Tranh chấp chủ quyền Biển Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển. Quần đảo Trường Saquần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, MalaysiaBrunei. Các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa. Bãi Macclesfield là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines.[cần dẫn nguồn] Quần đảo Đông Sa do Đài Loan quản lý là đối tượng tranh chấp giữa Cộng hòa Nhân dân Trung HoaĐài Loan. Ngoài ra, vùng biển trong khu vực Biển Đông cũng là đối tượng tranh chấp, với lợi ích mà các quốc gia quan tâm gồm: ngư trường, khai thác tài nguyên đặc biệt là dầu khí và kiểm soát của một vị trí chiến lược.[1]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa các quốc gia trong khu vực diễn ra từ sau thế chiến 2. Ban đầu các quốc gia tranh chấp vì vị trí chiến lược của Biển Đông[2]. Đối với Trung Quốc, Biển Đông nói chung cũng như quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa có vị trí quan trọng do nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương là một vùng chiến lược quan trọng, là cổng của lục địa Trung Quốc đi ra thế giới bên ngoài.[3]. Đối với Nhật Bản thì Biển Đông là con đường giao thông huyết mạch, không chỉ với Đông Nam Á mà cả với Trung Đông và châu Âu. Nền kinh tế Nhật Bản gắn liền với sự giao thông này.” [4][5]. Vì lợi ích chiến lược, trong Thế chiến 2 Nhật đã cho xây căn cứ tàu ngầm tại đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.[cần dẫn nguồn]

Sau khi Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 quy định về Vùng đặc quyền kinh tế thì tầm quan trọng của việc khai thác tài nguyên, đặc biệt là đánh cá và khai thác dầu khí là nguyên nhân bổ sung cho mục đích tranh chấp[6] Theo Bộ Tài nguyên, Địa chất Trung Quốc ước tính trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông ước khoảng 17,7 tỷ tấn [7], so với trữ lượng 13 tỷ tấn của Kuwait. Ngày 11 tháng 3 năm 1976, lần đầu tiên công ty dầu Philippines phát hiện một mỏ dầu ngoài khơi đảo Palawan. Mỏ dầu này đang cung cấp 15% lượng dầu mỏ tiêu thụ hàng năm ở Philippines.[cần dẫn nguồn] Một số nguồn khác cho rằng trữ lượng dầu mỏ xác minh trong Biển Đông là 7,5 tỷ thùng [8]. Trung Quốc gọi Biển Đông là "vịnh Ba Tư thứ hai". Tập đoàn Khai thác dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) dự tính chi 200 tỷ nhân dân tệ (tương đương 30 tỷ đô la Mỹ) trong vòng 20 năm để khai thác dầu khí trên khu vực Biển Đông, với độ sâu lên đến 2000 mét trong 5 năm tới với sản lượng khai thác 25 triệu tấn dầu và khí[9]. Tuy nhiên nhiều chuyên gia dầu khí phương Tây hoài nghi con số dự báo của Trung Quốc về trữ lượng dầu khí ở Biển Đông, tập trung chủ yếu ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như không tính đến trữ lượng có thể khai thác thương mại[10][11][12]

Tuy nhiên, không quốc gia nào trong số các quốc gia tuyên bố chủ quyền các đảo Trường Sa tiến hành khai thác tài nguyên trên quy mô lớn để tránh gây ra một cuộc khủng hoảng. Ngoài ra, các công ty dầu quốc tế vẫn chưa được thực hiện các cam kết và hy vọng rằng các tranh chấp lãnh thổ sẽ được giải quyết.

Các cơ hội đánh bắt cá phong phú cũng là một động lực cho yêu sách chủ quyền. Năm 1988, Biển Đông chiếm 8% sản lượng đánh bắt trên thế giới, một con số đó đã tăng kể từ đó.[cần dẫn nguồn] Đã có nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt Nam và Philippines trong khu vực Biển Đông. Trung Quốc tin rằng giá trị thu được từ việc đánh bắt cá và dầu từ biển tăng lên đến 1.000 tỷ đô la Mỹ.

Khu vực này cũng là một trong những tuyến hàng hải bận rộn nhất trên thế giới. Trong những năm 1980, ít nhất 270 tàu chở hàng chạy qua khu vực mỗi ngày. Hơn một nửa lượng hàng hóa vận chuyển bằng tàu biển hàng năm của thế giới đi qua eo biển Malacca, eo biển Sunda, và eo biển Lombok, với đa số tàu này tiếp tục hành trình vào Biển Đông. Lượng tàu chở dầu đi qua eo biển Malacca để vào Biển Đông nhiều hơn 3 lần số tàu loại này qua kênh đào Suez, hơn 5 lần số lượt loại tàu này qua kênh đào Panama.[13]

Tuyên bố lãnh hải[sửa | sửa mã nguồn]

Các khu vực chấp giữa các nước đối với quần đảo trường sa (2009).

Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó. Bởi Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 dặm biển (370.6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Những báo cáo gần đây cho thấy CHND Trung Hoa đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông. Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:

  • Indonesia và CHND Trung Hoa về vùng biển Đông Bắc quần đảo Natuna.
  • Philippines và CHND Trung Hoa về những khu khai thác khí gas MalampayaCamago.
  • Philippines và CHND Trung Hoa về bãi cạn Scarborough.
  • Việt Nam và CHND Trung Hoa về vùng biển phía tây quần đảo Trường Sa. Một số hay toàn bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp giữa Việt Nam, CHND Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Philippines và một số nước khác.
  • CHND Trung Hoa đang quản lý toàn bộ quần đảo Hoàng Sa dù Việt Nam và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền.
  • Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở vịnh Thái Lan.
  • Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore.

Cả Trung Hoa và Việt Nam đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ. Quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm được 6 đảo năm 1974 và 18 binh sĩ đã thiệt mạng. Quần đảo Trường Sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân, hơn bảy mươi lính thủy Việt Nam đã bị giết hại ở phía nam bãi đá Gạc Ma vào tháng 3 năm 1988. Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ va chạm giữa các tàu hải quân.

ASEAN nói chung, và Trung Quốc nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự.[cần dẫn nguồn] Vì vậy, các cơ cấu phát triển chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền của vùng đó. Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan. Tuy nhiên, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố sẽ không ngại dùng vũ lực để lấy quần đảo Trường Sa.[cần dẫn nguồn]

Những tuyên bố lãnh thổ chồng lấn ở Pulau Pedra Branca hay Pulau Batu Putih của cả Singapore và Malaysia đã được đưa ra Tòa án quốc tế. Tòa án đã phán quyết theo hướng có lợi cho Singapore.[cần dẫn nguồn]

Tại hội nghị hòa bình diễn ra tại San Fransico năm 1951, người đứng đầu chính phủ Việt Nam tuyên bố các quần đảo này là một phần của lãnh thổ Việt Nam chủ quyền đối với 2 quần đảo này, tuy nhiên không có ý kiến hoặc bình luận nào. Lúc đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không tham dự.[14]

Năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền trên Biển Đông với đường lưỡi bò 11 đoạn, sau này chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng lại đường lưỡi bò này nhưng chỉ còn 9 đoạn. Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông (biển Nam Trung Hoa) là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sabãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ chừa lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%[15].

Tranh chấp chủ quyền đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cả Việt NamTrung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng SaTrường Sa.[16]

Vào năm 1932, chính quyền PhápĐông Dương chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa, và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền một nửa cho đến năm 1974. Hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956.

Trung Quốc hiện đang chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa kể từ sau trận Hải chiến Hoàng Sa 1974 ngày 19 tháng 1 năm 1974,[17] và chiếm đóng một phần của Trường Sa từ sau ngày 14 tháng 3 năm 1988 sau khi bắn chìm 3 tàu, làm chết 74 chiến sĩ của Hải quân Việt Nam trong trận Hải chiến Trường Sa 1988.[17]

Tháng 4 năm 1988, Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết để thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam đã khẳng định chủ quyền.[17] Tháng 11 năm 2007, Quốc vụ viện Trung Quốc lại phê chuẩn việc lập thành phố Tam Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa.[17]

Năm 2007, đã có vài cuộc biểu tình diễn ra ở Việt Nam để phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa cũng như thành lập Tam Sa.[18] Tuy nhiên, báo chí Việt Nam vào lúc đó lại im lặng.[18] Theo BBC, Tổng biên tập báo điện tử VietnamNet, ông Nguyễn Anh Tuấn đã bị mất chức vì cho đăng bài "Sức mạnh đồng thuận Việt Nam: Nhìn từ Hoàng Sa -Trường Sa".[19]

Các vụ đụng độ[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa kế thừa chính quyền Bảo Đại quản lý quần đảo Hoàng Sa. Riêng hai đảo lớn nhất là Phú LâmLinh Côn đã bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) bí mật chiếm trước khi quân đội Việt Nam Cộng hòa ra đóng quân. Việt Nam Cộng hòa đã đảm nhiệm việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Genève năm 1954 quy định.[cần dẫn nguồn] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa từ ngày 19 tháng 1 năm 1974 khi quân đội của họ tấn công quân đồn trú Việt Nam Cộng hòa và chiếm các đảo phía tây trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Năm 1988, Trung Quốc đã chiếm một số đá ngầm. Năm 1995, Trung Quốc chiếm đá ngầm Vành Khăn đang do Philippines kiểm soát.

Các sự kiện nổi lên trong quan hệ Việt Trung như cản trở hợp đồng của BP với Việt Nam trong vùng Nam Côn Sơn (năm 2007), cản trở hợp đồng của Exxon Mobil với Việt Nam (năm 2008), vụ tàu Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam năm 2007[20], vụ căng thẳng giữa tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ với một số tàu Trung Quốc đầu năm 2009[21] v.v. đều nằm trong ranh giới đường lưỡi bò trong khu vực Biển Đông.

Năm 2011, căng thẳng dâng lên khi các tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines nổ ra. Ngày 26 tháng 5 năm 2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải của Việt Nam, phá hoại thiết bị và cản trở tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đang hoạt động tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi Đại Lãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý.[22][23][24] Tiếp đó là sự kiện một tàu thăm dò dầu khí khác của Việt Nam thuê vừa bị tàu Trung Quốc phá hoại thiết bị vào ngày 9 tháng 6.[25][26][27] Bộ Ngoại giao Việt Nam nói Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam, yêu cầu nước này "chấm dứt ngay, không tái diễn" những hành động đó, đồng thời đòi bồi thường thiệt hại. Việt Nam cũng cho rằng hành động của Trung Quốc vi phạm Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của tuyền bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên trên Biển Đông, cũng như "nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước".[28] Phản hồi cáo buộc của Việt Nam, phía Trung Quốc nói vụ việc ngày 26 tháng 5 là "hoạt động bình thường trong vùng biển chủ quyền của nước này".[29] Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Khương Du tuyên bố "Trung Quốc phản đối việc Việt Nam thăm dò và khai thác dầu khí tại khu vực Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc", vì nó "đi ngược lại lợi ích và chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, vi phạm nhận thức chung mà hai bên đã đạt được về vấn đề này".[29] Ngày 9 tháng 6 năm 2011, 2 tuần sau vụ tàu Bình Minh 02, một tàu thăm dò dầu khí khác của Việt Nam thuê lại tiếp tục bị tàu Trung Quốc phá hoại thiết bị.[25][26][27][27]

Giải quyết tranh chấp[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia Đông Nam Á có tranh chấp trên Biển Đông đã dựa vào ASEAN như là một trung gian để giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và các thành viên của ASEAN. Các thỏa thuận giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc bao gồm các cam kết thông báo cho nhau về bất kỳ động thái quân sự tại khu vực tranh chấp, và tránh xây dựng thêm công trình mới trên các hòn đảo Trong đầu thế kỷ 21, là một phần của chính sách đối ngoại của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trỗi dậy hòa bình (Hán Việt: Hòa bình quật khởi), Trung Quốc đã hạn chế sử dụng vũ lực ở quy mô lớn trong khu vực Biển Đông, chuyển sang hiện thực hóa tuyên bố chủ quyền của mình qua các vụ bắt ngư dân tịch thu ngư cụ, bắn vào tàu đánh cá, húc chìm tàu đánh cá, ngăn cản các công ty thăm dò khai thác dầu khí ký hợp đồng với các quốc gia khác trong khu vực.[cần dẫn nguồn] Trung Quốc và ASEAN cũng đã bắt đầu các cuộc đàm phán nhằm tạo ra một quy tắc ứng xử nhằm giảm bớt căng thẳng đối với quần đảo tranh chấp, đã thống nhất Tuyên bố về cách ứng xử các bên trên Biển Đông (DOC). Tháng 7 năm 2011, Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đã đồng ý với một bộ chỉ dẫn sơ bộ nhằm giải quyết tranh chấp.[30] Ông Lưu Chấn Dân, trợ lí Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã mô tả tài liệu này là "một cột mốc quan trọng thể hiện cho sự hợp tác giữa Trung Quốc và các nước ASEAN".[30] Một số nội dung của tài liệu đã được tiết lộ, ví dụ "bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, an toàn hàng hải và thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia". Tuy vậy, vấn đề khai thác dầu khí và khí thiên nhiên vẫn chưa được giải quyết.

Một điểm cần chú ý là Trung Quốc luôn luôn chủ trương thỏa thuận với từng quốc gia tranh chấp trong khi một số quốc gia Đông Nam Á lại chủ trương đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề tranh chấp.[31]

Quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bất đồng về chính sách vận hành các tàu quân sự và máy bay ở biển Đông của Hoa Kỳ. Bất đồng này càng trở nên trầm trọng hơn bởi một thực tế là Mỹ là chưa phải là một thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Tuy nhiên, Mỹ đã đứng cuộc diễn tập của mình, tuyên bố rằng "các hoạt động khảo sát thăm dò hòa bình và các hoạt động quân sự khác mà không có sự cho phép trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia" được Công ước cho phép. Ngoài ra, việc tự do lưu thông trong biển Đông nằm trong tổng thể lợi ích kinh tế và địa chính trị của của Mỹ. Mặc dù Mỹ không phải là một bên trong tranh chấp nhưng nếu Trung Quốc giành được đặc quyền tại biển này thì Mỹ sẽ phải xin phép Trung Quốc nếu muốn lưu thông qua biển Đông chứ không dựa vào UNCLOS được nữa. Với giả thuyết là Hoa Kỳ muốn duy trì vị thế hàng đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì việc chịu thua áp lực từ Trung Quốc là một viễn cảnh nước này không hề mong muốn. Liên quan đến tranh chấp, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lên tiếng ủng hộ quyền tự do hàng hải bằng cách nhắc lại rằng "tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế" là một vấn đề thuộc lợi ích quốc gia của Mỹ. Ý kiến ​​của bà đã bị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản ứng lại, cho là "nhằm tấn công Trung Quốc", đồng thời cảnh báo Mỹ không được biến vấn đề biển Đông thành "một vấn đề quốc tế hoặc vấn đề đa phương."

Sau này, bà Clinton tiếp tục bày tỏ sự ủng hộ của bà đối với việc xem xét phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển của Quốc hội Hoa Kỳ vì nó sẽ giúp tăng cường sức mạnh của Mỹ trong việc hỗ trợ các quốc gia đang chống đối lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các nhóm đảo trong biển Đông. Ngày 29 tháng 5 năm 2012, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại đối với diễn biến này, tuyên bố rằng "những bên không có tuyên bố chủ quyền trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á cũng như các nước bên ngoài sẽ không được quyền can dự vào cuộc tranh chấp lãnh thổ."[32]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ South China Sea Tables and Maps
  2. ^ Kuang-ming Jih-pao (Canton) 24 Nov. 1975 p.2, cited in Samuels trang 44 và trang 139
  3. ^ Kuang-ming Jih-pao (Canton) 24 Nov. 1975 p.2, cited in Samuels trang 139
  4. ^ ”Oil Drives Territorial Dispute in South China Sea”, International Herald Tribunes, 4/24/1995
  5. ^ ”Creeping Irredentitism in the Spratly Islands”, London: The International Institute for Strategic Studies, March 1995, Strategic Comments
  6. ^ Paul McDonald “Scrambling for Oil in Asia”. The World Today (October 1992), trang 174-175; Chang Pao-Min, “A New Scramble for the South China Sea islands”, Comtemporary Southeast Asia 12,1 (June 1990) trang 20-39
  7. ^ MULTILATERALISM AND THE SOUTH CHINA SEA CONFLICT: QUEST FOR HEGEMONIC STABILITY?
  8. ^ South China Sea Oil and Natural Gas
  9. ^ Oil bonanza in South China Sea
  10. ^ Mark. J Valencia, “China and South China Sea Disputes: Claims and Potential Solutions in the South China Sea,” Adelphi paper 298, (Oxford University Press, Oxford, 1995)
  11. ^ ”Summary of World Broadcast: Far East”, September 5, 1994, No. 2094; Far Eastern Economic Review, June 1, 1995
  12. ^ Craig Snyder, “The Implications of Hydrocarbon Development in the South China Sea,” International Journal, LII: 1, 144
  13. ^ “South China Sea Oil Shipping Lanes”. 
  14. ^ «... Et comme il faut franchement profiter que toutes les occasions et les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratly et Paracels qui de tout temps on fait partie du Vietnam ». Revue France-Asie n°66-67, tr. 505.
  15. ^ Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông
  16. ^ BBC (13 tháng 6 năm 2011). “Hải quân Việt Nam bắt đầu bắn đạn thật”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  17. ^ a ă â b Bùi Thanh (2007). “Không thể chấp nhận được!”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  18. ^ a ă BBC (17 tháng 12 năm 2007). “Dân biểu tình, báo chí VN im lặng”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  19. ^ BBC (20 tháng 12 năm 2007). “Tại sao ông Tuấn phải ra đi?”. BBC Vietnamese. Truy cập 2011-6-112. 
  20. ^ Vụ hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam theo nhận định của tiến sĩ Nguyễn Văn Canh
  21. ^ Mỹ cáo buộc tàu Trung Quốc khiêu khích
  22. ^ Theo TTXVN (27 tháng 5 năm 2011). “Tàu Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam”. VietNamNet. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  23. ^ Theo TTXVN (27 tháng 5 năm 2011). “Tàu Trung Quốc ngang ngược xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam”. VNExpress. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  24. ^ BBC (27 tháng 5 năm 2011). “Tàu Trung Quốc 'vi phạm lãnh hải' Việt Nam”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  25. ^ a ă BBC (9 tháng 6 năm 2011). “Tàu TQ lại 'phá cáp' của tàu Việt Nam thuê”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  26. ^ a ă Theo PetroTimes (10 tháng 6 năm 2011). “Clip vụ tàu Viking II bị tàu Trung Quốc uy hiếp”. VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  27. ^ a ă â Đông Hà, Minh Luận (10 tháng 6 năm 2011). “Tàu cá Trung Quốc xông thẳng vào tàu Viking 2”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  28. ^ BBC (28 tháng 5 năm 2011). “Việt Nam phản đối TQ vi phạm lãnh hải”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  29. ^ a ă BBC (29 tháng 5 năm 2011). “Trung Quốc nói về cáo buộc của Việt Nam”. BBC Vietnamese. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  30. ^ a ă “RPT-China, ASEAN set 'guidelines' on sea row, but no deal expected”. Reuters, 20 July 2011. 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập 20 tháng 7 năm 2011. 
  31. ^ Đông: Hòa bình song phương? Đa phương? Quốc tế hóa?
  32. ^ “China, U.S. square off on South China Sea”. United Press International. 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập 30 tháng 5 năm 2012. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]