Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
中国人民解放军海军
Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hiệu kỳ Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hoạt động kể từ tháng chín 1950
Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Quy mô 250,000 người
14 Tàu khu trục
28 Tàu frigate
3 SSBN
5~7 SSN
56 SSK
58 tàu đổ bộ
~80 tàu chiến duyên hải (hỏa tiễn)
27 Tàu đổ bộ lớn
31 Tàu đổ bộ vừa
200+ fast attack craft
Tham chiến Nội chiến Trung Quốc
Hải chiến Hoàng Sa
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Chống lại hải tặc Somalia
Các tư lệnh
Chỉ huy
hiện thời
Đô đốc Ngô Thắng Lợi

Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc hay Hải quân Trung Quốc (giản thể: 中國人民解放軍海軍; phồn thể: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân Hải quân) là lực lượng hải quân của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Trước thập niên 1990, Hải quân Trung Quốc đóng vai trò thứ yếu so với Lục quân. Từ thập niên 1990 đến nay, lực lượng hải quân được Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa; phát triển nhanh chóng, đến nay bao gồm thêm 35.000 Hải quân Biên phòng và 56.000 Thủy quân Lục chiến, cùng 56.000 quân thuộc Lực lượng Hải quân Không chiến với hàng trăm chiến đấu cơ trên bờ và các trực thăng trên các chiến hạm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố "để chống bọn đế quốc xâm lược, ta cần có một hải quân hùng mạnh.". Năm sau, vào tháng 3 năm 1950, trường Sĩ quan Hải quân được thành lập tại Đại Liên với đa số huấn luyện viên người Nga. Tháng 9 cùng năm, Hải quân Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc chính thức thành lập, quân số khởi đầu chọn từ các lực lượng hải quân địa phương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu tại Khương Yển (nay đặt tại Thái Châu, thuộc tỉnh Giang Tô). Lực lượng này thoạt đầu chỉ là một nhóm chiến hạm ô hợp tịch thu của Trung Hoa Quốc Dân đảng, và hai năm sau tăng cường thêm lực lượng không chiến. Giống như tổ chức quân đội chung, các chính ủy đều được đưa vào mỗi chiến hạm để nắm chắc các hạm trưởng.

Đến năm 1954, số cố vấn hải quân Liên Xô tăng lên đến 2.500 người – tỉ lệ một cố vấn Liên Xô cho 30 quân nhân hải quân Trung Quốc – và Liên Xô bắt đầu viện trợ các loại chiến hạm tối tân hơn. Với viện trợ của Liên Xô, năm 1954-1955, Hải quân Trung Quốc tổ chức lại thành ba hạm đội. Các chức vụ và cấp bậc sĩ quan hải quân cũng được thành lập từ đội ngũ sĩ quan lục quân. Ban đầu, việc chế tạo các chiến hạm nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, nhưng về sau, Trung Quốc tiến dần từ việc bắt chước chế tạo theo mẫu thiết kế các chiến hạm Liên Xô, đến có thể tự thiết kế và chế tạo chiến hạm các loại. Từng có một thời, quan hệ hai bên mật thiết đến độ có cả bàn tính dự định tổ chức một hạm đội chung cho cả hai hải quân Xô-Trung.

Tuy cũng trải qua những biến động chính trị của thập niên 1950 và 1960, Hải quân Trung Quốc không bị ảnh hưởng nặng nề như Lục quân hoặc Không quân. Dưới thời lãnh đạo của Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu, Hải quân vẫn được đầu tư khá nhiều trong những năm nghèo đói sau Đại nhảy vọt. Trong Cách mạng Văn hóa, tuy một số chính ủy, tư lệnh đầu não bị truất quyền, và một số lực lượng hải quân được sử dụng để đàn áp cuộc bạo loạn tại Vũ Hán tháng 7 năm 1967, nhưng nói chung Hải quân Trung Quốc ít bị dính líu vào các biến động đang xảy ra trên toàn quốc vào thời điểm đó. Hải quân Trung Quốc vẫn tiếp tục công việc đóng thêm chiến hạm, huấn luyện thủy thủ và tu bổ các hạm đội.

