Giang Trạch Dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Giang Trạch Dân

Chủ tịch CHND Trung Hoa
Tổng Bí thư ĐCSTQ
Chủ tịch QUTƯ ĐCSTQ
Chủ tịch QUTƯ CHND Trung Hoa
Nhiệm kỳ
27 tháng 3 năm 1993 – 15 tháng 3 năm 2003
Tiền nhiệm Dương Thượng Côn
Đảng Đảng Cộng sản Trung Quốc
Sinh 17 tháng 8 năm 1926
Dương Châu, tỉnh Giang Tô
Phu nhân Vương Dã Bình (王冶坪)

Giang Trạch Dân (chữ Hán phồn thể 江澤民, giản thể: 江泽民, bính âm: Jiāng Zémín) sinh ngày 17 tháng 8 năm 1926) là "hạt nhân của thế hệ lãnh đạo thứ 3" của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1989 tới năm 2002, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ năm 1993 tới năm 2003, và là Chủ tịch Quân uỷ Trung Ương từ năm 1989 tới năm 2004.

Giang Trạch Dân lên nắm quyền lãnh đạo sau sự kiện những cuộc phản kháng trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, thay thế Triệu Tử Dương, người bị thanh trừng vì quá khoan dung với những người phản kháng, với chức vụ Tổng bí thư. Với ảnh hưởng ngày càng suy giảm của Đặng Tiểu Bình vì tuổi tác, Giang Trạch Dân đã thực sự trở thành "lãnh đạo tối cao" trong thập niên 1990. Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung Quốc đã trải qua một giai đoạn phát triển bền vững với các cải cách, thu hồi một cách hoà bình Hồng Kông từ Anh QuốcMa Cao từ Bồ Đào Nha, và cải thiện các quan hệ với thế giới bên ngoài trong khi Đảng Cộng sản vẫn duy trì được sự kiểm soát chặt chẽ với chính phủ. Được biết đến là một trong những khuôn mặt chính trị lôi cuốn của Trung Quốc, Giang Trạch Dân đã bị chỉ trích vì quá cẩn thận với hình ảnh đời sống cá nhân, và quá nhún nhường trước Nga và Hoa Kỳ. Những lời chỉ trích cũng tập trung vào sự bất lực của Giang Trạch Dân trong việc duy trì kiểm soát trên nhiều vấn đề và sự bất công xã hội trong nhiệm kỳ của ông. Các thành viên đảng cộng sản theo đường lối cứng rắn Trung Quốc buộc tội Giang Trạch Dân là một lãnh đạo quá thiên cải cách, người đã hợp pháp hoá hoàn toàn cho chủ nghĩa tư bản. Đóng góp của ông vào học thuyết Mác xít, một danh sách các lý luận mang tính chỉ đạo theo đó Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhà nước, được gọi là lý thuyết Ba Đại diện, đã được đưa vào điều lệ đảng và hiến pháp nhà nước.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử và sự thăng tiến

Giang Trạch Dân sinh tại thành phố Dương Châu, Giang Tô. Tịch quán dòng họ ông, một khái niệm quan trọng trong xã hội truyền thống Trung Quốc, nằm tại thôn Giang (江村), huyện Tinh Đức (旌德县) Huy Châu (徽州) cũ, phía nam tỉnh An Huy, đây cũng là quê hương của một số học giả và trí thức nổi tiếng Trung Quốc. Giang Trạch Dân lớn lên trong những năm chiếm đóng của Nhật Bản. Chú ông, Jiang Shangqing, hy sinh trong chiến đấu với quân Nhật, và được coi là một người tử vì đạo.[1] Giang Trạch Dân vào Đại học Trung Ương Quốc gia (国立中央大学) tại vùng Nam Kinh dưới sự chiếm đóng của quân Nhật trước khi chuyển sang Đại học Giao thông Thượng Hải. Ông tốt nghiệp năm 1947 với tấm bằng kỹ sư điện. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc khi còn đang là sinh viên. Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Giang Trạch Dân được đi học tại Nhà máy Ô tô StalinMoskva trong thập niên 1950. Ông làm việc tại Xưởng ô tô thứ nhất tại Trường Xuân. Cuối cùng ông chuyển sang làm các công việc quản lý của chính phủ và bắt đầu thăng tiến, trở thành một thành viên Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản, Bộ trưởng Công nghiệp Điện năm 1983. Năm 1985 ông trở thành Chủ tịch thành phố Thượng Hải, và sau đó là Bí thư thành uỷ Thượng Hải.

Khi còn là chủ tịch thành phố Giang Trạch Dân nhận được nhiều lời khen chê khác nhau. Nhiều lời chỉ trích cho rằng ông là một "bình hoa", một thuật ngữ Trung Quốc được dùng để miêu tả người chỉ có chức vụ nhưng vô tích sự.[2] Nhiều người cho rằng sự phát triển của Thượng Hải trong thời gian này là công của Chu Dong Cơ [cần chú thích]. Giang Trạch Dân là người tuyệt đối trung thành với đảng, trong giai đoạn này, giữa các cuộc cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình. Trong một nỗ lực nhằm kiềm chế những sinh viên bất bình năm 1986, Giang Trạch Dân đã viện dẫn Bài diễn văn Gettysburg bằng tiếng Anh trước một nhóm sinh viên phản kháng.[3] [4]

Giang Trạch Dân được miêu tả là người có khả năng nói tạm đủ nhiều ngoại ngữ, gồm tiếng Rumani, tiếng Nga, và tiếng Anh. Một trong những sở thích của ông là tiếp đón các vị khách nước ngoài với những cuộc nói chuyện nhỏ về văn học và nghệ thuật bằng ngôn ngữ của họ, ngoài ra còn hát những bài hát ngoại quốc bằng nguyên ngữ. Ông trở nên thân thiết với Allen Broussard, vị thẩm phán người Mỹ gốc Phi tới thăm Thượng Hải năm 1987.

Giang bắt đầu thăng tiến trong hệ thống chính trị quốc gia năm 1987, tự động trở thành một thành viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vì theo truyền thống vị Bí thư thành uỷ Thượng Hải đương nhiên có chân trong Bộ chính trị. Năm 1989, Trung Quốc đối mặt với cuộc khủng hoảng vì những cuộc phản kháng trên Quảng trường Thiên An Môn, và chính phủ Trung ương đang bối rối trước việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó. (Chính sách mở cửa, do Đặng Tiểu Bình đưa ra, đã chứng tỏ là một điểm quan trọng và khôn ngoan trong lịch sử hiện đại Trung Quốc, giúp kinh tế phát triển ở mức độ đáng kinh ngạc trong nhiều thập kỷ.) Tháng 6, Đặng Tiểu Bình bãi chức nhân vật theo đường lối tự do Triệu Tử Dương, người bị cho là có đường lối quá ôn hoà trước các sinh viên phản kháng. Ở thời điểm đó, Giang Trạch Dân là Bí thư thành uỷ Thượng Hải, khu vực hàng đầu của trung tâm kinh tế mới Trung Quốc. Trong một vụ việc với World Economic Herald, Giang Trạch Dân đã cho đóng cửa tờ báo này, lên án nó gây nguy hại. Việc xử lý vụ khủng hoảng ở Thượng Hải đã được Bắc Kinh chú ý, và vị lãnh đạo tối cao khi ấy là Đặng Tiểu Bình. Khi các cuộc phản kháng leo thang và vị Tổng thư ký Đảng cộng sản khi ấy là Triệu Tử Dương bị cách chức, Giang Trạch Dân được giới lãnh đạo Đảng chọn làm ứng cử viên thay cho Li RuihuanTianjin, Thủ tướng Lý Bằng, Chen Yun, và những vị lãnh đạo già cả khác để trở thành Tổng bí thư. Ở thời điểm đó ông bị coi là ứng cử viên không thích hợp. Trong vòng ba năm, Đặng Tiểu Bình đã chuyển hầu hết quyền lực trong Đảng, Nhà nước và quân đội vào tay Giang Trạch Dân.

[sửa] Những năm đầu nắm quyền lãnh đạo

Giang Trạch Dân leo lên chức vụ cao nhất nước năm 1989 với một căn cứ quyền lực hậu thuẫn khá nhỏ trong đảng, và vì thế, có ít quyền hành thực sự. Ông chỉ đơn giản được cho là một nhân vật chuyển tiếp tạm thời trước khi một chính phủ kế tục và ổn định hơn của Đặng Tiểu Bình xuất hiện. Các nhân vật nổi bật khác trong Đảng và Quân đội như Yang Shangkun và người em trai Yang Baibing được cho là đang lên kế hoạch một cuộc đảo chính. Giang Trạch Dân đã dùng Đặng Tiểu Bình làm hậu thuẫn cho mình trong những năm đầu cầm quyền. Vốn được coi là người có quan điểm tân bảo thủ, Giang Trạch Dân đã cảnh báo chống lại "tự do hoá tư sản". Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình cho rằng phương pháp duy nhất để Đảng Cộng sản tiếp tục nắm quyền cai trị trên toàn Trung Quốc là tiếp tục con đường cải cách kinh tế và hiện đại hoá, và vì thế có quan điểm trái ngược Giang Trạch Dân.

Đặng Tiểu Bình đã làm gia tăng lời chỉ trích sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân năm 1992. Trong chuyến đi thăm phương nam, ông đã khôn khéo gợi ý rằng tốc độ cải cách còn chưa đủ nhanh, và giới "lãnh đạo trung ương" (như Giang Trạch Dân) phải chịu trách nhiệm chính. Giang Trạch Dân trở nên cẩn thận hơn và hoàn toàn tuân thủ các cải cách của Đặng Tiểu Bình. Năm 1993, Giang Trạch Dân đưa ra thuật ngữ mới "Kinh tế Thị trường Xã hội chủ nghĩa", một tuyên bố bề ngoài có vẻ nghịch lý, để chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của Trung Quốc sang một nền kinh tế thị trường tư bản có sự quản lý của nhà nước. Đây là một bước tiến vĩ đại của chủ trương "Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc" của Đặng Tiểu Bình. Cùng lúc ấy, sau khi đã lấy được lòng tin của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân bổ nhiệm nhiều người thân tín ở Thượng Hải vào các chức vụ trong chính phủ. Ông xoá bỏ Uỷ ban Cố vấn Trung ương, một cơ quan cố vấn gồm các vị lãnh đạo cách mạng già cả, đã lỗi thời. Giang Trạch Dân nắm chức Chủ tịch Quân uỷ Trung ương năm 1989, sau khi đã được bầu làm Chủ tịch nước tháng 3 năm 1993.

[sửa] Chức Chủ tịch nước

Giang Trạch Dân và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton.
Giang Trạch Dân và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton.

Đặng Tiểu Bình mất đầu năm 1997, và Trung Quốc, dần phát triển từ các cuộc cải cách từ thời Đặng Tiểu Bình với sự ổn định khá vững chắc trong thập niên 1990, phải đối mặt với các vấn đề kinh tế và xã hội. Tại lễ tang Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đọc bài ca ngợi chính thức, với cả những giọt nước mắt mà nhiều người bên trong Trung Quốc coi là giả dối. Giang Trạch Dân đã thừa hưởng một đất nước Trung Quốc với tình trạng tham nhũng nặng nề, các nền kinh tế địa phương phát triển quá nhanh cho sự ổn định của toàn thể đất nước. Ý tưởng của Đặng rằng "một số vùng có thể trở nên giàu có trước các vùng khác" đã khiến hố sâu ngăn cách giàu nghèo giữa các vùng ven biển và vùng nội địa càng rộng. Sự phát triển kinh tế thần kỳ đương nhiên dẫn tới tình trạng nhiều doanh nghiệp nhà nước (SOE) phải bị đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 40% tại một số vùng thành thị. Các thị trường chứng khoán lên xuống bất thường. Tỷ lệ di cư từ nông thôn tới các vùng thành thị lớn chưa từng thấy trên thế giới và chính phủ không làm được gì nhiều để giảm hố sâu ngăn cách về kinh tế giữa thành thị và nông thôn. Các báo cáo chính thức về phần trăm GDP của Trung Quốc bị mất đi do các quan chức tham nhũng lên tới 10%.[cần chú thích] Một môi trường hỗn loạn các phiếu nợ bất hợp pháp do các quan chức dân sự và quân sự phát hành đã khiến đa số các tài sản bị tham nhũng được chuyển ra nước ngoài. Mức độ tham nhũng đã quay trở lại, nếu không nói là vượt quá, tình trạng thời kỳ Cộng hoà hồi thập niên 1940. Tỷ lệ tội phạm tăng vọt và sự tái xuất hiện của tội phạm có tổ chức bắt đầu trở thành tai hoạ tại các thành phố. Tình trạng phá hoại môi trường tự do càng khiến giới trí thức lo ngại và lên tiếng cảnh báo. Mục tiêu lớn nhất của Giang Trạch Dân trong điều hành kinh tế là sự ổn định, và ông tin rằng một chính phủ ổn định với quyền lực tập trung trung ương cao độ là điều kiện tiên quyết, chấp nhận trì hoãn cải cách chính trị, vốn là nguyên nhân gây ra rất nhiều vấn đề.[5] Giang Trạch Dân tiếp tục rót vốn để phát triển các Vùng Kinh tế Đặc biệt và các vùng ven biển.

Giang Trạch Dân được cho là vị lãnh đạo Trung Quốc đầu tiên thực sự biết sử dụng truyền hình để tăng cường hình ảnh cá nhân, giành được tiếng là người có sức lôi cuốn, dù không phải tuyệt đối. Bắt đầu từ năm 1996, Giang đưa ra một loạt các biện pháp cải cách với giới truyền thông đang thuộc quyền quản lý của nhà nước, với mục đích tăng cường "hạt nhân lãnh đạo" dưới quyền mình, và cùng lúc ấy đàn áp một số đối thủ chính trị. Việc tăng cường hình ảnh cá nhân trên các phương tiện truyền thông không được tán thành ở thời Đặng Tiểu Bình, và cũng không hề có ở thời Mao Trạch Đông và Hoa Quốc Phong hồi cuối thập niên 1970. Trên tờ Nhân dân Nhật Báo và bản tin lúc 7 giờ sáng của CCTV-1 đều có các sự kiện liên quan tới Giang, việc này kéo dài cho tới khi Hồ Cẩm Đào đưa ra những thay đổi trong quản lý truyền thông năm 2006. Ông xuất hiện bất ngờ trước truyền thông phương Tây và có một cuộc phỏng vấn chưa từng có tiền lệ với nhà báo Mike Wallace của kênh CBS năm 2000 tại Beidaihe. Giang Trạch Dân thường sử dụng tiếng nước ngoài trước các ống kính truyền thông phương tây, dù không phải lúc nào cũng trôi chảy. Trong một cuộc gặp với một phóng viên Hồng Kông năm 2000 về hành động rõ ràng kiểu "mệnh lệnh triều đình" của chính phủ trong việc ủng hộ Đổng Kiến Hoa tranh cử chức Chủ tịch Hành pháp Hồng Kông, Giang Trạch Dân đã gọi các nhà báo Hồng Kông một cách bất lịch sự là "too simple, sometimes naive" (quá đơn giản, thỉnh thoảng ngờ nghệch) bằng tiếng Anh[6]. Sự kiện này đã được phát trên truyền hình Hồng Kông buổi tuối hôm đó, và bị coi là một scandal ở bên ngoài Trung Quốc.

Từ năm 1999, truyền thông cũng đóng một vai trò trung gian trong việc khủng bố Pháp Luân Công, được cho là một hành động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính Giang, và bị chỉ trích mạnh mẽ ở phương Tây. Giang Trạch Dân được cho là đã xung đột với vị thủ tướng khi ấy là Zhu Rongji về việc xử lý phong trào tinh thần phát triển nhanh chóng này. Giang cũng cho bắt giữ những người điều phối và dẹp tan các vụ biểu tình, dù có nhiều hành động phản kháng từ các nhóm nhân quyền. Ông cũng là bị đơn của nhiều cuộc kiện tụng liên quan tới vấn đề này.

[sửa] Chính sách đối ngoại

Giang Trạch Dân cũng đã bị chỉ trích bên trong Trung Quốc vì quá khoan nhượng với Hoa KỳNga.[cần chú thích] Ông đã tiến hành một chuyến Viếng thăm cấp nhà nước bất ngờ tới Hoa Kỳ năm 1997, gây ra nhiều đám đông phản đối từ Phong trào Độc lập Tây Tạng cho tới những người thực hiện Pháp Luân Công. Giang Trạch Dân đã đọc một bài diễn văn tại Đại học Harvard, một phần bằng tiếng Anh, nhưng vẫn không tránh khỏi các câu hỏi về dân chủ và tự do. Trong cuộc gặp thượng đỉnh chính thức với Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, giọng điệu ngoại giao đã mềm mỏng hơn khi Giang Trạch Dân và Clinton cùng đề cập tới những lập trường chung và tránh đi các bất đồng. Clinton tới thăm Trung Quốc tháng 2 năm 1999, và nói rằng Trung Quốc cùng Hoa Kỳ là các đồng minh chứ không phải hai đối thủ. Khi khối NATO do Hoa Kỳ đứng đầu ném bom đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade năm 1999, Giang Trạch Dân dường như đã chuẩn bị một lập trường cứng rắn để thể hiện trong nước nhưng trên thực tế ông chỉ đưa ra những hành động phản kháng mang tính biểu tượng. Một hành động tương tự diễn ra khi một chiếc máy bay do thám của Mỹ va chạm với một chiếc máy bay phản lực Trung Quốc, khiến viên phi công Trung Quốc thiệt mạng. Giang Trạch Dân đã cho phép phi hành đoàn chiếc máy bay Mỹ ở tại một khách sạn sang trọng tại Hải Nam, và thả họ ba ngày sau đó mà không yêu cầu bất kỳ khoản bồi thường thiệt hại nào.[cần chú thích] Đa phần chính sách đối ngoại của Giang Trạch Dân chú trọng tới thương mại quốc tế chứ không phải hội nhập kinh tế. Là một người bạn của cựu Thủ tướng Canada Jean Chretien[7] Giang Trạch Dân đã tăng cường vị thế kinh tế của Trung Quốc ở nước ngoài, tìm cách thiết lập quan hệ thân thiện với các quốc gia có nền thương mại tiếp giáp với nền kinh tế Mỹ.

[sửa] Phát triển kinh tế

Giang Trạch Dân không có chuyên môn về kinh tế, và vào năm 1997 đã giao nhiệm vụ điều hành kinh tế đất nước cho Zhu Rongji, người đã trở thành Thủ tướng, và tiếp tục giữ chức này trong suốt cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á. Dưới sự lãnh đạo chung của họ, Lục địa Trung Quốc đã duy trì được mức tăng trường GDP 8% mỗi năm, đạt được mức tăng trưởng kinh tế trên đầu người cao nhất so với các nền kinh tế lớn trên thế giới, khiến thế giới phải kinh ngạc về tốc độ tăng trưởng này. Điều này có được chủ yếu nhờ sự tiếp nỗi quá trình chuyển tiếp sang một nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các nhà kinh tế, buộc tội Giang đã tạo ra một nền kinh tế bong bóng có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, việc kiểm soát chặt chẽ kinh tế của chính phủ vẫn tiếp diễn, khi Giang Trạch Dân không ngừng tập trung quyền lực. Thành quả trong thời kỳ cầm quyền của Giang càng tăng với việc Trung Quốc gia nhập thành công vào Tổ chức Thương mại Thế giới và Bắc Kinh giành quyền đăng cai Olympics Mùa hè năm 2008.

[sửa] Thuyết Ba Đại Diện

Trước khi chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo trẻ hơn, Trang Trạch Dân đã đưa Thuyết Ba Đại Diện của mình vào trong Điều lệ Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác xít Lêninít, Tư tưởng Mao Trạch Đông, và Học thuyết Đặng Tiểu Bình Tại đại hội thứ 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002. Dù trái ngược với Chủ nghĩa Mao và Chủ nghĩa Mác ở một số khía cạnh, nó cũng được đưa vào trong Hiến pháp Trung Quốc. Những người chỉ trích tin rằng đây chỉ là một phần trong sự thần thánh hoá cá nhân Giang, những người khác coi vivệc áp dụng học thuyết là tư tưởng dẫn đường trong việc lãnh đạo tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Học thuyết Ba Đại Diện được nhiều nhà phân tích chính trị coi là nỗ lực của Giang Trạch Dân nhằm mở rộng các Nguyên tắc Mác xít Lêninít, và vì thế đưa ông lên ngang tầm với những triết gia Mác xít Trung Quốc thời trước như Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Giang Trạch Dân cũng bị nhiều nhóm chỉ trích, đáng chú ý nhất là bởi Pháp Luân Công, một tổ chức tinh thần tố cáo Giang và Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ông đã đàn áp các thành viên của họ. Tờ Epoch Times đã xuất bản một cuốn sách chỉ trích mạnh mẽ Giang với tựa đề Anything for Power: The Real Story of China’s Jiang Zemin (Tất cả cho Quyền lực: Câu chuyện thực về Giang Trạch Dân của Trung Quốc), nêu ra nhiều vụ scandal và những hành động tàn bạo của Giang Trạch Dân trong thời kỳ nắm quyền, gồm cả lý lịch gia đình mơ hồ, hành động đàn áp dã man Pháp Luân Công, và cái gọi là mối quan hệ của ông với ca sĩ Song Zuying. [8]

[sửa] Dần rút lui khỏi quyền lực

Năm 2002, Giang Trạch Dân dời khỏi Ban thường trực Bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc nhường đường cho một "thế hệ lãnh đạo thứ tư" đứng đầu là Hồ Cẩm Đào, đánh dấu sự khởi đầu quá trình chuyển tiếp quyền lực kéo dài trong vài năm. Hồ Cẩm Đào lên nắm chức vụ lãnh đạo đảng, trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản. Sáu trong số chín thành viên mới Ban thường trực ở thời điểm ấy được coi là một phần trong cái gọi là "Nhóm Thượng Hải" của Giang, đáng chú ý nhất là vị Phó Chủ tịch Zeng Qinghong và Phó thủ tướng Huang Ju.

Dù vậy Giang Trạch Dân vẫn giữ chức chủ tịch cơ quan đầy quyền lực là Quân uỷ Trung ương, đa số cá thành viên cơ quan này là các sĩ quan quân đội chuyên nghiệp. Liberation Army Daily (Nhật Báo Quân đội Giải phóng), một tờ báo được cho là đại diện cho các quan điểm của đa số quân đội Trung Quốc, ngày 11 tháng 3 năm 2003 đã có một bài trích dẫn hai đại biểu quân đội nói, "Có một trung tâm được gọi là 'trung thành', trong khi hai trung tâm sẽ dẫn tới 'các vấn đề.'" [1] Điều này được hiểu là một lời chỉ trích nỗ lực của Giang nhằm thực hiện quyền lãnh đạo đôi với Hồ Cẩm Đào theo mô hình của Đặng Tiểu Bình.

Hồ Cẩm Đào kế tục Giang Trạch Dân làm chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ngày 15 tháng 3 năm 2003. Trước sự ngạc nhiên của nhiều nhà quan sát, bằng chứng về sự ảnh hưởng kéo dài của Giang Trạch Dân trên chính sách bỗng biến mất khỏi truyền thông. Giang Trạch Dân rõ ràng đã giữ im lặng trong cuộc khủng hoảng dịch SARS, đặc biệt rõ khi so sánh với Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo. Đã có những tranh luận cho rằng các thoả thuận về định chế được đưa ra sau Đại hội đảng lần thứ 16 khiến Giang chỉ có một vị trí không còn nhiều ảnh hưởng nữa.[cần chú thích] Dù nhiều thành viên Ban thường trực Bộ chính trị là đồng minh của ông, Ban thường trực không có chức năng lãnh đạo với bộ máy quản lý dân sự.

Giang Trạch Dân cùng vợ Wang Yeping và George W. Bush cùng vợ Laura tại Crawford, Texas 2002.
Giang Trạch Dân cùng vợ Wang Yeping và George W. Bush cùng vợ Laura tại Crawford, Texas 2002.

Ngày 19 tháng 9 năm 2004, sau một cuộc gặp bốn ngày với 198 thành viên Ban chấp hành Trung ương, Giang Trạch Dân đã từ chức chủ tịch Quân uỷ Trung ương, vị trí cuối cùng trong đảng của ông. Sáu tháng sau ông từ chức vụ cuối cùng, chủ tịch State CMC. Điều này đã khiến trong nhiều tuần tiếp theo đã có những lời đồn rằng những người ủng hộ Hồ Cẩm Đào trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản đã gây sức ép buộc Giang Trạch Dân rút lui. Theo đúng quy định, Giang Trạch Dân chỉ hết nhiệm kỳ vào năm 2007. Hồ Cẩm Đào lên nắm chức chủ tịch CMC, nhưng, trong một thất bại chính trị rõ ràng của Giang Trạch Dân, Xu Caihou, chứ không phải Zeng Qinghong được chỉ định làm vị phó của Hồ Cẩm Đào. Cuộc chuyển tiếp quyền lực này chính thức đánh dấu sự kết thúc kỷ nguyên của Giang tại Trung Quốc, khoảng từ năm 1993 tới năm 2004.

Dù Giang ít khi xuất hiện trước công chúng từ sau khi từ bỏ chức vụ chính thức cuối cùng hồi năm 2004, ông đã xuất hiện cùng Hồ Cẩm Đào trong lễ kỷ niệm lần thứ 80 ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân [9], và đi thăm Bảo tàng Quân đội của Cách mạng Nhân dân Trung Quốc với Lý Bằng, Zhu Rongji, và các quan chức cao cấp khác.[10]

[sửa] Di sản

Các nhà sử học và tác gia tiểu sử đã tranh luận về điều có thể được coi là "di sản Giang Trạch Dân". Giang muốn đó là Thuyết Ba Đại diện, gọi nó là một "tư tưởng quan trọng" trên lục địa, trở thành di sản tư tưởng của ông. Dù thuyết này đã được đưa vào cả trong Điều lệ Đảng và Hiến pháp cùng với Tư tưởng Mao Trạch ĐôngHọc thuyết Đặng Tiểu Bình, hiệu quả thực tế của nó còn chưa được xác nhân, và dường như nó đang mất ảnh hưởng trước các tư tưởng Viễn cảnh Khoa họcXã hội Hài hoà của Hồ Cẩm Đào bên trong Đảng. Giang đã gặp phải sự chỉ trích lặng lẽ bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc vì chú trọng vào phát triển kinh tế với mọi giá bỏ qua sự trả giá về môi trường, khiến hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ở Trung Quốc mở rộng và khiến những người không được hưởng mấy từ thành quả phát triển kinh tế trở thành là người chịu những hậu quả xã hội chính.[cần chú thích] Trái ngược lại, các chính sách của người kế nhiệm ông, Hồ Cẩm ĐàoÔn Gia Bảo được nhiều người coi là những nỗ lực nhằm giải quyết những bất bình đẳng đó và chuyển từ chỉ chú trọng vào phát triển kinh tế sang nhãn quan phát triển rộng hơn bao gồm cả các lĩnh vực phi kinh tế như sức khoẻ và môi trường.[cần chú thích]

Ở trong nước, di sản và tiếng tăm của Giang cũng có nhiều tranh luận. Trong khi một số người coi giai đoạn tương đối ổn định và phát triển trong thập niên 1990 là công của Giang, một số người khác lại cho rằng ông đã không hành động nhiều để sửa chữa các sai lầm từ những cuộc cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình, khiến thế hệ lãnh đạo tiếp sau phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, một số trong đó đã quá muộn để có thể giải quyết. Sự ám ảnh của Giang Trạch Dân với hình ảnh bên ngoài cũng đã gây ra một khuynh hướng các dự án hoành tráng khắp đất nước, các quan chức địa phương đã chi những số tiền khổng lồ vào các dự án xây dựng to lớn và không cần thiết. Thuyết Ba Đại Diện của Giang hợp thức hoá việc kết hợp tầng lớp kinh doanh tư bản mới vào đảng, và thay đối lý thuyết nền tảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc là bảo vệ người nông dân và công nhân những người chiếm "đại đa số nhân dân", một uyển ngữ với mục đích gộp cả tầng lớp enterpreneurial đang ngày càng phát triển. Những người chỉ trích mang tư tưởng bảo thủ bên trong đảng đã lặng lẽ phản đối hành động này, coi đó là sự phản bội tư tưởng cộng sản, trong khi những người cải cách ca ngợi Giang là một người có tầm nhìn xa trông rộng.[cần chú thích] Tuy nhiên, một hành động như vậy đã hợp thức hoá cho một tầng lớp trung gian giữa những nhà kinh doanh và tầng lớp lãnh đạo, vì thế kết nối một cách hữu hiệu giới lãnh đạo và những lợi ích tài chính, mà những người chỉ trích cho rằng làm tăng tình trạng lạm phát. Một số người đã trong rằng đây là phần di sản sẽ còn tồn tại lâu của Giang, ít nhất là về mặt hình thức, khi những người cộng sản còn nắm quyền lực.[cần chú thích]

Nhiều nhà viết tiểu sử Giang Trạch Dân đã lưu ý rằng chính phủ của ông giống với một chính thể đầu sỏ trái ngược với một chính thể độc tài.[11] Rất nhiều chính sách của ông đã được gán cho các nhân vật khác trong chính phủ[cần chú thích], chủ yếu là Zhu Rongji, người có quan hệ mật thiết với Giang, đặc biệt đã tuân theo quyết định của Giang đàn áp phong trào Pháp Luân Công.[cần chú thích] Giang thường được cho là nguyên nhân[cần chú thích] của những thắng lợi đối ngoại trong nhiệm kỳ của ông, nhưng cùng lúc ấy nhiều người Trung Quốc[cần chú thích] chỉ trích ông vì quá khoan nhượng trước Hoa Kỳ và Nga. Vấn đề thống nhất Trung Quốc giữa lục địa và Đài Loan đã được bàn luận nhiều trong nhiệm kỳ của ông, và những cuộc đàm phán giữa hai bờ eo biển cuối cùng đã dẫn tới một thoả thuận Ba Liên Kết sau khi ông kết thúc nhiệm kỳ. Đường sắt Thanh Hải - Tây Tạng bắt đầu được xây dựng ở thời cầm quyền của Giang, và đã được nhiều người dân Tây Tạng ca ngợi[12], dù một số người coi đó chỉ đơn thuần là một hành động chính trị.[cần chú thích] Giang Trạch Dân cũng bị cáo buộc nhân nhượng trước Nhật Bản và Hoa Kỳ trong vấn đề ngoại giao.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo và đọc thêm

  1. ^ The Epoch Times
  2. ^ BBC: Profile: Jiang Zemin
  3. ^ Kuhn, Robert Lawrence: The Man Who Changed China: The Life and Legacy of Jiang Zemin
  4. ^ Book: Real Story of Jiang Zemin: Introduction(4)
  5. ^ BBC: Profile: Jiang Zemin
  6. ^ http://www.hkja.org.hk/press_free/a_report/annual_report_2001.htm Hong Kong Journalists Association: FOE Annual Report, 2001]
  7. ^ Xinhua:China's Jiang Zemin, Canada's Jean Chretien discuss relations October 21, 2001.
  8. ^ Anything for Power: The Real Story of China’s Jiang Zemin Published Epoch Times
  9. ^ China's leadership makes show of unity ahead of key Communist Party congress International Herald Tribune
  10. ^ Former Chinese President tours Military Museum CCTV International
  11. ^ Kuhn, 2004; Lam, 1997
  12. ^ "Qinghai-Tibet Railway Kicks off". People's Daily (June, 2001). Được truy cập ngày 2007-02-03.
  • Gilley, Bruce. "Tiger on the Brink: Jiang Zemin and China's New Elite." Berkeley: University of California Press, 1998. 395pp. This was the first biography of Jiang to appear in the West. A comprehensive and highly readable journalistic account of Jiang's early years, his ascendancy within the Party bureaucracy, and his ultimate rise to power as Deng Xiaoping's successor in the wake of Tiananmen.
  • Kuhn, Robert Lawrence = The Man Who Changed China: The Life and Legacy of Jiang Zemin, Random House (English edition) 2005. Century Publishing Group, Shanghai (Chinese edition) 2005. The book is a general biography of Jiang with a more favorable stance towards him.
    • China Daily = English language review of biography by Dr. Kuhn.
  • The Real Story of Jiang Zemin, The Epoch Times newspaper. http://www.theepochtimes.com This article is largely critical of Jiang. (Authorship remains anonymous for safety reasons)
  • Lam, Willy Wo-Lap. "The Era of Jiang Zemin"; Prentice Hall, Singapore: 1999. General Jiang-era background information and analysis, not comprehensive biography.

[sửa] Liên kết ngoài

Wikiquote sưu tập danh ngôn về:
Tiền nhiệm:
Dương Thượng Côn
Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
1993 – 2003
Kế nhiệm:
Hồ Cẩm Đào
Tiền nhiệm:
Triệu Tử Dương
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc
1989 – 2002
Kế nhiệm:
Hồ Cẩm Đào



Công cụ cá nhân