Đường Trung Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Trung Tông (唐中宗)
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tang Zhongzong.png
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì  lần 1: 3/1/684 – 26/2/684
lần 2: 23/2/705 [1]-3/7/710
Tiền nhiệm lần 1: Đường Cao Tông
lần 2: Võ Tắc Thiên (nhà Võ Chu)
Kế nhiệm lần 1: Đường Duệ Tông
lần 2: Đường Thương Đế
Thê thiếp Xem văn bản.
Hậu duệ
Xem văn bản.
Tên thật
Lý Hiển (李顯), Lý Triết[2] (李哲), Lý Hiển [3], Võ Hiển[4] (武顯), Lý Hiển[5] (李顯)
Tước hiệu
Hoàng đế
Thụy hiệu Hiếu Hòa hoàng đế[7] (孝和皇帝)
Hiếu Hòa Đại Thánh hoàng đế[8] (孝和大圣皇帝)
Đại Hòa Đại Thánh
Đại Hòa Đại Thánh Đại Chiêu Hiếu hoàng đế[9](大和大聖大昭孝皇帝)
Miếu hiệu Trung Tông (中宗)
Triều đại nhà Đường
Thân phụ Đường Cao Tông Lý Trị
Thân mẫu Võ Tắc Thiên
Sinh 26/11/ 656
Mất 3/7/710
Trung Quốc
An táng Định lăng

Đường Trung Tông (唐中宗) (26 tháng 11 năm 6563 tháng 7 năm 710), tên là Lý Hiển (李顯), có lúc được gọi là Lý Triết (李哲) và Vũ Hiển (武顯), là hoàng đế thứ 4 của nhà Đường trong lịch sử Trung Hoa. Ông cai trị một thời gian ngắn trong năm 684 và sau đó trở lại ngôi vua từ năm 705- 710 với niên hiệu là Tự Thánh (嗣聖).

Đường Trung Tông là con trai của Đường Cao TôngVõ Tắc Thiên. Ông đã kế vị phụ hoàng năm 684. Tuy nhiên, mẹ ông là Võ Tắc Thiên đã phế ông một tháng sau để đưa em trai ông là Đường Duệ Tông lên thay. Ông bị đưa đi các tỉnh và bị quản thúc tại cung. Sáu năm sau, Duệ Tông từ bỏ ngai vàng nhường cho mẹ mình và Võ Tắc Thiên chính thức tự xưng là hoàng đế còn Duệ Tông được phong làm Thái tử.

Mục lục

Tiểu sử [sửa]

Lý Hiển ban đầu được phong là Chu vương, sau cải thành Anh vương. Do hai người anh là Lý HoằngLý Hiền lần lượt bị phế truất địa vị thái tử nên ông được lập làm thái tử. Sau khi lên ngôi, ông đã phong cho cha đẻ của Vi hoàng hậu là Vi Huyền Trinh làm thị trung, một chức quan to. Điều này bị một số quan chức do Bùi Viêm - một người thân tín của Võ Tắc Thiên - đứng đầu, phản đối. Ông đã mạt sát các quan và kiên quyết làm theo ý mình. Kết quả ông bị Võ thái hậu phế truất chỉ sau một tháng trị vì. Ông bị giáng xuống làm Lư Lăng vương và giam lỏng tại Quân Châu (nay là trấn Quân Châu, huyện cấp thị Đan Giang Khẩu, địa cấp thị Thập Yển, tỉnh Hồ Bắc) và Phòng Châu (nay là huyện Phòng, địa cấp thị Thập Yển, tỉnh Hồ Bắc). Năm 698, nhờ sự thuyết phục của Địch Nhân Kiệt cùng một số quan chức cao cấp khác, ông được Võ hoàng đế cho phép trở về kinh đô và tháng 10 năm đó được phong làm thái tử. Năm 705, các quan lại cao cấp buộc Võ hoàng đế phải thoái vị và đưa ông lên làm hoàng đế lần thứ hai, khôi phục lại quốc hiệu nhà Đường.