Hải quân Trung Quốc tại Bộ Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải, Thanh Đảo

Đến thập niên 1970, khi ngân sách quốc phòng dành cho hải quân lên đến 20% ngân sách quốc gia, thì Hải quân Trung Quốc phát triển vượt bực. Lực lượng tàu ngầm thông thường tăng vọt từ 35 đến 100 chiếc, các phóng pháo hạm có khả năng bắn tên lửa tăng từ 20 lên đến 200 chiếc, và các chiến hạm loại lớn và các chiến hạm yểm trợ loại tuần dương cũng được chế tạo thêm. Hải quân Trung Quốc cũng đóng thêm tàu ngầm loại xung kích và loại chiến lược phóng tên lửa với máy chính chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu ngầm loại này đều có tầm hoạt động rất xa.

Đến thập niên 1980, dưới thời Tư lệnh Lưu Hoa Thanh, Hải quân Trung Quốc trở thành một lực lượng hải quân đáng kể trong khu vực, có khả năng tuần tiễu khá xa lãnh hải. Tuy nhiên, mức độ phát triển có phần chậm hơn thập niên trước đó. Các nỗ lực hiện đại hóa chú trọng nhiều hơn vào trình độ kỹ thuật và học vấn của thủy thủ. Đồng thời, sách lược hành quân biên phòng và cơ cấu lực lượng được chỉnh đốn và đặt trọng tâm vào các hoạt động tuần dương (blue-water operations) hơn tuần duyên (coastal defense), ngoài ra Hải quân Trung Quốc còn đẩy mạnh các chương trình huấn luyện hành quân hỗn hợp giữa các lực lượng tàu ngầm, chiến hạm, hải quân không chiến, và các lực lượng duyên phòng. Bằng chứng cho khả năng hoạt động tầm xa của Hải quân Trung Quốc đã tăng trưởng: (a) cuộc trục vớt một tên lửa liên lục địa (ICBM) năm 1980 do một hạm đội gồm 20 chiến hạm hành quân đến Tây Thái Bình Dương, (b)một số hành quân hải hành dài ngày trên biển Đông (Nam Hải) năm 19841985, (c) hai chiến hạm Trung Quốc thăm giao hữu ba nước thuộc vùng Ấn Độ Dương năm 1985. Ngoài việc đẩy mạnh phát triển tầm hoạt động, Hải quân Trung Quốc cũng phát triển thêm về khả năng phóng tên lửa từ các chiến hạm và tàu ngầm. Năm 1982 Hải quân Trung Quốc bắn thử thành công một phi đạn bắn từ tàu ngầm. Hải quân Trung Quốc cũng chế tạo thành công một số tên lửa loại hạm-đối-hạm, hạm-đối-đất, đất-đối-hạm, và không-đối-hạm.

Tuần dương hạm Cáp Nhĩ Tân, Soái hạm, Hạm Đội Bắc Hải

Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch và ưu tiên chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vài năm gần đây, Hải quân Trung Quốc trở nên quan trọng vì có sự thay đổi trong tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc. Các mối đe dọa chiến lược bao gồm giao tranh với Hoa Kỳ, hoặc tranh chấp với Nhật hay Đài Loan, hoặc giao tranh tại Trường Sa. Trong sách lược hiện đại hóa hải quân nói chung, một trong những ưu tiên dài hạn là cải tổ và phát huy Hải quân Trung Quốc thành một Hải quân Viễn dương (远洋海军, blue-water navy).

Cũng có nhiều nguồn tin cho rằng Hải quân Trung Quốc dự định chế tạo hoặc mua một hàng không mẫu hạm, nhưng ý tưởng này có vẻ không được ưu tiên so với những nhu cầu hiện đại hóa khác. Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng nếu Trung Quốc không hiện đại hóa cả lực lượng hải quân, thì hàng không mẫu hạm không những có cũng vô dụng, mà còn tốn hao lây vào những chi phí khác của quân đội. Nhận đình này có vẻ được sự đồng tình ủng hộ của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị. Trung Quốc hiện đã mua được hàng không mẫu hạm Varyag hạng Kuznetsov, hiện đang cập bến tại Đại Liên, và họ có thể tân trang và đưa vào hoạt động, hoặc dùng để huấn luyện phi công cất cánh và đáp trên biển.

Tháng 6 năm 2005, có nguồn tin trên mạng loan báo Hải quân Trung Quốc dự định sẽ chế tạo một hàng không mẫu hạm trị giá 30 tỉ nhân dân tệ (362 triệu US$), với trọng tải 78.000 tấn và do hãng đóng tàu Giang Nam đóng. Nguồn tin này bị Bộ Quốc phòng Trung Quốc phủ nhận.

