Đường Tuyên Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Tuyên Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tangxuanzong.jpg
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì 846-859
Tiền nhiệm Đường Vũ Tông
Kế nhiệm Đường Ý Tông
Thông tin chung
Tên húy Lý Thầm
Niên hiệu Đại trung: 846-859
Thụy hiệu Nguyên thánh Chí minh Thành võ Hiến văn Duệ trí Chương nhân Thần thông Ý đạo Đại hiếu hoàng đế
Miếu hiệu Tuyên Tông
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Hiến Tông
Thân mẫu Hiếu Minh hoàng hậu Trịnh thị
Sinh 27 tháng 7, 810(810-07-27)
Mất 7 tháng 11, 859 (49 tuổi)

Đường Tuyên Tông (chữ Hán: 唐宣宗, 27 tháng 7 năm 810 - 7 tháng 9 năm 859, trị vì 25 tháng 4 năm 846[1][2] - 7 tháng 9 năm 859), thụy hiệu đầy đủ Nguyên thánh Chí Minh Thành Vũ Hiến Văn Duệ Trí Chương Nhân Thần Thông Ý Đạo Đại Hiếu hoàng đế (元聖至明成武獻文睿智章仁神聰懿道大孝皇帝)[3], tên thật là Lý Di (李怡), hay Lý Thầm (李忱) là vị hoàng đế thứ 17 hay 19[4] của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Đường Tuyên Tông là con trai thứ 13 của Đường Hiến Tông Lý Thuần, mẫu thân người họ Trịnh. Sau cái chết của người cháu là Đường Vũ Tông Lý Viêm (846), ông được các hoạn quan ủng hộ lên ngôi hoàng đế. Trong thời gian ở ngôi, Tuyên Tông chăm lo quốc sự, bổ dụng hiền tài, làm xuất hiện một thời đại trung hưng ngắn trong lịch sử nhà Đường mà sử gọi là Đại Trung tạm trị. Sau cái chết của ông (859), triều Đường lại tiếp tục đà xuống dốc để rồi diệt vong vào năm 907.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Di là hoàng tử thứ 13 trong số 20 người con trai của Đường Hiến Tông Lý Thuần (805 - 840). Mẫu thân của ông là người họ Trịnh, về sau được truy tôn Hiếu Minh hoàng hậu. Trịnh thị vốn là vợ lẽ của Tiết độ sứ Lý Kĩ, người bị triều Đường đánh bại và giết chết năm 807. Sau thất bại của Lý Kĩ, cả gia quyến bị bắt sung vào cung làm nô tì, trong đó Trịnh thị được bố trí phục vụ cho Quách quý phi, chính thất của Hiến Tông[5], sau đó tình cờ bà được gặp Hiến Tông rồi được sủng hạnh. Ngày 27 tháng 7 năm 810 (nhằm ngày 22 tháng 6 năm Nguyên Hòa thứ 5), Trịnh thị hạ sinh hoàng tử Lý Di ở điện Đại Minh[6]

Năm Trường Khánh nguyên niên thời hoàng huynh Đường Mục Tông Lý Hằng (con Quách quý phi), có chiếu phong vương cho các hoàng tử và hoàng đệ, trong đó Lý Di được phong tước vị Quang vương[7]. Lý Di trong những năm thiếu thời thường tỏ ra nhút nhát và ít nói, người trong cung cho là kém thông minh. Năm được hơn 10 tuổi thì bị bệnh nặng, nguy đến tính mạng, bỗng thấy có hào quang chiếu khắp người, sau đó thì khỏi. Ông thường đối xử với mọi người như là thần liêu của mình, ai cũng cho ông là người có bệnh tâm thần. Mục Tông biết được chuyện, bảo

Người này là anh vật của nhà ta, không phải là tâm thần bất ổn đâu.

Rồi ban cho ngọc như ý, ngự mã và vàng bạc. Thường mộng thấy rồng bay lên trời, có lúc đem chuyện này nói với thân mẫu Trịnh thị. Bà bảo

Những điều này tuyệt đối không được cho người khác hay, nếu không sẽ mang họa.[6]

Trải qua các thời Đường Kính Tông (824 - 827), Đường Văn Tông (827 - 840) (đều là con của Mục Tông), triều đình đa sự, Quang vương cố gắng trốn tránh không tham gia vào việc gì, và cũng nói rất hạn chế. Văn Tông thường đến nơi ở của ông tại Thập lục trạch, tìm cách dụ ông nói chuyện, xem như đó là trò vui, Văn Tông cũng gọi ông là Quang thúc. Sau khi Đường Vũ Tông (840 - 846), một người vô lễ và không biết tôn ti lên ngôi, càng tỏ ra xem thường và thiếu tôn trọng đối với Quang vương[2].

