Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Trung văn giản thể: 中国人民解放军, Trung văn phồn thể: 中國人民解放軍, phiên âm Hán Việt: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng Quân), gọi tắt là Nhân dân Giải phóng quân hoặc Giải phóng quân, là lực lượng vũ trang chủ yếu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đây là quân thường trực lớn nhất thế giới và bao gồm các lực lượng: Lục quân, hải quân, không quân, và lực lượng hạt nhân.Trong chiến tranh thì cảnh sát vũ trang sẽ là nhánh thứ 5 của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Quân huy và quân kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Ngày 15 tháng 6 năm 1949, hội nghị toàn thể lần thứ nhất Uỷ ban Trù bị Hội nghị Hiệp thương Chính trị Mới khai mạc tại điện Cần Chính (勤政), Trung Nam Hải (中南海), Bắc Bình (北平, nay là Bắc Kinh 北京) [1][2]. Hội nghị đã lấy danh nghĩa chủ tịch Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương Mao Trạch Đông (毛澤東) và các phó chủ tịch Chu Đức (朱德), Lưu Thiếu Kỳ (劉少奇), Châu Ân Lai (周恩來), Bành Đức Hoài (彭德懷) ban hành mệnh lệnh "Về việc công bố kiểu dáng quân huy và quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc" (關於公布中國人民解放軍軍旗軍徽樣式) [3].

Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (中國人民解放軍軍徽), còn gọi là "quân huy bát nhất" (八一軍徽), hình ngôi sao năm cánh màu đỏ viền vàng, bên trong khảm hai chữ "bát nhất" 八一. Ngôi sao đỏ tượng trưng cho nhân dân Trung Quốc đã được giải phóng, hai chữ "bát" 八(có nghĩa là "tám") và "nhất" 一 (có nghĩa là "một") biểu thị ngày mồng 1 tháng 8 năm 1927, ngày Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động cuộc khởi nghĩa Nam Xương, được xem là ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc [4].

Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là "quân kỳ bát nhất" (八一軍旗), nền màu đỏ, hình chữ nhật, tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng là 5:4, góc trên bên phải gần cán cờ có một ngôi sao vàng năm cánh và hai chữ "bát nhất" 八一 màu vàng, biểu thị kể từ ngày thành lập đến nay ánh sao xán lạn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếu rọi khắp Trung Quốc [5][6].

Quân ca[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1939 tại Diên An (延安) nhà thơ Công Mộc (公木) và nhạc sĩ người Triều Tiên Trịnh Luật Thành (鄭律成) cùng hợp tác sáng tác tổ ca "Đại hợp xướng Bát lộ quân" (八路軍大合唱) [7][8] "Hành khúc Bát lộ quân" (八路軍進行曲) do Công Mộc viết lời, Trịnh Luật Thành viết nhạc là ca khúc thứ tám trong tổ ca "Đại hợp xướng Bát lộ quân". Thời kỳ nội chiến Quốc Cộng lần thứ hai, "Hành khúc Bát lộ quân" được đổi tên thành "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân (人民解放軍進行曲), ca từ bị sửa đổi thêm bớt. Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương ban hành để thi hành thử "Điều lệnh nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Thảo án)" (中國人民解放軍內務條令(草案)), đổi tên "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân" thành "Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân" (人民解放軍軍歌). Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1953, Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương lại ban bố "Điều lệnh nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Thảo án)", đổi tên "Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân" thành "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân". Năm 1965 "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân" được đổi tên thành "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc". Ngày 25 tháng 7 năm 1988, Ủy ban Quân sự Trung ương quyết định lấy "Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc" làm quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc [9][10].

Toàn văn ca từ quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc như sau[11]:

Trung văn phồn thể Trung văn giản thể Phanh âm Hán ngữ Âm Hán-Việt Dịch nghĩa

向前!向前!向前!
我們的隊伍向太陽,
腳踏著祖國的大地,
背負著民族的希望,
我們是一支不可戰勝的力量。
我們是工農的子弟,
我們是人民的武裝,
從無畏懼,
絕不屈服,
英勇戰鬥,
直到把反動派消滅乾淨,
毛澤東的旗幟高高飄揚。
聽!風在呼嘯軍號響,
聽!革命歌聲多嘹亮!
同志們整齊步伐奔向解放的戰場,
同志們整齊步伐奔赴祖國的邊疆,
向前!向前!
我們的隊伍向太陽,
向最後的勝利,
向全國的解放!

向前!向前!向前!
我们的队伍向太阳,
脚踏着祖国的大地,
背负着民族的希望,
我们是一支不可战胜的力量。
我们是工农的子弟,
我们是人民的武装,
从无畏惧,
绝不屈服,
英勇战斗,
直到把反动派消灭干净,
毛泽东的旗帜高高飘扬。
听!风在呼啸军号响,
听!革命歌声多嘹亮!
同志们整齐步伐奔向解放的战场,
同志们整齐步伐奔赴祖国的边疆,
向前!向前!
我们的队伍向太阳,
向最后的胜利,
向全国的解放!

Xiàngqián! Xiàngqián! Xiàngqián!
Wǒmen di duìwu xiàng tàiyáng,
Jiǎo tàzhe zǔguó di dàdì,
Bèifùzhe mínzú di xīwàng,
Wǒmen shì yī zhī bù kě zhànshèng di lìliang.
Wǒmen shì gōngnóng di zǐdì,
Wǒmen shì rénmín di wǔzhuāng,
Cóng wú wèijù,
Jué bù qūfú,
Yīngyǒng zhàndòu,
Zhídào bǎ fǎndòngpài xiāomiè gānjìng,
Máo Zédōng di qízhì gāogāo piāoyáng.
Tīng! Fēng zài hūxiào jūnhào xiǎng,
Tīng! Gémìng gēshēng duō liáoliàng!
Tóngzhìmen zhěngqí bùfá bēn xiàng jiěfàng di zhànchǎng,
Tóngzhìmen zhěngqí bùfá bēnfù zǔguó di biānjiāng,
Xiàngqián! Xiàngqián!
Wǒmen di duìwu xiàng tàiyáng,
Xiàng zuìhòu di shènglì,
Xiàng quánguó di jiěfàng!

