Người Tráng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Tráng
Nong Zhigao's Art Photo.jpg Lu Rongting.jpg
Huang Xianfan Graduation Photo.jpg
Nhân vật lịch sử người Choang
*Nùng Trí Cao
*Lục Vinh Đình
*Huỳnh Hiện Phan
Tổng số dân
18 triệu
Khu vực có số dân đáng kể
 Trung Quốc
Ngôn ngữ
Tiếng Tráng, Tiếng phổ thông Trung Quốc
Dân tộc thiểu số có liên quan
Bố Y, TàyNùng (Việt Nam)

Người Tráng hay người Choang (Chữ Tráng Chuẩn: Bouxcuengh, /pou˦˨ ɕueŋ˧/; Chữ Nôm Tráng: 佈壯 bính âm: Bùzhuàng; Chữ Hán giản thể: 壮族, phồn thể: 壯族, bính âm: Zhuàngzú; Chữ Thái: ผู้จ้วง, P̄hū̂ĉwng) là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc. Ngoài ra một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý ChâuHồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận. Người khởi xướng trang "người Tráng online" đưa ra từ "rauz" (l/ra:uA2)[note 1] làm tên gọi chung cho người Bố Y, Tráng và một số nhóm Tai ở Việt Nam.[1] Dân số Tráng ước tính khoảng 18 triệu người, xếp thứ hai sau người Hán. 94 % dân số Tráng sống tại tỉnh Quảng Tây,[2] tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh.[2] Theo cục thống kê Quảng Tây (2006) 61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Tráng chiếm 32,6%, 6% còn lại là các sắc tộc thiểu số khác.[2] Người Tráng hiện nay là dân tộc thiểu số lớn nhất Trung Quốc.

Người Tráng ở Trung Quốc cũng chính là người Nùngngười TàyViệt Nam.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên trong tiếng Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hán xem người Tráng là một dân tộc thống nhất.[3] Tên gọi sớm nhất chỉ người Tráng là Ô Hử (Wuhu 烏滸) vào thời Tây Hán.[3] Thời Đông Hán (năm 40 SCN), người Tráng được gọi là Ly (Li 狸).[3] Thời Tam Quốc, họ được gọi là Lão hay Liêu (Lao, Liao 獠).[4] Thời Tấn họ được gọi là Lang (Lang 狼). Cuối cùng vào thời Tống thông lệ gọi họ là "Tráng" bắt đầu hình thành, dùng chữ 獞 cho tên gọi này. Cụ thể "Tráng" là tên tự xưng được người Tráng sử dụng rộng rãi ở nửa phía bắc Quảng Tây.[5]

Hán tự Zhuàng "獞" (hay tóng; Hán Việt: đồng; nghĩa: chó hoang) gồm phần nghĩa phù thuộc bộ khuyển (chó) 犭 và phần âm phù 童 đồng (trẻ con, trẻ thơ). Hán tự thường kết hợp một phần chỉ ý nghĩa (nghĩa phù) và một phần chỉ âm (âm phù). John DeFrancis gọi Zhuàng 獞 (gồm bộ khuyển 犭 và phần âm phù đồng 童) là một kiểu bôi xấu sắc tộc và miêu tả cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thay thế nó như thế nào.[6] Năm 1949, sau nội chiến Quốc-Cộng, Chữ 獞 đã chính thức được thay thế bằng Zhuàng 僮 (hay tóng; Hán Việt: Đồng; nghĩa "đứa trẻ, trẻ em), gồm "bộ nhân" (người) 亻và phần âm cũ. Hán tự dùng để chỉ dân tộc Tráng được chuyển từ 僮 sang 壮 (nghĩa: "mạnh mẽ; cường tráng") năm 1964, được ghi chép lại do gợi ý của Chu Ân Lai.[7]