Cuối năm 845, Đường Vũ Tông lâm bệnh nặng và sang năm 846 thì không còn có thể nói được nữa. Bấy giờ, hoạn quan khuynh đảo triều đình, muốn nhân lúc này mà lập người ngu dốt lên ngôi để dễ bề thao túng, cuối cùng quyết định chọn Lý Di. Ngày 19 tháng 4 (Tân Dậu tháng 2 ÂL), hoạn quan giả chiếu chỉ của Vũ Tông, viết

Hoàng tử nhỏ tuổi, chưa đủ hiền đức để trị quốc. Quang vương Di có thể lập làm Hoàng thái thúc, đổi tên là Thầm, đảm đương quân quốc chánh sự.[2]

Thái thúc được đón từ Thập lục trạch vào cung, đổi tên là Thầm. Khi được bách quan tiếp kiến, thì như trở thành con người khác, tỏ ra thông minh nhân trí hơn người, quyết đoán chính vụ nhanh gọn, người người nể phục. Ngày 22 tháng 4 (Giáp Tí), Vũ Tông băng hà. Lấy tể tướng Lý Đức Dụ nhiếp trùng tể. Ngày 25 tháng 4 (Đinh Mão), thái thúc tức vị, xưng là Đường Tuyên Tông.

Làm hoàng thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì đầu (846 - 850)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngưu Lý đảng tranh

Tuyên Tông ngay từ đầu đã có hiềm khích với tể tướng Lý Đức Dụ chuyên quyền trong suốt thời Vũ Tông, nên muốn loại trừ. Sang tháng 4 ÂL năm đó, tang Vũ Tông đã hết, Tuyên Tông có thể thân chính. Ông tôn mẫu thân là Trịnh thị là hoàng thái hậu[2]. Công việc đầu tiên của Tuyên Tông là bãi chức tể tướng của Lý Đức Dụ, sung làm Tiết độ sứ Kinh Nam[6][8], đồng thời của bãi tướng của Trịnh Túc, Lý Hồi là các tể tướng thuộc phe đảng của Lý Đức Dụ. Trong những năm tiếp theo, Lý Đức Dụ liên tục bị giáng chức và bị lưu đày các các vùng xa xôi. Ngưu Lý đảng tranh từ thời Đường Hiến Tông từ đó chấm dứt[9]. Lý Đức Dụ về sau qua đời trong uất hận tại (851).

Đánh chết đạo sĩ Triệu Quy Chân - người từng luyện đan trường sinh cho Vũ Tông cùng bè đảng. Tháng 5 ÂL, Tuyên Tông hạ chiếu khôi phục lại Phật giáo vốn bị Vũ Tông đàn áp khi trước, chấm dứt pháp nạn Hội Xương. Lấy Hàn lâm học sĩ, Binh bộ thị lang Bạch Mẫn Trung cùng Binh bộ thị lang Lư Thương làm tể tướng mới.[2]

Mùa xuân năm 847, cải nguyên là Đại Trung năm thứ nhất. Trong năm này, ông lại phong thêm hai tể tướng mới là Thôi Nguyên ThứcVi Tông. Đầu năm 848, Tuyên Tông theo đề nghị của quần thần, xưng tôn hiệu là Thánh Kính Văn Tư Hòa Vũ Quang Hiếu hoàng đế, đại xá thiên hạ. Cùng năm này, Thái hoàng thái hậu Quách thị băng ở Hưng Khánh cung. Tuyên Tông vốn nghi ngờ thái hậu là người chủ mưu trong cái chết của Đường Hiến Tông để đưa con mình là Đường Mục Tông lên ngôi, vả lại Quách thái hậu trước kia có hiềm khích với Trịnh thái hậu, do đó Tuyên Tông đối xử tệ bạc với Quách thái hậu, khiến Quách thái hậu không vui lòng. Một hôm, Quách thái hậu lên Cần Chính lâu, muốn tự vẫn, Tuyên Tông thấy vậy cực kì tức giận. Tối hôm đó thì Quách thái hậu băng hà, do vậy có lời đồn cái chết này là do Tuyên Tông bí mật sai người hạ độc. Tuyên Tông cũng không muốn cho hợp táng Quách thái hậu với Hiến Tông mà định để Trịnh thái hậu hợp táng sau khi bà qua đời, tuy nhiên cuối cùng ông cũng phải chấp nhận táng Quách thái hậu ở Cảnh Lăng cùng với Hiến Tông, tôn thụy là Ý An hoàng hậu. Cuối năm này, tể tướng Vi Tông bị biếm làm thái tử tân khách.