Thay đổi lớn trong thế kỷ 21[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Trung Quốc đã bước vọt trong những năm gần đây khi họ quyết định mua loại khu trục hạm Sovremenny và mua tàu ngầm Kilo của Nga. Hai khu trục hạm Sovremenny đầu tiên được trang bị tên lửa chống chiến hạm loại SS-N-22, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc vượt âm 3M-80E. Theo các nhà nghiên cứu quốc phòng Tây phương, loại tên lửa này có khả năng tiêu diệt hàng không mẫu hạm. Hai khu-trục hạm kế tiếp sau đó được trang bị loại SS-N-26 Yakhont tối tân hơn, và nhiều chiến hạm trang bị loại tên lửa này đang được xây thêm.

Hạm đội tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc cũng có những bước tiến lớn. Các tàu ngầm hạng Kilo có khả năng hoạt động rất im lặng, và được trang bị hai loại vũ khí mới nhất: tên lửa chống chiến hạm loại Klub, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc dưới âm 3M-54E1, và tên lửa thủy lôi loại VA-111 Shkval có tốc độ trên 320 km/giờ và tầm hoạt động 7,5 km. Tất cả các tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc, kể cả loại Kilo, đều được trang bị loại máy hoạt động không cần không khí, có nằm chờ rất lâu dưới biển để đột kích kẻ thù.

Kỹ thuật đóng tàu của hải quân Trung Quốc nay cũng tiến rất xa qua sự giúp đỡ của Nga, và các khu trục hạm mới nhất của Trung Quốc sử dụng trang bị nội hóa có chất lượng không kém so với tiêu chuẩn phương Tây, với ra đa loại AEGIS và sườn tàu thiết kế kiểu chống ra đa.

Các hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 2005, phát ngôn viên quân sự Bộ Quốc phòng Nhật thông báo một số chiến hạm Hải quân Trung Quốc gồm một tuần dương hạm trọng tải 23.000 tấn, một khu trục hạm hạng Sovremenny trọng tải 7.940 tấn, một hộ tống tên lửa trọng tải 6.000 tấn, hai hải phòng hạm hạng Giang Hồ I (江湖, Jianghu I-class) trọng tải 1.702 tấn đã có mặt tại khu dầu khí Chunxiao (người Nhật gọi Shirakaba). Đây là nơi từng xảy ra tranh chấp gay gắt giữa Trung Quốc và Nhật.[1]

Từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 11 năm 2007, Hải quân Trung Quốc tập trận tại khu vực Quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phản đối hoạt động này, do phía Trung Quốc đã không tôn trọng bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông, và khu vực này thuộc lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hoạt động trong biển Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Trung Quốc với các trang thiết bị cực kỳ hiện đại, vũ lực hùng hậu[cần dẫn nguồn] như bắn vào ngư dân Việt Nam làm vỡ tàu, chết người hoặc bắn và bắt cóc các tàu cá của ngư dân gặp nạn hoặc tránh bão trên vùng biển mà ngư dân Việt Nam cho là còn thuộc chủ quyền Việt Nam làm chết người và bắt giam đòi tiền chuộc một cách có hệ thống[2], đồng thời cướp đoạt toàn bộ phương tiện đánh bắt cá và sản phẩm đánh bắt của ngư dân Việt Nam, rồi đưa ra tòa phạt vi cảnh,và gần đây nhất là hành động vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của VN, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN.[3]. Đặc biệt, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc còn muốn biển Đông nằm trong quyền kiểm soát của mình. [4]

Các hạm đội[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng tác chiến của Hải quân Trung Quốc có ba hạm đội:

Hạm đội Bắc Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Thanh Đảo thuộc tỉnh Sơn Đông. Hạm đội này có khu vực trách nhiệm vùng vịnh Bột HảiHoàng Hải. Soái hạm của hạm đội nầy là khu trục hạm Cáp Nhĩ Tân, thuộc loại trang bị tên lửa có điều khiển (guided-missile destroyer - DDG).
Hạm đội Đông Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Ninh Ba, thuộc tỉnh Chiết Giang. Hạm đội nầy có khu vực trách nhiệm vùng Đông Hải. Soái hạm là tuần dương hạm J302 Sùng Minh Đảo.
Hạm đội Nam Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông. Hạm đội nầy có trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải. Soái hạm là tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương.

Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980.

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu sân bay[sửa | sửa mã nguồn]

Khu trục hạm (Destroyer)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 4 Khu trục hạm 956/ 956EM Hạng Sovremenny  ; Trọng tải 7940 tấn
  • 1 Khu trục hạm 051B hạng Luhai (Lữ Hải)  ; Trọng tải 6100 tấn
  • 2 Khu trục hạm 051C hạng Luzhou (Lữ châu) :Trọng tải 7100 tấn
  • 2 Khu trục hạm 052b hạng Luyang (Lương) : Trọng tải 6500 tấn
  • 5 Khu trục hạm 052C hạng Luyang II (Lương) : Trọng tải 7000 tấn
  • Tổng cộng: 14 chiếc

Khinh hạm (Frigate)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2 tàu Loại 052 hạng Luhu (Lữ Hộ)  ; Trọng tải: 4800 tấn
  • 11 tàu loại 051 Lớp Luda (Lữ Đại) Trọng tải: 3960 tấn
  • 13 tàu Loại 054A Lớp JiangkaiII (Giang Khải), Trọng tải: 4053 tấn
  • 2 tàu Loại 054 Lớp JiangkaiI (Giang Khải), Trọng tải: 4300 tấn
  • Tổng cộng: 28 chiếc hiện dịch

Tàu hộ vệ tên lửa (Corvette)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 10 tàu Loại 053H3 Lớp Jiangwei II (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn
  • 4 tàu Loại 053H2G Lớp Jiangwei (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn
  • 21 tàu Loại 053 Lớp Jianghu (Giang Hộ) trọng tải: 1,925
  • Tổng cộng: 35 chiếc

Tàu tên lửa (Guided Missile Boats) 65 tàu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 6 tàu Loại 037-II Lớp Houjian Trọng tải 520 tấn
  • 30 tàu Loại 343M Houxin (Hậu tần) trọng tải 478 tấn
  • 83 tàu Loại 021 Lớp Houbei (Hồ bắc) Trọng tải 220 tấn
  • tổng số: 119

Tàu ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

SSBN (Ballistic Missile Nuclear Submarine)[sửa | sửa mã nguồn]

    • Loại 092 - Lớp Hạ Xia-class – 01 chiếc, trọng tải 7000 tấn
    • Loại 094 - Lớp Tấn Jin-class – 04 chiếc, trọng tải 9000 tấn

SSN (Nuclear Attack Submarine)[sửa | sửa mã nguồn]

    • Loại 091 - Lớp Hán Han-class – 04 chiếc, trọng tải 5500 tấn
    • Loại 093 - Lớp Thượng Shang-class – 04 chiếc, trọng tải 7000 tấn

SSK (Diesel-Electric Attack Submarine)[sửa | sửa mã nguồn]

    • Loại 039 - Lớp Tống Song-class – 14 chiếc, gồm: 01 tàu loại 039 số hiệu 320 (dừng hoạt động năm 1998); 03 tàu loại 039G (314, 321322); 10 tàu loại 039G1 (315, 316, 318, 323, 324, 325, 327,…).
    • Lớp Kilo Kilo-class – 12 chiếc, gồm: 02 tàu loại 877EKM (số hiệu: 364, 365); 02 tàu loại 636 (số hiệu: 366, 367) ; 08 tàu loại 636M – (số hiệu: 368, 369, 370, 371, 372, 373, 374, 375).
    • Loại 041 - Lớp Nguyên Yuan-class – 02 chiếc (số hiệu: 330,...).
  • Loại 031 -Lớp Golf -1 chiếc
    • Loại 033 - Lớp Romeo Romeo-class – 06 chiếc.
    • Loại 035G - Lớp Minh Ming-class – 17 chiếc.
  • SSG (Guided Missile Submarine) – phát triển từ loại 033 - 01 chiếc.
  • DSRV (Salvage Submarine) – 01 chiếc.

Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân Trung Quốc trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện.

Tàu đổ bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • LST
    • Loại 072 - Lớp Vũ Khang (Yukan) – 07 chiếc.
    • Loại 072-II - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 11 chiếc.
    • Loại 072-III - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 08 chiếc.
    • Lớp Sơn (Shan) LST-1 – 03 chiếc.
  • LSM
    • Loại 073-II - Lớp Vũ Đảo (Yudao) – 01 chiếc.
    • Loại 073-III - Lớp Vũ Đăng (Yudeng) – 01 chiếc.
  • APA (attack transport)
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha) – 04 chiếc.
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha AH) – 02 chiếc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]