Hướng tiền ! Hướng tiền ! Hướng tiền !
Ngã môn để đội ngũ thái dương,
Cước đạp trước Tổ Quốc để đại địa,
Bội phụ trước dân tộc để hy vọng,
Ngã môn thị nhất chi bất khả chiến thắng để lực lượng.
Ngã môn thị công nông để tử đệ,
Ngã môn thị nhân dân để vũ trang,
Tòng vô úy cụ,
Tuyệt bất khuất phục,
Anh dũng chiến đấu,
Trực đáo đả phản động phái tiêu diệt can tịnh,
Mao Trạch Đông để kỳ xí cao cao phiên dương.
Thính ! Phong tại hô khiến quân hiệu hưởng,
Thính ! Cách mệnh ca thanh đa liệu lượng !
Đồng chí môn chỉnh tề bộ phạt bôn hướng giải phóng để chiến trường,
Đồng chí môn chỉnh tề bộ phạt bôn phó tổ quốc để biên cương,
Hướng tiến ! Hướng tiến !
Ngã môn để đội ngũ hướng Thái dương,
Hướng tối hậu dể thắng lợi,
Hướng toàn quốc để giải phóng !

Tiến lên ! Tiến lên ! Tiến lên
Quân đội chúng ta tiến về mặt trời,
Bước trên mặt đất của quê hương,
Mang niềm hy vọng của dân tộc,
Chúng ta là một sức mạnh không thể đánh bại.
Chúng ta là con em của công nông,
Chúng ta là lực lượng vũ trang nhân dân,
Dũng cảm kiên cường,
Không bao giờ khuất phục,
Anh dũng chiến đấu,
Đến khi chúng ta tiêu diệt tất cả bọn phản động,
Ngọn cờ của Mao Trạch Đông phất tung bay.
Nghe ! Gió đang gầm và kèn hô vang,
Nghe ! Bài ca cách mạng tiếng trong trẻo !
Đồng chí ta trật tự tiến ra chiến trường để tiến tới giải phóng
Đồng chí ta trật tự tiến ra biến cương để bảo vệ tổ quốc
Tiến lên ! Tiến lên ! Tiến lên
Đội ngũ chúng ta hướng mặt trời,
Tiến tới kết thúc thắng lợi,
Tiến tới giải phóng toàn quốc!

Thể chế[sửa | sửa mã nguồn]

Một quân nhân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc tại trại huấn luyện ở Thẩm Dương, tháng 3 năm 2007

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống chỉ huy của Quân đội Trung Quốc. Giải phóng quân Trung Quốc không chịu sự cai quản của Quốc vụ viện mà chịu sự cai quản của hai Ủy ban Quân sự Trung ương (Quân uỷ Trung ương), một cơ quan thuộc Nhà nước (Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước), còn một cơ quan thì thuộc Đảng. Trên thực tế, hai cơ quan này không xung đột vì ủy viên của hai cơ quan này thường đồng nhất với nhau. Thông thường, chỉ có một vài tháng trong mỗi năm năm thì ủy viên của hai hội đồng này mới khác nhau, đó là trong giai đoạn giữa một đại hội đảng, khi uỷ viên của Quân ủy Trung ương thay đổi và kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc, khi Quốc hội bầu ra Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện trách nhiệm theo quyền hạn được quy định trong Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và theo Luật Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[12]

Tháng 12 năm 1982, Đại hội lần thứ 5 của Quốc hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã sửa đổi Hiến pháp quy định rằng Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương lãnh đạo toàn bộ các lực lượng vũ trang của quốc gia. Chủ tịch của Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương được bầu chọn và miễn nhiệm bởi Hội nghị toàn thể của Quốc hội Trung Quốc trong khi các ủy viên thì do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chọn ra. Tuy nhiên, Quân ủy Trung ương thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn là một cơ quan của Đảng, trực tiếp lãnh đạo quân đội và các lực lượng vũ trang khác. Trên thực tế, Quân ủy Trung ương Đảng sau khi hiệp thương với các bên, đề cử các ủy viên Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước để khi những người này thông qua các thủ tục pháp lý bầu cử có thể được Quốc hội Trung Quốc bầu vào Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Điều đó có nghĩa Quân ủy Trung ương thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước là một nhóm và một tổ chức. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài theo tổ chức thì hai Ủy ban này trực thuộc hai hệ thống khác nhau - hệ thống Đảng và hệ thống Nhà nước.

Do đó, các lực lượng vũ trang nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và cũng như thế đối với các lực lượng vũ trang của Nhà nước. Chế độ lãnh đạo chung này phản ánh xuất thân của Giải phóng quân Trung Quốc là một nhánh quân sự của Đảng và chỉ thành quân đội Nhà nước sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.

Theo lệ thường, chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương là các ủy viên dân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhưng những người này không nhất thiết là những người đứng đầu của chính quyền dân sự. Cả Giang Trạch DânĐặng Tiểu Bình nắm giữ cương vị này ngay cả sau khi họ đã thôi giữ chức trong bộ máy Nhà nước và Chính phủ. Tất cả các ủy viên khác của Ủy ban Quân sự Trung ương đều sỹ quan đương nhiệm. Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không phải là người đứng đầu quân đội và thường chỉ là phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương.

Các cấp tổng cục của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bao gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị. Tổng cục Chính trị duy trì một hệ thống các chính ủy, đảm bảo sự trung thành với đảng và chính quyền dân sự. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện quyền lãnh đạo quân đội ở cả Hải, Lục, Không quân và Tên lửa Đạn đạo Chiến lược (Nhị pháo, 二炮) thông qua bốn quân chủng. Ngoại trừ quân chủng Tên lửa Đạn đạo Chiến lược thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự Trung ương; trong một quân khu, các đơn vị thuộc 3 quân chủng đầu phối hợp với nhau trong hiệp đồng tác chiến dưới sự chỉ huy thống nhất của quân khu đó. Các đơn vị Lục quân thuộc sự chỉ đạo của quân khu đó. Các đội Hải quân và Không quân thuộc sự lãnh đạo chung của quân khu và của quân chủng mình (ngành dọc).

Chế độ quân đội Nhà nước kế thừa và duy trì nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với các lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng và Nhà nước cùng lập nên Ủy ban Quân sự Trung ương để thực hiện sự lãnh đạo quân sự tối cao đối với các lực lượng vũ trang. Hiến pháp năm 1954 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng Chủ tịch nước thống soái các lực lượng vũ trang và quy định Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (Hội đồng Quốc phòng là một cơ quan cố vấn, không lãnh đạo các lực lượng vũ trang). Ngày 28 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập lại Ủy ban Quân sự Trung ương làm lãnh đạo Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. Kể từ đó trở đi, chế độ lãnh đạo chung giữa Đảng và Nhà nước đối với quân đội đã được thiết lập. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mọi công việc quân đội. Chủ tịch nước thống soái các lực lượng quân đội nhà nước và phát triển các lực lượng quân đội do Quốc vụ viện quản lý.

Để đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với quân đội, mỗi cấp ủy đảng trong các lực lượng quân sự thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các đơn vị và ban cấp trên xây dựng bộ máy chính uỷ và đảm bảo rằng các tổ chức cấp dưới hoạt động đồng nhất.

Kỳ hạn quân dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt lý thuyết thì tất cả công dân của CHNDTH có trách nhiệm phải đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên trong thực tế, việc thi hành nghĩa vụ quân sự với QĐGPNDTH lại là tự nguyện; tất cả công dân 18 tuổi đều phải đăng kí với nhà cầm quyền, tương tự như Hệ thống tuyển quân của Hoa Kỳ. Trừ một ngoại lệ dành cho các các tân sinh viên đại học (cả nam và nữ), là phải tham gia đợt tập huấn quân sự (thường kéo dài một tuần hoặc hơn) trước khi bắt đầu học đại học hoặc sau đó một năm. Thời hạn phục vụ trong lục quân là 36 tháng, trong không quân và hải quân là 48 tháng, trong lực lượng tên lửa chiến lược không ấn định thời hạn.[13]

Lịch sử tác chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Các sự kiện và các cuộc chiến lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

[14]

Quân số và biên chế[15][sửa | sửa mã nguồn]

- Tổng quân số lực lượng vũ trang chính quy: 2.300.000 người

- Tổng quân số dự bị động viên cục bộ: 1.000.000 người

- Tổng quân số dự bị động viên toàn quốc: 198.400.000 người

- Các đơn vị bán vũ trang:

+ Cảnh sát vũ trang: 110.000 người

+ Dân quân, dân cảnh: 3.000.000 người

+ Các đơn vị đặc biệt thuộc Bộ An ninh: 50.000 người

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quân số: năm 2000 là 1.8; năm 2008 còn 1.5 triệu người; năm 2013 còn 850.000

Biên chế tổ chức[16]

Các đợn vị cấp quân đoàn: có 21 quân đoàn quân chính quy gồm:

- 44 sư đoàn bộ binh

- 10 sư đoàn xe tăng

- 5 sư đoàn pháo binh

Các đơn vị cấp sư đoàn, lữ đoàn độc lập

- 13 lữ đoàn xe tăng

- 15 lữ đoàn bộ binh

- 23 lữ đoàn pháo binh

- 3 sư đoàn đổ bộ đường không

- 5 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa

- 1 sư đoàn pháo binh đặc biệt

- 4 lữ đoàn pháo + tên lửa phòng không lục quân

- 7 trung đoàn máy bay trực thăng

China military regions.jpg

Các đơn vị thuộc bảy quân khu:

Quân khu Thẩm Dương

Quân khu Bắc Kinh

Quân khu Nam Kinh

Quân khu Tế Nam

Quân khu Thành Đô

Quân khu Quảng Châu

Quân khu Lan Châu.

- 12 sư đoàn bộ binh

- 1 sư đoàn bộ binh sơn cước

- 4 lữ đoàn bộ binh độc lập

- 87 tiểu đoàn bộ binh độc lập

- 50 trung đoàn công binh

- 30 trung đoàn thông tin liên lạc

Khung các đơn vị dự bị:

- 50 khung sư đoàn bộ binh, pháo binh, phòng không

- 80 khung trung đoàn bộ binh, pháo binh độc lập

Trang bị vũ khí của bộ binh[17]

- Xe tăng: Tổng số 9.800 chiếc; trong đó có 5.000 xe tăng T54/59, 2.400 xe tăng lội nước PT76, 1.200 xe tăng T62/63, 800 xe tăng chủ lực T72, 200 xe tăng chủ lực ZYZ98/99.

- Xe bọc thép: 5.500 chiếc gồm các loại xe xích BMP-1, BMP-3, WN-3; bánh hơi: Honghe-70 (mẫu BTR-70), Honghe-80 (mẫu BTR-80), WZ-551

- Pháo lớn: hơn 14.500 khẩu, gồm các loại: lựu pháo 85 mm, lựu pháo 105 mm, lựu pháo 155 mm, pháo nòng dài 122 mm, pháo nòng dài 130 mm, pháo tự hành 152 mm đặt trên bệ xe tăng T54/59, pháo chống tăng 57 mm và 100 mm.

- Súng cối: hơn 100.000 khẩu các cỡ nòng: 60 mm, 82 mm, 120 mm và 160 mm.

- Hoả tiễn đất đối đất bắn loạt: 2.300 giàn các loại BM12-13, BM-27, BM-40

- Súng và tên lửa chống tăng: RPG-2, RPG-7B, AT-3 Sagger, Jevelin, Gustav...

- Súng phòng không bộ binh: 15.000 cao xạ các loại 24 mm, 37 mm, 57 mm, 100 mm; 180 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa Hongqi-2 (SAM-2); 15 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa 9K330 (Tor-M1), 100 bộ khí tài + bệ phóng Hongqi-3 (SAM-3).

- Trực thăng: 243 chiếc các loại Mi-8 (trực thăng đa chức năng), Mi-17(trực thăng vận tải) và Mi-24 (trực thăng chiến đấu)

- Vũ khí hạng nhẹ của bộ binh: Đại liên Trường An (mẫu đại liên Goriunov), đại liên SK-75; trung liên RPD, RPK; các loại súng trường chiến đâu, Type56sao chép AK-47 AK-47(Kalasnicov), AK-74(Nikonov), M-4 sao chép sử dụng hạn chế ở một số lực lượng nhất định QBZ-95, K63, K89, K95; các loại súng trường SKS, K84.v.v...

Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế, tổ chức

- Tổng quân số: 398.000 người

- Tổ chức:

+ 195 phi đội tiêm kích và tiên kích - bom

+ 120 phi đội cường kích

+ 42 phi đội ném bom

+ 15 phi đội trinh sát

+ 50 phi đội vận tải, tiếp dầu

+ 24 phi đội trực thăng

+ 8 trung đoàn cao xạ phòng không

+ 2 Trung đoàn tên lửa Hongqi-2

+ 2 trung đoàn tên lửa S-300RMU

+ 8 tiểu đoàn tên lửa SA-20RMU2

Vũ khí, khí tài

- Máy bay ném bom:

+ 120 chiếc H-6 (TU-16)

+ 120 chiếc H-7 (IL-28)

+ 400 chiếc Q-5 (TU-16)

- Máy bay tiêm kích và tiêm kích - bom

+ 150 chiếc J-5 (MIG-17)

+ 1.800 chiếc J-6 (MIG 19)

+ 500 chiếc J-7 (MIG 21)

+ 180 chiếc J-8

+ 120 chiếc J-10 (FT-2000)

+ 24 chiếc J-11 (SU-27)

+ 48 chiếc SU-27

+ 23 chiếc SU-30MK

- Máy bay trinh sát:

+ 18 chiếc BA-1E

+ 12 chiếc KJ-200

+ 8 chiếc KJ-2000

- Máy bay vận tải quân sự:

+ 44 chiếc vận tải IL-76

+ 4 chiếc tiếp dầu trên không IL-78

+ 10 chiếc vận tải IL-18

+ 300 chiếc Y-5 (AN-2)

+ 56 chiếc Y-7 (AN-24)

+ 24 chiếc Y-8 (AN-12)

+ 15 chiếc Y-11

+ 2 chiếc Y-12

- Máy bay trực thăng:

+ 6 chiếc AS-332

+ 4 chiếc BELL-214

+ 80 chiếc Mi-8

+ 24 chiếc Mi-17

+ 25 chiếc Z-5 (Mi-4)

+ 18 chiếc Mi-24

+ 50 chiếc Z-9 (SA-365N)

- Máy bay huấn luyện:

+ Hơn 150 chiếc các loại YAK-51, L-39 và YAK-18

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

- Tổng quân số: 235.000 người; trong đó

+ Hải quân hạm tàu: 230.000 người

+ Không quân của hải quân: 25.000 người, gồm 24 trung đoàn

+ Hải quân đánh bộ: 9.000 người gồm 2 lữ đoàn (mỗi lữ đoàn gồm 3 tiểu đoàn TQLC, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn xe lội nước, 1 tiẻu đoàn pháo binh)

+ Hải quân tuần duyên: 28.000 người gồm 28 trung đoàn chia làm 28 vùng phòng thủ.

Các căn cứ, quân cảng chính

Liễu Sơn, Hồ Lô Đảo, Thanh Đảo (căn cứ chỉ huy hạm đội Bắc Hải), Thượng Hải, Ninh Ba (căn cứ chỉ huy hạm đội Đông Hải), Chu Sơn, Vân Châu, Tây Dân, Quảng Châu, Trạm Giang (căn cứ chỉ huy hạm đội Nam Hải), Tam Á (căn cứ tàu ngầm).

Vũ khi, trang bị

- Tàu ngầm hạt nhân:

+ 3 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm xa: K-092/Xia (lớp Hạ), K-93/Shang (lớp Thương), K-94/Jin (lớp Tấn)

+ 5 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm trung K-91/Han (lớp Hán).

+ 13 tàu ngầm diezel-điện K-30 lớp ROMEO

+ 18 tàu ngầm diezel-điện K-35 lớp Ming

+ 17 tàu ngầm diezen-điện K-51 lớp Kilo

+ 15 tàu ngầm diezel-điện lớp Yuan (Nguyên)

- Tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu trợ chiến

+ 3 soái hạm K-052C lớp Luyang (Lữ Dương)

+ 2 tuần dương hạm K-51C lớp Luzhou (Lữ Châu)

+ 43 tàu khu trục tên lửa lớp K-22 lớp Houbei (Hồng Bại, 紅稗)

+ 8 tàu khu trục tên lửa lớp K-054A/Meenshan Mẫn Sơn)và K-054B/Jiangkai (theo mẫu tàu Sovremenny của Nga)

+ 3 tàu khu trục tàng hình K-021 lớp Houku

+ 7 tàu khu trục K-18 lớp Luda (Lữ Đại).

+ 27 tàu với mìn K-010 lớp T-43.

+ 234 tàu tuần duyên kiểu Hải tuần

+ 28 tàu phóng lôi các loại.

+ 6 tàu chở dầu, 48 tàu vận tải (huy động từ tàu dân sự khi có chiến sự)

- Tàu đổ bộ:

+ 36 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng nặng kiểu K-072-II và K072-III lớp Yuting

+ 32 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng trung kiểu K-071

+ 9 tàu đổ bộ bộ binh kiểu LCU

+ 44 cano hạng trung

+ 9 tàu đổ bộ chạy bằng đệm khí.

- Máy bay của hải quân

+ 180 chiếc tiêm kích - bom J-8, J-10

+ 36 chiếc Su-27UKN

+ 40 trực thăng Ka-25

+ 360 trực thăng Mi-8, Mi-17

+ 220 trực thăng Z-9C

- Phương tiện chiến đấu trên bộ của hải quân

+ Xe tăng T59, T63

+ Xe thiết giáp WZ-551

+ Pháo lựu 122 mm

+ Pháo tầm xa 130 mm

+ Hỏa tiễn phóng loạt HM-12

- Các loại tên lửa

+ 120 tên lửa đất đối hạm YJ-62 và YJ-62C,

+ Tên lửa hạm đối hạm các loại: HHQ-7 (Con tằm), YJ-83.

+ Tên lửa hạm đối không SA-N-20

+ Tên lửa đạn đạo hạm đối đất Julang-1,

+ Tên lửa hành trình SS-N-22/SUNBURN và SS-N-27/SIZZLER phóng từ tàu ngầm.

Hiện nay, Trung Quốc vừa hoàn thành việc thử tên lửa hạm đối đất mang đầu đạn hạt nhân Julang-2 (JL-2 trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm lớp Kilo; đồng thời, trang bị loại tên lửa YJ-1 (Ying ji-1) (âm Hán Việt là Ưng Kích 1) cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược.

Lực lượng tên lửa chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng tên lửa chiến lược (SMF) của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) được Trung Quốc gọi là lực lượng pháo binh thứ hai (Đệ nhị pháo binh bộ đội) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Bộ Quốc phòng CHND Trung Hoa có trách nhiệm chỉ huy, quản lý các phương tiện phóng, đầu đạn và các phương tiện, vật chất, kỹ thuật bảo đảm khác.

Biên chế, tổ chức

Toàn bộ SMF của PLA có biên chế 11.000 người (không kể lực lượng khoa học kỹ thuật dân sự phục vụ có thời hạn). Tổ chức SMF của PLA được phân thành 4 cấp:

- Bộ Tư lệnh;

- Căn cứ khu vực: gồm 4 vùng tác chiến, 2 vùng bán quân sự và 1 vùng huấn luyện mang các mật danh Cxx:

+ Căn cứ C51 ở vùng Đông Bắc: Sở chỉ huy đặt tại Cáp Nhĩ Tân; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80301 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Mãn Châu bằng đường sắt và đường bộ.

+ Căn cứ C52 ở Hoa Trung: Sở chỉ huy đặt tại [Tây An?], thuộc tỉnh An Huy; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80302 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Hoàng Sơn, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Bắc sông Trường Giang bằng đường sắt và đường bộ.

+ Căn cứ C53 ở Thanh Hải: Sở chỉ huy đặt tại Lan Châu, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80306 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Thiểm Tây - Ninh Hạ, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Thanh Hải - Tân Cương bằng đường bộ.

+ Căn cứ C54 ở Cao nguyên Vân - Quý: Sở chỉ huy chính đặt tại Côn Minh, thuộc tỉnh Vân Nam, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80303 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Vân - Quý và Tứ Xuyên bằng đường bộ.

+ Căn cứ C55 ở vùng Nội Mông; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 1992.

+ Căn cứ C56 ở tỉnh ven biển Phúc Kiến; được chuyển thàng căn cứ bán quân sự từ năm 2008 (sau khi Mã Anh Cửu, người của Quốc dân Đảng lên cầm quyền ở Đài Loan)

+ Vùng tác chiến thử nghiệm, nơi huấn luyện, căn cứ hàng không vũ trụ đồng thời là nơi dự trữ đầu đạn C22 tại khu vực Bảo Kê (Baoji) tỉnh Thiểm Tây.

- Lữ đoàn tác chiến (gồm 12 lữ đoàn tác chiến); mỗi căn cứ quân sự có 2 lữ đoàn có bệ phóng cố định và 1 lữ đoàn có bệ phóng di động.

- Tiểu đoàn tác chiến, (mỗi lữ đoàn có 2 tiểu đoàn tác chiến và 1 tiểu đoàn kỹ thuật bảo đảm);

Trang bị vũ khí, khí tài

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-3 (CSS-2) IRBMs (Đông Phong-3) có cự ly tác xạ tối đa 4.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-21)

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-4 (CSS-3) IRBMs có cự ly tác xạ từ 5.500 - 7.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-31)

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-5 (CSS-4) IRBMs có cự ly tác xạ tối đa 13.000 km;

- 80 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21 (CSS-5) MRBMs có cự ly tác xạ 1.500 km;

(Các loại tên lửa này đều mang đầu đạn đơn)

- 300 tên lửa đạn đạo Dongfeng-15 (CSS-6) SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 600 km;

- 600 tên lửa đạn đạo Dongfeng-11 (CSS-7)SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 300 km;

- 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21C (CSS-5 Mod-3) MRBMs có cự ly tác xạ 4.500 km;

- 30 tên lửa đạn đạo Dongfeng-31 (CSS-9) và Dongfeng 31-A có cụ ly tác xạ từ 8000 km - 12000 km.

- 45 tên lửa hành trình phóng từ mặt đất DH-10

(Các loại tên lửa này đều có thể mang từ 5 đến 7 đầu đạn, tiến đánh cùng lúc từ 5 đến 7 mục tiêu)

Hiện nay, Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo và thử thành công loại tên lửa Dongfeng-32 (DF-32) có tầm bắn xa đến 11.500 km, có khả năng vượt qua hệ thống tên lửa đánh chặn SMD của Mỹ.

Một số vấn đề mới về vũ khí bộ binh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đỉnh điểm khoảng những năm 1980-1990, PLA có khoảng 10.000 xe tăng, giảm dần còn khoảng 6.000-8.000 xe tăng trong vòng vài năm qua. Số xe tăng Trung Quốc sản xuất theo mẫu xe tăng Liên Xô T-54A (Type 59 and Type 69) chiếm đến hơn hai phần ba tổng số xe tăng. Đồng thời với việc cho nghỉ hưu các xe tăng loại cũ Type-59/69, thay thế bằng thế hệ hai Type 88Type 96, PLA cũng nâng cấp số xe tăng Type-59/69 còn lại với những công nghệ mới, bao gồm hệ thống liên lạc và kiểm soát hỏa lực cải tiến, thiết bị nhìn đêm, giáp ERA, động cơ được nâng cấp, và hỏa tiễn chống tăng bắn bằng pháo chính, khiến cho chúng có thể tiếp tục phục vụ như các giàn hỏa lực cơ động. Loại xe tăng mới nhất là Type 99, bắt đầu phục vụ từ năm 2001.

PLA cũng có chừng 2.000 xe tăng hạng nhẹ, kể cả loại Type-62 hạng nhẹ và xe tăng lội nước Type-63, bắt đầu đưa vào sản xuất từ những năm 1960s. Loại Type-63 được nâng cấp đặc biệt với hỏa lực được máy tính hóa, trang bị tên lửa chống tăng (ATGM), thiết bị tác chiến đêm, hệ thống định vị bằng vệ tinh, và nâng cấp mã lực.

Vũ khí hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là một thành viên của Nhóm Australia, một tổ chức được thành lập năm 1985 để theo dõi sự phát triển nhanh chóng của việc sử dụng hóa chất vào mục đích kép (dùng trong dân sự và quân sự) và để kết hợp việc quản lý mặt hàng hóa chất xuất khẩu cũng như các thiết bị được sử dụng trong ngành hóa học. Vào tháng tư 1997, PRC thông qua Quy ước vũ khí Hóa học (CWC) và trong tháng chín năm 1997, Trung Quốc đã công bố một chỉ thị quản lý hàng xuất khẩu vũ khí hóa học mới.

Hệ thống cơ bản không gian[sửa | sửa mã nguồn]

PLA đang triển khai một số chương trình không gian tạo cơ sở cho việc sử dụng hệ thống này vào mục đích quân sự bao gồm:

Vào ngày 11 tháng Giêng, 2007 tại trung tâm vũ trụ Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tiến hành thử nghiệm thành công một tên lửa chống vệ tinh.[20]

Chuyến bay vào không gian có người[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm đối với Chương trình Bay vào không gian có người lái của Trung Quốc. Đến này, tất cả các taikonautđã được tuyển chọn trong số Không quân Quân đội Nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ 3 duy nhất đưa người vào vũ trụ bằng các trang thiết bị do mình chế tạo với chuyến bay của trung tá Dương Lợi Vĩ trên tàu vũ trụ Thần Châu 5 vào ngày 15 tháng 10 năm 2003. Sau chuyến bay thành công, Dương Lợi Vĩ được phong cấp hàm đại tá.

Ngân sách quốc phòng Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Trung Quốc công bố chính thức thì ngân sách quốc phòng của nước này trong một số năm gần đây như sau: năm 2000 là 13 tỷ USD, năm 2007 là 52 tỷ USD, năm 2008 là 61 tỷ USD, năm 2009 là 70,27 tỷ USD, năm 2013 là hơn 100 tỷ USD. Tuy nhiên, Mỹ, Nhật Bản và một số nước phương Tây cho rằng những con số đó rất thấp so với thực tế. Theo phía Mỹ, ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm 2008 có thể đạt đến 122 tỷ USD vì chỉ riêng việc trang bị động cơ mới cho toàn bộ 273 chiếc SU-27, SU-30MK và J-11 (loại máy bay sao chép từ SU-27) đã tiêu tốn không dưới 2 tỷ USD. Phía Trung Quốc cho rằng, nguy cơ quân sự từ phía họ đã bị phương Tây thổi phồng.

Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nguồn tin từ các chuyên gia quân sự Nga (được Interfax-ABN trích dẫn), Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch thành lập 2 hạm đội xuyên đại dương hùng mạnh trước năm 2050 với tên gọi: Kế hoạch Con rồng đỏ (Xích long). Hạm đội này có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng có kế hoạch hiện đại hóa các "hạm đội nước vàng" (hạm đội ven bờ) của họ thành "hạm đội nước sâu" (hạm đội biển khơi) trước năm 2020 với 2 nhiệm vụ "Mạch đảo" nhiệm vụ kiểm soát đến các tuyến chiến lược:

- Mạch đảo thứ nhất: phía Bắc đến Vladivostok (Nga), Hokkaido (bắc Nhật Bản), Nampo (thuộc Hàn Quốc), Ryukiu (Trung Quốc gọi là Lưu Câu Kiều, quần đảo Điếu Ngư Đài (Trung Quốc đang tranh chấp với Nhật Bản)Quần đảo Nansi (Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam), quần đảo Philippines; các vùng biển Hoàng hải, Đông Hải (tức biển Hoa Đông), Nam Hải (tức Biển Đông) đến eo biển Malacca (Singapor) và quần đảo Indonesia. Trọng điểm của giai đoạn "Mạch đảo thứ nhất" là Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa)

- Mạch đảo thứ hai: phía Bắc đến quần đảo Aleutians (Hoa Kỳ), qua các vùng đảo Kuril (quần đảo đang có sự tranh chấp Nga-Nhật), Mariana, Carolina (thuộc Mỹ) và New Guinea (Bắc Australia). Trọng điểm của giao đoạn "Mạch đảo thứ hai"" là khống chế Hawai và bờ Tây nước Mỹ.

Kế hoạch này còn bao gồm các hoạt động bảo vệ lợi ích của Trung Quốc (bằng sức mạnh) đối với các ngồn tài nguyên thiên nhiên trên biền, trong lòng biển và dưới đáy đại dương mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ cũng như việc đảm bảo an ninh của ngành vận tải đường biển Trung Quốc.

Cùng với việc hiện đại hóa các hạm tàu, Trung Quốc cũng chú trọng phát triển không quân của hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ. Trung Quốc đang cố gắng tự đóng tàu sân bay trước năm 2020 (do việc họ không tranh được với Ấn Độ hợp đồng mua tàu sân bay Admiral Goskov của Nga); nâng cấp, cải tiến các máy bay SU-30MK và J-10 thành máy bay dùng cho hàng không mẫu hạm; phát triển chế tạo các loại tàu đổ bộ cỡ lớn hoặc mua các tàu này từ Đông Âu (UKRAINA đã nhận đơn đặt hàng đóng cho Trung Quốc 12 tàu loại này).

Dự kiến các hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc sẽ được biên chế, trang bị 1 tàu sân bay có khả năng đảm bảo hoạt động cho 45 đến 50 máy bay chiến đấu của hải quân, 1 tàu ngầm nguyên tử chiến lược, 4 tàu ngầm nguyên tử đa chức năng, 12 tàu ngầm diezel-điện, 29 tàu tuần dương, 49 tàu khu trục, 234 tàu tuần tiễu trang bị tên lửa, 15 tàu phóng lôi, 48 tàu quét mìn, 120 tàu, cano, xuồng đổ bộ các loại.

Cương lĩnh quân sự của Trung Quốc thời đại mới[sửa | sửa mã nguồn]

Về đổi mới và hiện đại hóa quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Trọng tâm là cơ cấu lại các lực lượng theo hướng giảm biên chế quân số, tăng cường chất lượng, triệt để áp dụng các biện pháp cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa các loại vũ khí thông thường; cải tiến cơ cấu hành chính quân sự, biên chế tổ chức và bố trí, phân phối binh lực hợp lý. Tập trung hoàn thiện khả năng đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện ứng dụng công nghệ cao và vũ khí thông minh.

Chương trình hành động[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 2020, đạt mục tiêu phát triển bộ máy quân sự có trình độ tiên tiến, có khả năng tiến hành các hoạt động tác chiến có quy mô châu lục, cách biên giới quốc gia (của Trung Quốc) từ 3.000 đến 10.000 km. Kết hợp tự lực phát triển hệ thống vũ khí, trang bị với việc mua sắm từ nước ngoài; chú trọng phát triển hiện đại hóa các hệ thống vũ khí phòng không, vũ khí chống tàu ngầm và tàu nổi; phát triển hệ thống vũ khí chống vệ tinh, phóng thêm các loại vệ tinh phục vụ chỉ huy quân sự, định vị, dẫn đường và vệ tinh do thám tín hiệu, do thám hình ảnh; phát triển lực lượng tên lửa đạn đạo mang nhiều đầu đạn hạt nhân và tên lửa, bom hạt nhân chiến thuật. Phát triển lực lượng kinh tế - quân sự, lấy lực lượng tài chính-ngân hàng quân sự để có nguồn thu lớn bù đắp cho chi phí quân sự ngay cả trong thời gian đang có chiến tranh cục bộ.

Chiến lược hành động[cần dẫn nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

Phương sách xuyên suốt áp dụng cho cả thời bình và thời chiến là phản công quyết liệt, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Triệt để tận dụng các cơ hội và điều kiện thuận lợi để tấn công, khi tấn công thì không đặt vấn đề biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ. Tập trung hỏa lực vào những điểm trọng yếu của đối phương; triển khai cùng lúc các hoạt động phòng thủ và tấn công, không chờ phòng thủ xong mới tấn công. Thực hành tấn công trả đũa ngay sau khi bị tấn công với thời hạn nhanh nhất. Nhất thiết chỉ sử dụng lực lượng của chính mình để tấn công đối phương.

Phối hợp chặt chẽ hoạt động quân sự với hoạt động ngoại giao để chủ động chấm dứt chiến sự trên thế mạnh, thế có lợi.

Phối hợp các hoạt động quân sự với hoat động kinh tế quân đội. Triệt để lợi dụng sự rối loạn trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế do việc chủ động phát động chiến sự gây ra để tổ chức các hoạt động buôn bán, môi giới tài chính, ngân hàng, thu lợi nhuận cho quân đội.

Chiến lược phát triển hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

(xem Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc)

Hệ thống cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống quân hàm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập cho đến trước 1955, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc không duy trì hệ thống quân hàm, vốn được cho là sản phẩm của thế giới tư bản, không phù hợp với Quân đội công nông. Trong chiến tranh Triều Tiên, nhiều bất cấp nảy sinh, chính quyền Trung Quốc nhận thấy rõ sự cần thiết phải áp dụng một hệ thống quân hàm trong Quân đội. Năm 1955, Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đầu tiên được chính thức ra đời, hệ thống này được xem là chịu nhiều ảnh hưởng của Quân đội Liên Xô.

Sĩ Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên soái
    • Đại Nguyên soái (không ai được phong)
    • Nguyên soái (10 người được phong)
  • Tướng quan
    • Đại tướng (10 người được phong)
    • Thượng tướng(57 người được phong)
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Đại úy
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng sĩ
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Hệ thống này đến khi Cách mạng văn hóa nổ ra thì bãi bỏ.

Hệ thống quân hàm hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay được xây dựng và áp dụng từ năm 1988 trên cơ sở đoạn tuyệt với hệ thống cấp bậc cũ đặt ra năm 1955, gồm các cấp:

Sĩ Quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tướng quan
    • Nhất cấp Thượng tướng (bãi bỏ năm 1994).
    • Thượng tướng
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cao cấp
    • Nhất cấp Quân sĩ trưởng
    • Nhị cấp Quân sĩ trưởng
    • Tam cấp Quân sĩ trưởng
  • Trung cấp
    • Tứ cấp Quân sĩ trưởng
    • Thượng sĩ
  • Sơ cấp
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Qui định về tương quan chức vụ và quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ tịch Quân uỷ Trung ương (thường do Tổng bí thư kiêm nhiệm): không cấp quân hàm.
  • Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Thành viên Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Tư lệnh Đại quân khu: Thượng tướng hoặc Trung tướng
  • Phó Tư lệnh Đại quân khu: Trung tướng hoặc Thiếu tướng
  • Tư lệnh Quân đoàn: Thiếu tướng hoặc Trung tướng.
  • Phó Tư lệnh Quân đoàn:Thiếu tướng hoặc Đại hiệu.
  • Sư đoàn trưởng: Đại hiệu hoặc Thiếu tướng.
  • Lữ đoàn trưởng (Sư đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Đại hiệu.
  • Trung đoàn trưởng (Lữ đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Trung đoàn phó: Trung hiệu hoặc Thiếu hiệu.
  • Tiểu đoàn trưởng: Thiếu hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Tiểu đoàn phó: Thượng úy hoặc Thiếu hiệu.
  • Đại đội trưởng: Thượng úy hoặc Trung úy.
  • Đại đội phó: Trung úy hoặc Thượng úy.
  • Trung đội trưởng: Thiếu úy hoặc Trung úy.

Các chức vụ không được nêu sẽ được đối chiếu xem tương đương với chức vụ nào ở trên để áp dụng quân hàm phù hợp.Chính ủy,phó chính ủy một đơn vị sẽ áp dụng quân hàm y như với chỉ huy trưởng, chỉ huy phó của đơn vị đó.

Văn hiến tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 1949年6月15日 新政协筹备会第一次全体会议举行,人民网。[2013年8月13日]。
  2. ^ 周恩来与第一届人民政协会议的召开,中国人民政治协商会议全国委员会门户网站。2011年9月26日[2012年8月13日]。
  3. ^ 中国人民解放军军徽的由来,山东博物馆。2011年8月11日[2013年8月13日]。
  4. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  5. ^ 中国人民解放军军旗军徽的诞生, 新华网。2007年8月2日[2013年8月13日]。
  6. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  7. ^ 《人民解放军进行曲》 军歌嘹亮永向前, 新华网。2008年7月9日[2013年8月13日]。
  8. ^ 《八路军进行曲》:军歌嘹亮七十载, 中国文化传媒网。2012年9月18日[2013年8月13日]。
  9. ^ 战史今日7月25日:中国人民解放军军歌确定, 中国新闻网。2013年7月25日[2013年8月13日]。
  10. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  11. ^ 中国人民解放军军歌,人民网。[2013年8月13日]。
  12. ^ Chế độ chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa [Zhonghua Renmin Gongheguo Zhengzhi Zhidu] Chief Editor Pu Xingzu, Shanghai, 2005, Shanghai People’s Publishing House. ISBN 7-208-05566-1]Chapter 11, the State Military System, pp. 369 - 392]
  13. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Dịch từ guyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  14. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. NXB Popury (Nga). 2002. Bản dịch của Đại Vỹ. NXB Thông tấn. Hà Nội. 2004
  15. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  16. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449-450.
  17. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 450-451.
  18. ^ Squadron Leader KK Nair, "Space: The Frontiers of Modern Defence", Knowledge World Publishers, New Delhi, Chap-6, Pgs123-126
  19. ^ Squadron Leadr KK Nair, Space:The Frontiers of Modern Defence, pg 123
  20. ^ China plays down fears after satellite shot down, AFP via Yahoo! News, January 19

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]