Bấy giờ ở biên giới phía tây nhà Đường, bộ tộc Thổ Phiên ngày càng suy yếu. Nắm được tình hình này, Tuyên Tông chuẩn bị kế hoạch thu phục các vùng đất bị Thổ Phiên chiếm lấy sau loạn An Sử. Vào giữa năm 847, Thổ Phiên nhân triều đình bận việc tang của Vũ Tông nên liên kết với Đảng HạngHồi Cốt xâm lấn Hà Tây, Tuyên Tông sai Tiết độ sứ Hà Đông là Vương Tể dẫn quân chống trả, có thêm sự giúp đỡ của tộc Sa Đà, kết quả quân Đường giành được chiến thắng.

Tiếp đó trong các năm 848 đến 851, quân Đường liên tiếp mở các cuộc tấn công vào đất Thổ Phiên. Đầu năm 849, Tiết độ sứ Phượng Tường là Thôi Củng phá được quân Thổ, thu phục lại đất Thanh Thủy thuộc Tần châu. Sau đó Thổ Phiên sai Cung La Cấp Tàng đem 20.000 quân xâm phạm vào biên giới phía tây; Tuyên Tông sai Thác Bạt Hoài Quang chống trả, đại phá Thổ Phiên ở Nam Cốc, cuộc Cấp Tàng đầu hàng[2].

Sang năm 849, Tán phổ Luân Khủng Nhiệt của Thổ Phiên sai Tăng Mãn La Lận Chân đem quân đến Bạch Thổ Lĩnh chuẩn bị tấn công Thượng Tì Tì. Tì Tì sai tướng là Thượng Đạc La Tháp Tàng đem quân chống lại nhưng gặp bất lợi. Tì Tì để Thác Bạt Hoài Quang trấn giữ Thiện châu rồi đem 3000 người trong bộ lạc đến vùng Cam châu. Quân Thổ Phiên nghe Tì Tì đã bỏ Thiện châu bèn đuổi theo truy bắt, đến Qua châu biết Hoài Quang ở Thiện châu, bèn chia quân cướp bóc khắp nơi ở Hà Tây, giết chết đinh tráng, bắt phụ nữ và người già đem về. Mùa xuân năm 850, Nhiếp Sa châu thứ sử của Thổ Phiên là Trương Nghĩa Triều đến đầu hàng và dâng Sa châu triều đình[10]. Lúc đó ở Thổ Phiên, Luân Khủng Nhiệt tàn bạo hà khắc nên mất lòng người. Thác Bạt Hoài Quang lần lượt dụ được nhiều tướng sĩ và dân Thổ Phiên bỏ sang hàng Đường. Khủng Nhiệt lo sợ, bèn xin vào triều yết kiến Tuyên Tông và bàn việc nghị hòa, nhưng lại lấy thái độ ngang ngược và còn muốn được phong làm Tiết độ sứ một trấn trong lãnh thổ nhà Đường là Hà Vị. Không được chấp thuận, Khủng Nhiệt về nước tập hợp lực lượng cũ muốn tiếp tục quấy phá biên cương nhưng lại gặp phải thiên tai dịch bệnh nên thế lực tiếp tục suy yếu hơn[10].