Do từng đồng cam cộng khổ khi bị giam cầm lâu ngày nên Trung Tông rất tín nhiệm Vi hoàng hậu. Ông phong tước vương cho cha đẻ của hoàng hậu, cho con gái được Vi hậu sinh ra là công chúa An Lạc Lý Khỏa Nhi tham dự triều chính. Bản thân công chúa An Lạc cũng hi vọng được ông lập làm hoàng thái nữ để kế vị. Bản thân Vi hậu cũng hi vọng học Võ Tắc Thiên làm hoàng đế, nên ra sức lộng quyền, nhăm nhe phế bỏ Lý Hiển để tự mình làm Hoàng đế.

Năm 710, có quan đại thần là Yến Khâm Dung dâng sớ nói: “Hoàng hậu dâm loạn lại can dự đến việc triều đình, nay cấu kết với bè đảng, có ý định làm phản”. Lý Hiển nghe xong, không nói gì, cho lui. Trên đường về, Yến Khâm Dung bị vây cánh của Vi Hoàng hậu giết chết, Lý Hiển nghe tin, cả ngày buồn bã không vui. Vi Hoàng hậu biết rằng Lý Hiển bắt đầu thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho mình.

Tháng 7 năm 710 ông chết, được táng tại Định lăng. Người ta cho rằng Vi hoàng hậu cùng công chúa An Lạc, do lo sợ bị ông tra cứu, đã cho người đầu độc ông, vì một số quan lại như Lang NgậpYến Khâm Dung tố giác Vi hậu loạn dâm còn Lý Khỏa Nhi cùng chồng là Võ Duyên Tú có ý định lật đổ nhà Đường.

Sau khi hạ độc giết chết Lý Hiển, Vi Hoàng hậu giả chiếu chỉ, lập một người con còn rất nhỏ của Lý Hiển là Lý Trọng Mậu lên làm Hoàng đế để tiện bề thao túng quyền lực trong triều đình, từng bước thực hiện tham vọng của mình. Tuy nhiên, Vi hậu và công chúa An Lạc đều bị quân đội do Lý Long Cơcông chúa Thái Bình chỉ huy giết chết sau đó không lâu. Nhà Đường được bảo tồn, Đường Duệ Tông em ông lại làm vua lần thứ hai.

Niên hiệu [sửa]

Tháng của niên hiệu dưới đây tính theo âm lịch, không phải dương lịch như trong hộp thông tin.

  • Tự Thánh: tháng giêng năm 684 - tháng hai năm 684
  • Thần Long: tháng giêng năm 705 - tháng chín năm 707
  • Cảnh Long: tháng chín năm 707 - tháng sáu năm 710.

Gia đình [sửa]

Hậu phi [sửa]

Con cái [sửa]

Trai [sửa]

Gái [sửa]

Đường Trung Tông có 8 con gái[10]

  • Tân Đô công chúa, lấy Võ Duyên Huy.
  • Nghi Thành công chúa (ban đầu phong là Nghĩa An quận chúa, lấy Bùi Tốn).
  • Định An công chúa (ban đầu phong là Tân Ninh quận chúa, lấy Vương Đồng Kiểu, sau lấy Vi Trạc, rồi lại lấy Thôi Tiển.
  • Trường Ninh công chúa (mẹ là Vi thứ nhân, lấy Dương Thận Giao, sau lấy Tô Ngạn Bá.
  • Vĩnh Thọ công chúa, chết sớm.
  • Vĩnh Thái công chúa Lý Tiên Huệ (lấy Võ Duyên Cơ).
  • An Lạc công chúa Lý Khỏa Nhi (lấy Võ Sùng Huấn, sau lấy Võ Duyên Tú).
  • Thành An công chúa (tự Quý Khương, ban đầu phong là Tân Bình công chúa, lấy Vi Tiệp.)

Ghi chú [sửa]

  1. ^ Phục ngôi vị 3 ngày sau cuộc chính biến chấm dứt quyền lực mẹ ông.
  2. ^ Tên được đổi thành Triết vào năm 677.
  3. ^ Tên ông lại được đổi thành Hiển khi ông được tái phong làm thái tử tháng 10 năm 698. Tên này đã trở thành tên húy của ông khi ông lại lên ngôi năm 705.
  4. ^ Đổi họ năm 700.
  5. ^ Họ đổi trở lại thành Lý năm 705.
  6. ^ Bị mẹ đẻ phế truất.
  7. ^ Cựu Đường thư, quyển 7, đặt khi mất.
  8. ^ Đặt năm 749.
  9. ^ Đặt năm 754.
  10. ^ Tân Đường thư - Chư đế công chúa liệt truyện