Tên tự xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Người Tráng không có cách thống nhất để gọi họ và ngôn ngữ của họ.[3] Điều này làm tăng thêm rắc rối về việc ai là người Tráng (tiếng phổ thông Zhuang [tʂuaŋ], trước kia được đánh vần là Chuang).[3] Hơn nữa, người Tráng có hơn hai mươi tên dùng để tự gọi mình, gồm: pou4 tsu:ŋ6/pou4 ɕu:ŋ6 (phía tây và trung tâm Quảng Tây); pu4jai4 = Bố Y (phía tây Quảng Tây và Vân Nam); pu4 noŋ2 (Văn Sơn, Vân Nam); bu6 dai2 (Văn Sơn, Ma Lật Pha và Khai Viễn tỉnh Vân nam); pho6 thai2 (Long Châu, Quảng Tây); kɯn2 tho3 hay pu4 to3 (Tả Giang); pou4 ma:n2 (Hà Trì, Quảng Tây); pou4 ba:n3 ("người bản" Vũ Minh, Quảng Tây); và pou4 lau2 (Phượng Sơn, Quảng Tây).[3] Trong cuốn Zhongguo Da Baike Quanshu cho biết người Tráng ở những vùng khác nhau còn tự gọi họ là: Bushuang, Butu (Bố Thổ 布土) hay Gentu (Căn Thổ 根土), Buyang (Bố Ương 布央), Buyue (Bố Việt 布越)[note 2], Buna (Bố Na 布那), Nong'an (Nùng An 儂安), Bubian (Bố Thiên 布偏), Tulao (Thổ Lão 土僚), Gaolan, Buman, Buming, Bulong, Budong.[3] Tình trạng này bị làm phức tạp thêm do các quyết định của chính phủ Trung Quốc xếp các dân tộc phi Tráng, như E và La Chỉ (Laji) vào dân tộc Tráng.[3]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiếng Tráng
Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tráng tại Quảng Tây, châu tự trị Tráng-Miêu Văn Sơn (Vân Nam) và huyện tự trị Tráng-Dao Liên Sơn (Quảng Đông).

Tiếng Tráng là một nhóm các phương ngữ không thể thông hiểu lẫn nhau thuộc ngữ chi Tai, bị ảnh hưởng nhiều bởi các phương ngữ của tiếng Hoa.[9] Tiếng Tráng chuẩn dựa trên một phương ngữ phía bắc gọi là Tráng Ung Bắc (Yongbei Zhuang 邕北壮语) được nói tại huyện Vũ Minh (Wuming 武鸣县) tỉnh Quảng Tây. Tiếng Tráng chuẩn được xếp vào ngữ nhánh Tai Bắc, gần với tiếng Bố Y, rất ít người học loại tiếng này. Do đó người Tráng từ những vùng nói phương ngữ khác nhau sử dụng một trong số các phương ngữ của tiếng Hoa để giao tiếp. Theo thống kê của thập niên 1980, 42% người Tráng chỉ nói tiếng Tráng, và 55% nói được cả tiếng Tráng và Tiếng Trung. Theo một số nguồn bán chính thức "tại Quảng Tây, giáo dục bắt buộc là bằng tiếng Tráng và Tiếng Trung, tập trung vào sự biết đọc viết sớm chữ Tráng".[9] Trên thực tế chỉ một phần trăm nhỏ số trường học dạy viết chữ Tráng. Vào năm 2000, không còn ngôi trường nào thực sự dạy tiếng Tráng ở những vùng sinh sống của người Tráng.[10] Tiếng Tráng được viết bằng chữ tượng hình dựa trên Hán tự ("Sawndip" hay chữ nôm Tráng) trong hơn một nghìn năm. Chữ Tráng chuẩn, một loại bảng chữ cái chính thức, được đưa ra năm 1957, và năm 1982 các kí tự Kirin được đổi hết sang kí tự Latinh, tuy nhiên chữ viết dựa trên kí tự truyền thống vẫn phổ biến hơn trong các hoạt động, nghi lễ ít trang trọng.[11]

Người Tráng có các bài tế riêng được viết dưới dạng thơ, ví dụ như Baeu Rodo.[12][13]

Phân Chia Tráng Bắc-Tráng Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa trên sự khác biệt về từ vựng và âm vị, các học giả Trung Quốc lập mười hai vùng phương ngữ trong tiếng Tráng. Bảy vùng được xếp vào Tráng Bắc và năm vùng được xếp vào Tráng Nam. 68% trong tổng dân số Tráng nói các phương ngữ Tráng Bắc, 32% nói các phương ngữ Tráng Nam.[14] Các đặc điểm ngôn ngữ khác biệt nhất phân chia Tráng Bắc và Tráng Nam:

  • Các phương ngữ Tráng Nam tồn tại các phụ âm đầu bật hơi ph [pʰ], kh [kʰ], th [tʰ], nhưng các phương ngữ Tráng Bắc khuyết các phụ âm này, ví dụ: Tráng Tĩnh Tây tha1 'mắt' so với Lai Tân ta1; Tráng Long Châu kha3 'giết' so với Vũ Minh ka3.
  • "r" (thường phát âm là [ɣ]) trong các phương ngữ Tráng Bắc tương ứng với một số âm trong các phương ngữ Tráng Nam, chẳng hạn như "h", "khj", "l", "n".
  • Giữa các phương ngữ Tráng Bắc và các phương ngữ Tráng Nam còn tồn tại các cặp âm tương ứng như sau: (bắc-nam) f~m; p~v; ɯŋ~aɯ; a:k~ɯ:k; a:n~ɯ:n.

Một số từ vựng đặc thù phân biệt Tráng Bắc và Tráng Nam được liệt kê như sau:

Tráng Bắc Tráng Nam Nghĩa
bɯn1 fa4 trời
ŋa:m6 tum1 đất
ɕɯ2 mo2
kuk7 ɬɯ1 hổ
bung5ba3 kap74 bướm
pi:ŋ2pei6 fi4 chuồn chuồn
fɯ:t8 pik7 cánh
kau1 ko:k7 sừng
ɣa:ŋ2 ŋo5mai4 măng
da:i3 pa:ŋ5 (cây) lanh
kjau3 hu1/bau3 đầu
paŋ2 pʰa:i3 vải
pu6 ɬɯ3 áo
teŋ2 fa2 chăn

Trong giao tiếp nói chung, Tráng Bắc cũng dùng nhiều từ vựng vay mượn tiếng Hán hơn Tráng Nam. Ví dụ, người ta thấy các từ vay mượn trong từ vựng Tráng Bắc khi đem so sánh với các từ thuần Tráng trong các cặp từ Tráng Bắc-Tráng Nam sau: wa:n3 với tui4 'bát'; jiŋ2 với be3 'dê'; va1 với bjo:k7 'hoa'; siŋ5 với kjo:k8 'họ'.

Lịch sử ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân bố ngữ hệ Tai-Kadai:
  Tai Bắc / Tráng Bắc + Bố Y
  Tai Trung Tâm / Tráng Nam
  Tai Tây Nam/ Các ngôn ngữ Thái

Người Thái (Thái Lan) và người Tráng, ngày nay sống rất xa nhau và hai nhóm này bản thân họ cũng có rất ít cảm giác về sự tương đồng.[15] Nhưng trong thời đại xa xưa họ chắc chắn đã sống cùng nhau.[15] Cả hai nhóm này chia sẻ những từ vựng rất tương đồng: khaau 'gạo', lao 'rượu', khwaai 'trâu', mu 'lợn', ma 'chó'; tất cả những cụm từ về sản xuất gia đình, vật nuôi, nông nghiệp này đều tương đồng.[15] Jerold A. Edmondson, trích dẫn bài báo của Phạm Hoằng Quý (Fan Honggui 范宏貴) (1989), chỉ ra rằng người Thái và người Tráng có cùng một tên gọi, Keo (KɛɛuA1), chỉ người Việt Nam.[16] Từ này được lấy từ tên của một quận, hay nơi đồn trú cho quân đội Trung Hoa gọi là Giao Chỉ (Jiaozhi 交址), thành lập ở Việt Nam khoảng năm 112 TCN, cùng tám quận khác: Nam Hải (Nanhai 南海), Uất Lâm (Yulin hay Guilin 郁林), Thương Ngô (Cangwu 苍梧), Hợp Phố (Hepu 合浦), Cửu Chân (Jiuzhen 九真), Nhật Nam (Rinan 日南), Châu Nhai (Zhuya 珠崖), và Đam Nhĩ (Dan’er 儋耳). Tên này trở thành tên gọi chỉ Việt Nam hay người Việt Nam không sớm hơn năm 112 TCN, và do đó nó làm căn cứ cho thời điểm sớm nhất mà người Thái di cư vào vùng Đông Nam Á.[16] Sau khi bành trướng và thiết lập nền cai trị ở phương nam, các triều đại Trung Hoa bắt đầu đặt họ cho các cư dân bản địa. Quá trình này diễn ra đặc biệt mạnh mẽ vào thời Nam Bắc triều (420-589).[16] Tuy nhiên điều này không xảy ra với người Thái vì họ không có phong tục đặt họ cho con cái cho đến triều đại của Rama VI khoảng 100 năm trước.[16] Do đó thời gian muộn nhất có thể mà người Thái rời khỏi lãnh thổ Trung Hoa là vào thời Nam Bắc Triều.[16]