Thời kì cuối (851 - 859)[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên Tông được xem là một vị vua cần mẫn và siêng năng trong việc triều chính. Ông muốn theo tấm gương của tổ tiên là Đường Thái Tông Lý Thế Dân để xây dựng nên một nền thịnh thế mới. Ông quan tâm đến việc kiểm tra năng lực của quan lại, nhất là thứ sử có các châu và luôn có phương pháp thưởng phạt rất công minh. Ngoài ra Tuyên Tông còn chủ trương tiết kiệm để tích lũy tiền bạc cho quốc khố, ví dụ như ông tổ chức lễ thành hôn cho con gái mình là Công chúa Vạn Thọ (với Trịnh Hạo) một cách tiết kiệm. Trong suốt triều Tuyên Tông, các thành viên trong hoàng tộc đều chấp hành nghiêm chỉnh pháp chế của triều đình Trong những năm này, sử sách ghi chép rất ít về những sự việc xảy ra trong ngoài triều đình, có lẽ vì nhiều nguồn tài liệu của các sử gia thời kì này đã bị thất lạc nhiều sau đời Ngũ Đại.

Năm 849, tể tướng Ngụy Phù hoăng, có chiếu phong cho Hộ bộ thượng thư Thôi Quỳ lên giữ chức Đồng bình chương sự. Cuối năm này, đại thần Lệnh Hồ Đào cùng Ngụy Mô cũng được đảm nhiệm chức tướng. Khi đó Tuyên Tông tuổi tác đã cao mà chưa lập thái tử, Ngụy Mô dâng sớ xin về việc này nhưng Tuyên Tông vẫn chưa quyết định. Sang đầu năm 852, Thôi Quy bị bãi chức tướng, chuyển sang làm Tiết độ sứ Tuyên Vũ, còn đại thần Bùi Hưu được phong lên làm đồng bình chương sự.

Năm 854, Tuyên Tông hạ chiếu xá tội cho các đại thần Vương Nhai, Thư Nguyên Dư, Giả Tốc bị các hoạn quan vu khống là có tham dự vào sự biến Cam Lộ do Lý HuấnTrịnh Chú phát động dưới thời Đường Văn Tông (835). Lúc này hoạn quan vẫn nắm rất nhiều quyền lực trong triều, đến cả Tuyên Tông là vua mà cũng không thể khống chế nổi. Ông bàn việc này với đại thần Vi Áo, Áo cho rằng Tuyên Tông nghiêm minh khiến cho hoạn quan phải khiếp sợ chứ không như những vị hoàng đế trước đó, nhưng Tuyên Tông lại bảo mình vẫn còn rất lo ngại bọn hoạn quan. Ông bàn với tể tướng Lệnh Hồ Đào việc tận tru hoạn quan, nhưng Lệnh Hồ Đào cho rằng nếu đại khai sát giới sẽ liên lụy tới người vô tội, và khuyên ông chỉ nên tìm cách hạn chế dần số hoạn quan trong cung. Hoạn quan biết việc này rất oán hận, từ đó hoạn giả, triều sĩ như nước với lửa, không dung nhau[10].

Tuyên Tông vẫn tỏ ra nghiêm minh trong việc thực thi pháp chế. Ông không thiên vị cho những người thân cận với mình mà khi họ phạm lỗi ông vẫn trừng trị đúng tội, ngoài ra ông cũng tỏ ra nghiêm khắc, vì thế Lệnh Hồ Đào mặc dù làm tướng hơn 10 năm vẫn tỏ ra sợ sệt trước hoàng đế.

Năm 855, tể tướng Bùi Hưu lại cực lực xin lập thái tử, nhưng Tuyên Tông bảo nếu lập tự rồi thì mình sẽ phải làm người an nhàn, nên không muốn làm. Đến tháng 6 ÂL năm đó, Bùi Hưu lại bị biếm làm Tiết độ sứ Tuyên Vũ. Vào năm 857, tể tướng Ngụy Mô do can gián thẳng thắn mà làm mất lòng Lệnh Hồ Đào, do đó bị biếm làm Tiết độ sứ Tây Xuyên[11]. Và sang năm 858, tể tướng Thôi Thận Do bị giáng chức làm Tiết độ sứ Đông Xuyên. Thay vào chức tể tướng là Tiêu Nghiệp cùng Hạ Hầu Tư.

