Thượng Quan Uyển Nhi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thượng Quan Chiêu Dung
上官昭容
Shangguan zhao rong.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Đường Trung Tông
Tên đầy đủ Thượng Quan Uyển Nhi
上官婉儿
Thụy hiệu Huệ Văn (惠文)
Hoàng tộc nhà Đường
Thân phụ Thượng Quan Đình Chi
Thân mẫu Trịnh phu nhân
Thượng Quan Uyển Nhi
tên tiếng Trung
Phồn thể 上官婉兒
Giản thể 上官婉儿
Tên tiếng Nhật
Kanji 上官婉児
Hiragana じょうかんえんじ

Thượng Quan Uyển Nhi (chữ Hán: 上官婉儿; 664 - 21 tháng 7, 710), còn gọi là Thượng Quan Chiêu dung (上官昭容), là một trong những nữ nhân nổi tiếng của lịch sử Trung Quốc vì tài năng về thơ phú, thư pháp, chính trị trong thời đại nhà Đường.

Bà được biết đến với vai trò là nữ quan thân cận của Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên, giữ phong hiệu Cân Quắc tể tướng (巾帼宰相), quản lý mọi việc văn bản, thi thơ trong triều đình. Về sau bà trở thành phi tần của Đường Trung Tông Lý Hiển, tiếp tục can dự lớn về triều chính. Khi xảy ra Đường Long chi biến (唐隆之变), bà bị Đường Huyền Tông Lý Long Cơ xử tử.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Uyển Nhi người Thiểm Châu, nay là Hà Nam, Tam Môn giáp. Cha Uyển Nhi là Thượng Quan Đình Chi (上官庭芝), mẹ là Trịnh phu nhân. Thời Đường Cao Tông, ông nội bà là Thượng Quan Nghi (上官儀) vì bí mật theo lệnh vua soạn chiếu phế truất Võ hậu mà bị Võ hậu hại chết. Cha và ông bà đều bị chém, riêng Trịnh phu nhân có người em trai là Trịnh Hưu Viễn (郑休远), đang làm Thái thường Thiếu khanh nên được tha tội. Hai mẹ con bà từ đó làm nô lệ trong Dịch đình.

Trong cung, Uyển Nhi được giáo dục văn thơ, lịch sử rất bài bản, bản thân bà thông minh mẫn tiệp dị thường, nên mau chóng nổi tiếng trong cung[1].

Thời Võ Tắc Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nghi Phụng thứ 2 (677), Võ hậu triệu kiến Uyển Nhi. Bà đối đáp trôi chảy, cử chỉ đoan trang đúng lễ, rất được Võ hậu yêu mến, xóa bỏ thân phận nô tì, giao cho việc soạn thảo chiếu thư trong cung. Từ đó bà trở thành tâm phúc của Võ hậu, lúc nào cũng theo hầu và đảm nhận trọng trách soạn chiếu thư, ban bố mệnh lệnh từ Võ hậu.

Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự.Năm 690, Võ hậu xưng làm Hoàng đế, cướp ngôi nhà Đường, lập ra nhà Võ Chu, đặt niên hiệu Thiên Thụ (天授), trở thành vị Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thượng Quan Uyển Nhi được ban làm Nội xá nhân (内舍人), cận thần của Nữ hoàng đế. Năm Thánh Lịch (698), Uyển Nhi được Võ Tắc thiên giao hoàn toàn trọng trách xử lý tấu chương, quyền thế bậc nhất triều đình, trở thành nhân vật chính trị quan trọng.

Trong thời gian này, Uyển Nhi đem lòng thương yêu một trong những người tình của Võ Tắc Thiên, và khi Nữ hoàng phát hiện sự việc, bà đã trừng phạt bà bằng cách khắc hình bông hoa lên trán Uyển Nhi. Tuy nhiên, vết khắc đó lại càng khiến bà xinh đẹp hơn, các phụ nữ quý tộc thấy thế và bắt chước theo, tạo nên phong cách trang trí đặc trưng của phụ nữ quý tộc nhà Đường.

Thời Đường Trung Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Uyển Nhi cùng Vi Hậu, vợ của Đường Trung Tông Lý Hiển, dính vào mối tình tay ba với Võ Tam Tư (武三思). Để tránh những rắc rối, nên ngay sau khi Đường Trung Tông buộc mẹ là Võ Tắc Thiên thoái vị để khôi phục nhà Đường sau nhiều năm bị gián đoạn, Võ Tam Tư đã dâng Thượng Quan Uyển Nhi cho Trung Tông. Uyển Nhi được phong làm Chiêu dung (昭容), tiếp tục cai quản mảng soạn thảo văn tịch trong cung.

Đường Trung Tông đã có thời gian dài tiếp xúc với Uyển Nhi, hiểu rõ sắc đẹp và tài năng của bà, và rất sủng ái Uyển Nhi, bà trở thành một trong những ái phi của Trung Tông. Mẹ bà là Trịnh thị được phong Phái quốc phu nhân. Quyền lực của Uyển Nhi ngày một lớn ở chốn hậu cung, nhưng vẫn duy trì chức quan văn Chiêu dung trong hoàng cung, một sự nghiệp chưa từng có với một phi tần[1]... Dẫu vậy, Uyển Nhi vẫn duy trì cuộc tình với Võ Tam Tư.

Đường Trung Tông là người bạc nhược, không làm gì hết với lời đồn đại về vợ của mình. Vi hậu là người có dã tâm, mong muốn được như Võ Tắc Thiên, lập ra triều đại cai trị của riêng mình, ý định đó được An Lạc công chúa (安乐公主) và Uyển Nhi hết sức khuyến khích[1]. Do đó, mục tiêu của họ là lật đổ Lý Trọng Tuấn hiện đang là Hoàng thái tử. An Lạc công chúa cố nói xấu Thái tử nhằm cho Trung Tông phế truất ngôi Thái tử mà lập mình làm Hoàng thái nữ nhưng bị khước từ, do đó An Lạc trở nên thù ghét cha mình. Biết tin, Trọng Tuấn làm phản, sau đó bị hại chết.

Vi hậu bấy giờ quyết định gia tăng thanh thế của mình, phong tước vị cho rất nhiều con cháu thân thuộc với âm mưu thay thế triều Đường bằng một triều đại của riêng mình. Bà ta đầu độc Trung Tông, tính nhân đó mà chiếm ngôi. Nhưng Uyển Nhi và Thái Bình công chúa đã theo di chiếu lập Lý Trọng Mậu lên ngôi, tức Đường Thương Đế, Vi Hậu trở thành Thái Hậu, lâm triều chấp chính.

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ tư đời Đường Thương Đế (710), Lâm Tri vương Lý Long Cơ dấy phát cuộc chính biến, khởi binh tiêu diệt Vi Hậu và phe đảng. Thượng Quan Uyển Nhi bị bắt chung với Vi Hậu để xử trảm, lúc bấy giờ bà gần bốn mươi sáu tuổi.

Năm Cảnh Vân thứ 2 (711), bà được khôi phục danh hiệu Chiêu dung, ban thụy hiệuHuệ Văn (惠文).

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời Thượng Quan Uyển Nhi, theo những sử gia Nho giáo, là ví dụ nổi trội cho một hình mẫu phụ nữ tài năng nhưng phóng đãng[1]. Mối quan hệ phức tạp của Thượng Quan Uyển Nhi với Võ Tam Tư (người tình), Vi Hậu (đồng minh và tình địch), Trung Tông (hoàng đế và chồng) có lẽ luôn bị coi là trái luân thường đạo lý, là đầy rẫy âm mưu. Nhưng cũng cần đề cập tới một thực tế là, mọi điều có thể sẽ tồi tệ hơn nhiều nếu Vi Hậu và công chúa An Lạc bắt đầu một triều đại mới kiểu "gia đình trị’’ họ Vi mà không có sự can thiệp của nhiều thế lực khác, trong đó có Thượng Quan Uyển Nhi[1].

Bài tựa của Yên Quốc Công Trương Duyệt viết trong "Phong Nhã chi thanh, Lưu ư lai diệp" có đoạn[1]:

…Người nầy có trí tuệ nhạy bén, sáng suốt, học thức rộng sâu. Văn chương lưu loát, ý tứ thâm trầm, múa bút tợ mây bay, câu văn như gấm dệt. Trước có bà Ban (chỉ Ban Chiêu) tài ba viết sử, nay có Nữ Thượng Thư quyết đoán công việc thần tình. Bà Chiêu Dung (Thượng Quan Uyển Nhi) phục vụ hai trào tốt đẹp. Giải quyết nhanh gọn, tiếp xúc khéo léo. Đời Hán ca tụng người đẹp họ Ban, chưa chắc tài ba bằng Thượng Chiêu Dung: một lẽ là văn chương kiệt xuất, hai là công lao phụ tá cho vua không nhỏ…

Người đời khen tặng Uyển Nhi:

Khuê gian hữu kỳ nữ,
Ý thái mạn thanh tân.
Chấp xứng xứng thiên hạ,
Hoài thư thư Hán Tần.
Ân ân lao án độc,
Mạch mạch niệm li nhân.
Đạm đãng giang hồ viễn,
Thuỳ kham đạo khổ tân ?
  • Dịch:
Nữ nhi có bậc kỳ tài,
Dung nghi đẹp đẽ, văn bài thanh tân.
Tài năng thiên hạ khó cân,
Ghi tên sử sách, Hán Tần chẳng thua.
Công lao giúp nước phò vua,
Văn chương bình phẩm, cợt đùa, ngợi khen.
Hồng nhan bạc mệnh có tên,
"Nữ lưu cân quắc" ai quên được nào ?

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]