Pittayawat Pittayaporn trong chuyến đi thu thập dữ liệu từ vựng của các nhóm Tai ở vùng biên giới Việt-Trung và Quảng Tây, bị ấn tượng mạnh bởi cảnh quan núi đá ở những vùng này, đã chỉ ra một vài ví dụ về sự biến đổi từ vựng dựa trên thay đổi cảnh quan địa lý diễn ra trong quá trình di cư của Tai Nguyên Thủy (proto-Tai) từ vùng Quảng Tây xuống vùng Đông Nam Á. Một trong số ví dụ đó như sau:

Tất cả các ngôn ngữ Tai đều có một từ cụ thể để chỉ núi đá. Chúng được gọi là pla trong các phương ngữ Tai Bắc ở Vũ Minh và Bình Quả (Pingguo 平果), pja ở Liễu Châu (Luizhou 柳州), pra ở Quý Cảng (Guigang 贵港), pha trong phương ngữ Tai trung tâm ở Thượng Tư (Shangsi 上思), và ngoài ra phja trong các phương ngữ ở Đức Bảo (Debao 德保), Tĩnh Tây (Jingxi 井陉), và Cao Bằng.[17] Ngược lại, trong tất cả các ngôn ngữ Tai Tây Nam, từ này chỉ những chủ thể mơ hồ.[17] Ví dụ trong tiếng Thái pha: ผา không bao giờ đứng một mình.[17] Nghĩa của nó trong từ điển của Viện Hoàng Gia, "núi, hay đá trên núi", là khá mơ hồ.[17] Hơn nữa, nó chỉ được tìm thấy là một phần của những từ ghép cổ, lỗi thời như naa phaa หน้าผา "vách đá", và hin pha: หินผา nghĩa là "đá núi".[17] Trong tiếng Thái hiện đại núi đá được gọi bằng một từ ghép mới phuukhaw hin ภูเขาหิน ("núi" + "đá").[17] Trong các ngôn ngữ Tai Tây Nam khác, từ này tương tự như trong tiếng Thái, có ý nghĩa rất mơ hồ, ví dụ Thái Đen na fa "vách đá", Thái Trắng pha "vách đá, tảng đá", và Shan pha "vách đá, đá" như trong từ mak pha "đá".[17]

Một từ cổ xưa, không còn dùng nữa gợi ý rằng chủ thể lúc ban đầu nó nhắc đến đã từng là trung tâm trong đời sống của các cư dân nói ngôn ngữ đó, nhưng không còn quan trọng vào một thời điểm sau trong quá trình phát triển của ngôn ngữ đó.[17] Do đó, sự lỗi thời của từ Tai dùng để chỉ núi đá trong Tai Tây Nam chỉ ra rằng vùng núi đá không thống trị cảnh quan địa lý nơi Tai Tây Nam phát triển.[17] Vùng núi đá chắc chắn đã tồn tại ở nơi Tai Nguyên Thủy (proto-Tai) khởi nguồn, ví dụ Quảng Tây.[17] Sau đó khi Tai Nguyên Thủy phát triển thành ba nhánh chính, Tai Tây Nam hẳn đã phải phát triển tại một vùng nơi mà núi đá không phải là một cảnh quan địa lý quan trọng.[17] Vì núi đá không còn là trung tâm trong đời sống của những người nói, ý nghĩa của từ trở nên bị quên lãng.[17] Vì từ này đã trở nên lỗi thời, những người nói các ngôn ngữ Tai Tây Nam không còn biết từ này lúc ban đầu có nghĩa gì nữa.[17] Mặc dù núi đá có tồn tại ở một số lãnh thổ nơi các ngôn ngữ Tai Tây Nam được nói, nhưng ngày nay chúng được gọi bằng những từ mới chế ra chứ không phải bằng từ Tai Nguyên Thủy ban đầu.[17]