Những năm cuối đời, Tuyên Tông tin theo chuyện thần tiên ma quỷ và mong được trường sinh bất tử. Năm 858, ông đã cho triệu đạo sĩ Hiên Viên Tập từ núi Phù La về kinh để giúp mình luyện đan. Con trai trưởng của Tuyên Tông là Vận vương Lý Ôn không được yêu quý, phải ở trong Thập lục trạch. Hoàng tử thứ ba là Quỳ vương Tư thì chiếm sự sủng ái của Tuyên Tông, Tuyên Tông do đó muốn để ngôi thái tử cho Quỳ vương, nhưng còn phân vân vì thân phận trưởng thứ nên chưa quyết. Đến năm 859, do lạm dụng đan dược của bọn đạo sĩ Ngu Tử ChiVương Nhạc nên Tuyên Tông trở nên nóng nảy thất thường rồi bị nổi ung nhọt ở lưng. Tháng 8 ÂL bệnh trở nặng, tể tướng và triều thần muốn vào gặp nhưng không được. Biết khó qua khỏi, Tuyên Tông phó thác Quỳ vương cho các đại thần Xa mật sứ Vương Quy Trường, Mã Công Nho, Tuyên Huy nam viện sự Vương Cư Phương ... Ba người này bất hòa với hoạn quan Vương Mậu Huyền, người giữ chức Hữu quân Trung úy và cai quản đội quân Thần Sách. Tả trung úy Thần Sách quân Vương Tông Thật bị ba người lập mưu biếm chức đến Hoài Nam[12] làm giám quân. 7 tháng 9, Tả quân phó sứ Nguyên Thật khuyên Tông Thật nên đến yết kiến Tuyên Tông trước khi rời đi, nhưng khi Tông Thật chưa vào điện thì Tuyên Tông đã băng rồi. Tông Thật nhân đó lật ngược lại thế cờ, giả chiếu chỉ rồi sai Tề Nguyên Giản đón Vận vương Ôn vào cung. Ngày Nhâm Thìn (9 tháng 9, Vận vương được lập làm hoàng thái tử, cải danh là Lý Thôi. Vương Quy Trường, Mã Công Nho, Vương Cư Phương bị gán tội rồi bị giết. Ngày Quý Tị (10 tháng 9), tuyên di chiếu cho Lệnh Hồ Đào nhiếp trùng tể. Ngày Bính Thân (13 tháng 9), Lý Thôi tức vị, xưng là Đường Ý Tông[10].

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của Tuyên Tông có thể nói là những năm thái bình cuối cùng của triều đại nhà Đường, để rồi sau đó đất nước tiếp tục lún sâu trong loạn lạc rồi chia cắt. Trong những năm ấy và đến tận khi nhà Đường diệt vong, nhân sĩ thiên hạ nhiều người tưởng nhớ đến ông, xưng tụng ông là Tiểu Thái Tông, có ý so sánh với Đường Thái Tông trước đó[10]. Các sử gia biên soạn Đường thư lấy làm tiếc vì triều chính thời Tuyên Tông rất trong sáng nhưng nguồn tài liệt viết về thời này bị thất lạc nhiều sau đời Hậu Tấn, nên chỉ có thể đưa vào sử sách số lượng thông tin không đáng kể[6]. Tuy nhiên, sử gia Âu Dương Tu trong Tân Đường thư ngoài việc khen ngợi cũng nêu ra một số khuyết điểm của Tuyên Tông là thiếu hơi hà khắc và thiếu sự khoan dung[13].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị (元昭皇后晁氏), nguyên là Triều mĩ nhân. Sinh ra Đường ý Tông, chết khoảng niên hiệu Đại Trung (847 - 860), tặng làm Chiêu dung (昭容). Sau con trưởng Lý Thôi đăng cơ, tức Đường Ý Tông, mới truy phong thụy hiệu Hoàng hậu.
  2. Ngô chiêu nghi (吴昭仪)[14].
  3. Trương tiệp dư (张婕妤).
  4. Liễu tiệp dư (柳婕妤).
  5. Lương mĩ nhân (梁美人).
  6. La tài nhân (罗才人).
  7. Sử tài nhân (史才人).
  8. Tiền thị (钱氏), phong Trường Thành quận phu nhân (长城郡夫人).
  9. Tào thị (曹氏), phong Vũ Uy quận phu nhân (武威郡夫人).
  10. Cừu thị (仇氏), phong Nam An quận phu nhân (南安郡夫人), sinh lần đầu một công chúa, năm Đại Trung thứ 5 (851) sinh một hoàng tử, nhưng chết ngay khi sinh, hưởng dương 24 tuổi, được truy tặng làm Tài nhân (才人).[15].

