Đường Tuyên Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Tuyên Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tangxuanzong.jpg
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì  846-859
Tiền nhiệm Đường Vũ Tông
Kế nhiệm Đường Ý Tông
Tên húy
Lý Thầm
Niên hiệu
Đại trung: 846-859
Thụy hiệu Nguyên thánh Chí minh Thành võ Hiến văn Duệ trí Chương nhân Thần thông Ý đạo Đại hiếu hoàng đế
Miếu hiệu Tuyên Tông
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Hiến Tông
Thân mẫu Hiếu Minh hoàng hậu Trịnh thị
Sinh 27 tháng 7, 810(810-07-27)
Mất 7 tháng 11, 859 (49 tuổi)

Đường Tuyên Tông (810 – 859), tên thật là Lý Thầm, là vị vua thứ 17 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Năm 846, sau khi cháu ông là Đường Vũ Tông qua đời, ông lên thay, tức vua Đường Tuyên Tông. Ông cai trị từ năm 846 đến năm 859. Niên hiệu ông dùng là Đại Trung. Trong thời ông, Phật giáo - vốn bị Vũ Tông thường xuyên đàn áp - được phục hưng. Năm 859, ông qua đời ở tuổi 49, con trai trưởng của ông là Lý Thôi lên thay, tức vua Đường Ý Tông (859 - 874), truy miếu hiệu cho cha mình là Tuyên Tông, thụy hiệuNguyên thánh Chí minh Thành võ Hiến văn Duệ trí Chương nhân Thần thông Ý đạo Đại hiếu hoàng đế 元聖至明成武獻文睿智章仁神聰懿道大孝皇帝.

Mục lục

[sửa] Gia đình

[sửa] Hậu phi

  1. Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị, nguyên là Triều mĩ nhân.
  2. Ngô chiêu nghi[1].
  3. Trương tiệp dư.
  4. Lương mĩ nhân.
  5. La tài nhân.
  6. Sử tài nhân
  7. Tiền thị, phong Trường Thành quận phu nhân.
  8. Tào thị, phong Vũ Uy quận phu nhân.
  9. Cừu thị, phong Nam An quận phu nhân, sinh lần đầu một công chúa, năm Đại Trung thứ 5 (851) sinh một hoàng tử, nhưng chết ngay khi sinh, hưởng dương 24 tuổi, được truy tặng làm tài nhân[2].

[sửa] Con cái

[sửa] Trai

Đường Tuyên Tông có 12 con trai, Nguyên Chiêu hoàng hậu sinh ra Đường Ý Tông, tài liệu về mẹ đẻ của các hoàng tử khác không có hoặc thất lạc.

  1. Ý Tông Lý Thôi, tên khi sinh ra là Ôn, ban đầu được phong làm Vận vương.
  2. Tĩnh Hoài thái tử Lý Mỹ, năm Hội Xương thứ 6 (846) phong làm Ung vương, mất năm Đại Trung thứ 6 (852), truy phong.
  3. Nhã vương Lý Kính, năm Đại Trung thứ 1 (847) phong vương.
  4. Quỳ vương Lý Tư, năm Hội Xương thứ 6 phong vương.
  5. Khánh vương Lý Nghi, năm Hội Xương thứ 6 phong vương, mất năm Đại Trung thứ 14 (860).
  6. Bộc vương Lý Trạch
  7. Ngạc vương Lý Nhuận, năm Đại Trung thứ 5 (851) phong vương, mất năm Càn Phù thứ 3 (876).
  8. Hoài vương Lý Hiệp, năm Đại Trung thứ 8 (854) cùng được phong vương với Chiêu, Khang vương.
  9. Chiêu vương Lý Nhuế, mất năm Càn Phù thứ 3.
  10. Khang vương Lý Vấn, mất năm Càn Phù thứ 4 (877).
  11. Quảng vương Lý Ung, mất năm Càn Phù thứ 4 (877).
  12. Vệ vương Lý Quán, mất năm Đại Trung thứ 14 (860).

[sửa] Gái

Đường Tuyên Tông có 11 con gái[3]:

  1. Trưởng nữ[1], Vạn Thọ công chúa (mẹ đẻ là Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị, lấy Trịnh Hạo).
  2. Thứ nữ[1], Vĩnh Phúc công chúa.
  3. Tam nữ[1], Tề Quốc Cung Hoài công chúa (ban đầu phong làm Tây Hoa công chúa, lấy Nghiêm Kỳ).
  4. Tứ nữ[1], Quảng Đức công chúa (lấy Vu Tông).
  5. Ngũ nữ[1], Hòa Nghĩa công chúa, "Tân Đường thư - Liệt truyện đệ 8" viết là Nghĩa Hòa công chúa.
  6. Lục nữ[1], Nhiêu An công chúa
  7. Thịnh Đường công chúa
  8. Bình Nguyên công chúa (mất khoảng niên hiệu Hàm Thông).
  9. Đường Dương công chúa
  10. Hứa Xương Trang Túc công chúa (lấy Liễu Trắc, mất khoảng niên hiệu Trung Hòa thời Đường Hy Tông).
  11. Phong Dương công chúa.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ a b c d e f g Toàn Đường văn, quyển 0079
  2. ^ Diêu Bình (tháng 11 năm 2004). 唐代妇女的生命历程 (Đường đại phụ nữ đích sinh mệnh lịch trình). Thượng Hải: Tập đoàn xuất bản Thế Kỷ, nhà xuất bản sách cổ Thượng Hải. 304. ISBN 753253846X. http://www.guji.com.cn. , nguyên viết trong "Đường đại mộ chí vị biên", Đại Trung 055 của Chu Thiệu Lương, Triệu Siêu, do Nhà xuất bản sách cổ Thượng Hải ấn hành năm 1992.
  3. ^ Tân Đường thư•chư đế công chúa liệt truyện
Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác