cả Lý Ninh làm thái tử mặc dù Lý Hựu mới là con của vợ đích, đến năm 812 Lý Ninh qua đời thì Lý Hựu mới trở thành thái tử
  6. ^ a ă â b c d Cựu Đường thư, quyển 17.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 241
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 242
  9. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 243.
  10. ^ Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  11. ^ Trụ sở thuộc Tế Ninh, Sơn Đông, Trung Quốc hiện nay
  12. ^ Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc
  13. ^ Tân Đường thư, quyển 82
  14. ^ Trụ sở thuộc Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay
  15. ^ Trụ sở thuộc Vận Thành, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  16. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 244.
  17. ^ Trụ sở thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay
  18. ^ Cựu Đường thư, quyển 174
  19. ^ A Bá Tàng tộc, Khương tộc tự trị châu, Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay
  20. ^ Cựu Đường thư, quyển 175
  21. ^ Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc hiện nay
  22. ^ Trụ sở nay thuộc Hán Trung, Thiểm Tây, Trung Quốc
  23. ^ Trụ sở nay thuộc Trấn Giang, Giang Tô, Trung Quốc
  24. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 245.
  25. ^ Trụ sở nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây, Trung Quốc
  26. ^ Cựu Đường thư]], quyển 173
  27. ^ Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  28. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 246.
  29. ^ Cựu Đường thư, quyển 18
  30. ^ Tân Đường thư: Chư đế công chúa liệt truyện