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đường Ý Tông Lý Thôi [李漼], ban đầu được phong làm Vận vương, mẹ là Nguyên Chiêu hoàng hậu.
  2. Tĩnh Hoài thái tử Lý Mỹ, năm Hội Xương thứ 6 (846) phong làm Ung vương, mất năm Đại Trung thứ 6 (852), truy phong.
  3. Nhã vương Lý Kính, năm Đại Trung thứ 1 (847) phong vương.
  4. Quỳ vương Lý Tư, năm Hội Xương thứ 6 phong vương, mẹ là Ngô chiêu nghi.
  5. Khánh vương Lý Nghi, năm Hội Xương thứ 6 phong vương, mất năm Đại Trung thứ 14 (860), mẹ là Sử tài nhân.
  6. Bộc vương Lý Trạch
  7. Ngạc vương Lý Nhuận, năm Đại Trung thứ 5 (851) phong vương, mất năm Càn Phù thứ 3 (876).
  8. Hoài vương Lý Hiệp, năm Đại Trung thứ 8 (854) cùng được phong vương với Chiêu, Khang vương.
  9. Chiêu vương Lý Nhuế, mất năm Càn Phù thứ 3, mẹ là Liễu tiệp dư.
  10. Khang vương Lý Vấn, mất năm Càn Phù thứ 4 (877), mẹ là Cừu tài nhân.
  11. Quảng vương Lý Ung, mất năm Càn Phù thứ 4 (877).
  12. Vệ vương Lý Quán, mất năm Đại Trung thứ 14 (860).

Gái[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Tuyên Tông có 11 con gái[16]:

  1. Trưởng nữ[14], Vạn Thọ công chúa (mẹ đẻ là Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị, lấy Trịnh Hạo).
  2. Thứ nữ[14], Vĩnh Phúc công chúa.
  3. Tam nữ[14], Tề Quốc Cung Hoài công chúa (ban đầu phong làm Tây Hoa công chúa, lấy Nghiêm Kỳ).
  4. Tứ nữ[14], Quảng Đức công chúa (lấy Vu Tông).
  5. Ngũ nữ[14], Hòa Nghĩa công chúa, "Tân Đường thư - Liệt truyện đệ 8" viết là Nghĩa Hòa công chúa.
  6. Lục nữ[14], Nhiêu An công chúa
  7. Thịnh Đường công chúa
  8. Bình Nguyên công chúa (mất khoảng niên hiệu Hàm Thông).
  9. Đường Dương công chúa
  10. Hứa Xương Trang Túc công chúa (lấy Liễu Trắc, mất khoảng niên hiệu Trung Hòa thời Đường Hy Tông).
  11. Phong Dương công chúa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Academia Sinica, Chinese-Western Calendar Converter.
  2. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 248.
  3. ^ Trung Quốc thông sử-Tùy Đường Ngũ Đại sử
  4. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục, cùng với Đường Thương Đế bị các sử gia tranh cãi về việc có nên công nhận là hoàng đế hay không
  5. ^ Tân Đường thư, quyển 77
  6. ^ a ă â b Cựu Đường thư, quyển 18 hạ.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 241
  8. ^ Trụ sở thuộc Kinh châu, Hồ Bắc, Trung Quốc ngày nay
  9. ^ Bá Dương, Edition of Zizhi Tongjian, vol. 60
  10. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 249.
  11. ^ Trụ sở nay thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc
  12. ^ Dương Châu, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  13. ^ Tân Đường thư, quyển 8
  14. ^ a ă â b c d đ Toàn Đường văn, quyển 0079
  15. ^ Diêu Bình (tháng 11 năm 2004). 唐代妇女的生命历程 (Đường đại phụ nữ đích sinh mệnh lịch trình). Thượng Hải: Tập đoàn xuất bản Thế Kỷ, nhà xuất bản sách cổ Thượng Hải. tr. 304. ISBN 753253846X. , nguyên viết trong "Đường đại mộ chí vị biên", Đại Trung 055 của Chu Thiệu Lương, Triệu Siêu, do Nhà xuất bản sách cổ Thượng Hải ấn hành năm 1992.
  16. ^ Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện