Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Lý Thầm.
Đường Tuyên Tông (810 – 859), tên thật là Lý Thầm, là vị vua thứ 17 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Năm 846, sau khi cháu ông là Đường Vũ Tông qua đời, ông lên thay, tức vua Đường Tuyên Tông. Ông cai trị từ năm 846 đến năm 859. Niên hiệu ông dùng là Đại Trung. Trong thời ông, Phật giáo - vốn bị Vũ Tông thường xuyên đàn áp - được phục hưng. Năm 859, ông qua đời ở tuổi 49, con trai trưởng của ông là Lý Thôi lên thay, tức vua Đường Ý Tông (859 - 874), truy miếu hiệu cho cha mình là Tuyên Tông, thụy hiệu là Nguyên thánh Chí minh Thành võ Hiến văn Duệ trí Chương nhân Thần thông Ý đạo Đại hiếu hoàng đế 元聖至明成武獻文睿智章仁神聰懿道大孝皇帝.
[sửa] Gia đình
[sửa] Hậu phi
- Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị, nguyên là Triều mĩ nhân.
- Ngô chiêu nghi[1].
- Trương tiệp dư.
- Lương mĩ nhân.
- La tài nhân.
- Sử tài nhân
- Tiền thị, phong Trường Thành quận phu nhân.
- Tào thị, phong Vũ Uy quận phu nhân.
- Cừu thị, phong Nam An quận phu nhân, sinh lần đầu một công chúa, năm Đại Trung thứ 5 (851) sinh một hoàng tử, nhưng chết ngay khi sinh, hưởng dương 24 tuổi, được truy tặng làm tài nhân[2].
[sửa] Con cái
[sửa] Trai
Đường Tuyên Tông có 12 con trai, Nguyên Chiêu hoàng hậu sinh ra Đường Ý Tông, tài liệu về mẹ đẻ của các hoàng tử khác không có hoặc thất lạc.
- Ý Tông Lý Thôi, tên khi sinh ra là Ôn, ban đầu được phong làm Vận vương.
- Tĩnh Hoài thái tử Lý Mỹ, năm Hội Xương thứ 6 (846) phong làm Ung vương, mất năm Đại Trung thứ 6 (852), truy phong.
- Nhã vương Lý Kính, năm Đại Trung thứ 1 (847) phong vương.
- Quỳ vương Lý Tư, năm Hội Xương thứ 6 phong vương.
- Khánh vương Lý Nghi, năm Hội Xương thứ 6 phong vương, mất năm Đại Trung thứ 14 (860).
- Bộc vương Lý Trạch
- Ngạc vương Lý Nhuận, năm Đại Trung thứ 5 (851) phong vương, mất năm Càn Phù thứ 3 (876).
- Hoài vương Lý Hiệp, năm Đại Trung thứ 8 (854) cùng được phong vương với Chiêu, Khang vương.
- Chiêu vương Lý Nhuế, mất năm Càn Phù thứ 3.
- Khang vương Lý Vấn, mất năm Càn Phù thứ 4 (877).
- Quảng vương Lý Ung, mất năm Càn Phù thứ 4 (877).
- Vệ vương Lý Quán, mất năm Đại Trung thứ 14 (860).
Đường Tuyên Tông có 11 con gái[3]:
- Trưởng nữ[1], Vạn Thọ công chúa (mẹ đẻ là Nguyên Chiêu hoàng hậu Triều thị, lấy Trịnh Hạo).
- Thứ nữ[1], Vĩnh Phúc công chúa.
- Tam nữ[1], Tề Quốc Cung Hoài công chúa (ban đầu phong làm Tây Hoa công chúa, lấy Nghiêm Kỳ).
- Tứ nữ[1], Quảng Đức công chúa (lấy Vu Tông).
- Ngũ nữ[1], Hòa Nghĩa công chúa, "Tân Đường thư - Liệt truyện đệ 8" viết là Nghĩa Hòa công chúa.
- Lục nữ[1], Nhiêu An công chúa
- Thịnh Đường công chúa
- Bình Nguyên công chúa (mất khoảng niên hiệu Hàm Thông).
- Đường Dương công chúa
- Hứa Xương Trang Túc công chúa (lấy Liễu Trắc, mất khoảng niên hiệu Trung Hòa thời Đường Hy Tông).
- Phong Dương công chúa.
[sửa] Ghi chú
|
Các vua nhà Đường |
|
|
|
|
|
|
|
1: Lần 1 · 2: Lần 2 · Xen giữa lần 1 của Duệ Tông và lần 2 của Trung Tông là thời kỳ trị vì của Võ Tắc Thiên từ năm 690 tới năm 705
|
|
|
|
Bài viết này còn sơ khai trong lĩnh vực Lịch sử.
Chúng ta rất cần những nỗ lực thay đổi để bài viết hoàn thiện hơn.
Bạn có thể giúp đỡ bằng cách viết bổ sung (trợ giúp). |
|