Đô đốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đô đốc (chữ Hán: 都督) dưới thời phong kiến của Trung QuốcViệt Nam là chức quân chính cao cấp. Trải qua các thời kỳ khác nhau đô đốc có những quyền lực khác nhau. Ngày nay, trong tiếng Việt, đô đốc được hiểu như là quân hàm của sĩ quan cao cấp trong nhiều lực lượng Hải quân các quốc gia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc
  • Đô đốc là chức quan quân chính cao cấp địa phương thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều gọi là Trì tiết đô đốc. Trì tiết đô đốc vốn là tướng lĩnh do trung ương cử đi các địa phương để lãnh việc quân, về sau dần có quyền lớn và kiêm thứ sử các châu và trở thành quan lớn nhất về quân chính.
  • Thời Bắc Chu thi hành chế độ phủ binh. Dưới Đại đô đốc, Soái đô đốc có Đô đốc, trật Thất mệnh.
  • Thời Đường, vào năm 624 cải gọi Tổng quản làm Đô đốc. Có Đại, Trung, Hạ Đô đốc phủ, mỗi phủ có một Đô đốc, phẩm trật có phân biệt tòng nhị phẩm, chánh tam phẩm hoặc tòng tam phẩm phụ trách quản lý thành luỹ, binh mã giáp trượng, lương thực...
  • Thời Nam Tống lấy Đô đốc quân mã làm quan thống binh do Tể tướng đích thân cử. Dưới một cấp gọi là Đồng đô đốc quan mã, Đốc thị quân mã. Nơi làm việc gọi là Đô đốc phủ.
  • Thời Nguyên cũng đặt Đại đô đốc phủ, Chánh nhị phẩm.
  • Thời Minh đặt Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Tiền quân và Hậu quân ứng với 5 Đô đốc phủ. Mỗi phủ có Tả, Hữu đô đốc trật Chánh nhất phẩm, Đô đốc đồng tri, Đô đốc thiêm sự mỗi chức 2 người, Tòng nhất phẩm.
Tại Việt Nam
  • Vào năm Quang Thái, nhà Trần có đặt chức Đô đốc ở cấp lộ. Tháng 12 năm Tân Tỵ (1461), Lê Lộng được bổ dụng làm Đô đốc Bình chương quân quốc trọng sự.
  • Đầu thời nhà Lê chức Đô đốc đứng đầu võ ban, Bình chương quân quốc trọng sự là Tể tướng.
  • Tháng 4 năm Bính Tuất (1466), triều đình bắt đầu đặt 5 phủ là Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ và Bắc quân phủ cũng gọi là Ngũ quân Đô đốc phủ. Có các chức Tả/Hữu đô đốc, Đô đốc đồng tri, Đô đốc thiêm sự, chuyên giữ việc quân.
  • Quan chế đời Hồng Đức cho Tả/Hữu Đô đốc trật Tòng Nhất phẩm, ngang với Tam thiếu
  • Quan chế đời Bảo Thái cho Tòng Nhất phẩm, ngang với Thái tử tam thái

Ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Một số quốc gia còn chia quân hàm này thành quân hàm Đô đốc Hạm đội hoặc Thủy sư đô đốcĐô đốc (Admiral). Quân hàm Đô đốc Hạm đội (Fleet Admiral ở Mỹ, Admiral of the Fleet ở Anh) là quân hàm cao nhất trong hải quân, tương đương hàm Thống tướng, Thống chế hay Nguyên soái. Tuy nhiên, trong nhiều quốc gia, quân hàm Đô đốc là quân hàm cao nhất của lực lượng hải quân, tương đương Đại tướng.

Tại Trung Quốc, Hải quân thượng tướng (海軍上將) là quân hàm tối cao của binh chủng hải quân.

Quân hàm Đô đốc Hải quân Việt Nam

Trong Hải quân Nhân dân Việt Nam, quân hàm này tương đương Thượng tướng. Quân hàm Đô đốc được quy định lần đầu tiên trong luật ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Cho đến nay mới có 2 sĩ quan Hải quân Nhân dân Việt Nam được phong hàm Đô đốc là Giáp Văn Cương (1921-1990) phong hàm năm 1988 và Nguyễn Văn Hiến phong hàm năm 2011. Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Các quân hàm tương đương cấp tướng, dưới hàm Đô đốc gồm có

Trong Hải quân Pháp có các quân hàm sau đây:

Trước đây từng có cấp bậc Đô đốc Pháp quốc. Từ năm 1830 đến năm 1869, đã có 12 quân nhân được phong Đô đốc Pháp quốc (Amiral de France). Từ đó trở đi không ai được phong cấp bậc này nữa. Ngày 29 tháng 6 năm 1939, theo một sắc lệnh, Đô đốc Darlan được phong Đô đốc Hạm đội (Amiral de la Flotte) để khỏi "lép vế" trước đồng nhiệm Anh mang quân hàm Admiral of the Fleet, nhưng đây chỉ là danh xưng thuần túy chứ không phải là một quân hàm riêng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phần lịch sử tham khảo Từ điển chức quan Việt Nam, tác giả Đỗ Văn Ninh. Nhà xuất bản Thanh niên, xuất bản năm 2006