So sánh từ vựng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là bảng so sánh một số từ vựng giữa: Tiếng Bố Y nói ở huyện Vọng Mô, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, cùng 5 phương ngữ Tráng và 4 ngôn ngữ Tai Tây Nam. Tráng Vũ Minh nói tại Song Kiều Trấn (双桥镇), huyện Vũ Minh (武鸣县), 30 km về phía bắc Nam Ninh. Tráng Lai Tân tại Tự Cước (寺脚), Lai Tân (来宾), Quảng Tây. Tráng Đại Tân tại thôn Hậu Ích (后益乡), Đại Tân (大新), Quảng Tây. Tráng Đức Bảo tại Nguyên Đệ Nhị Khu (原第二区), Đức Bảo, Quảng Tây. Tai Phake tại làng Namphakey, quận Dibrugarh, bang Assam, Ấn Độ. Tai Nguyên Thủy: Pittayawat Pittayaporn, 2009, luận văn tiến sĩ, khoa ngôn ngữ học, đại học Cornell.

  • Trong tiếng Thái bình dân, /r/ luôn phát âm thành /l/, ví dụ: rɔ:j4 'trăm' → lɔ:j4, raw1 'mình, ta' → law1. Không phát âm /r/ và /l/ khi chúng nằm giữa một phụ âm đầu và nguyên âm, ví dụ: klaj1 'xa' → kaj1, pla:1 'cá' → pa:1, kradu:k2 'xương' → kadu:k2.
  • Các từ được bôi xanh là từ mượn tiếng Hán, bôi nâu là từ mượn Indo-Aryan, bôi đỏ là từ cổ không còn sử dụng.


Tiếng Việt Tai Nguyên
Thủy[18]
Tai Bắc Tai Trung Tâm Tai Tây Nam
Bố Y Vọng Mô Tráng Vũ Minh Tráng Lai Tân Tráng Long Châu Tráng Đại Tân Tráng Đức Bảo Thái Lan Chuẩn[19][20] Lào Chuẩn[21] Shan[22] Tai Phake
Tay *mwɯ: A va35 fəŋ31 faɯ31 fɯŋ231 21 21 moŋ31 mɯ:1
มือ
/mɯ́ /
ມື
4
မိုဝ်း
mɯ:2
Chân *p.qa: A ka24 ha24 ka45 kha33 pa:ŋ33 kha55 kɔ:k55 kha31 kha:5
ขา
/khăː/
ຂາ
kha:1 ၶႃ [note 3],
ka:w3 ၵၢဝ်ႈ [note 4]
kha:6
Da *ʰnaŋ A nɐŋ24 naŋ24 naŋ45 naŋ33 naŋ55 naŋ54 naŋ5
หนัง
/năŋ/
ຫນັງ
naŋ1
ၼင်
naŋ6,
phiu6
Lưng *ʰlaŋ A pai44 laŋ24 pa:i33 laŋ24 pa:i21 laŋ45 paŋ32 laŋ33 laŋ55 laŋ54 laŋ5
หลัง
/lăŋ/
ຫລັງ
laŋ1
လင်
laŋ6
Bụng *dwu:ŋ C toŋ42 tuŋ42 tuŋ213 to:ŋ32 tho:ŋ13 to:ŋ2323 thɔ:ŋ4
ท้อง
/thɔ̑ːŋ/ ທ້ອງ,
/phōːn/ ໂພ່ນ
tɔŋ5
တွင်ႉ
tauŋ4
Xương *C̥.duk D ʔdɔ35 do:k35 do:k33 duk55 duk33 do:k33 du:k2,
kradu:k2 กระดูก
/dȕːk/,
/ká dȕːk/ ກະດູກ
lup2
လုပ်ႇ
nuk1
Ruột *saj C sɐi53 θai55 sai33 ɬai24 ɬai13 θai214 saj3
ไส้
/sȁi/
ໃສ້
sʰaj3
သႆႈ
sai3
Gan *tap D tap35 tap55 tap55 tap55 tap55 tɔ:p55 tap2
ตับ
/táp/
ຕັບ
tap4
တပ်း
tap1
Vai *C̥.ba: B paŋ42 ʔba35 hoŋ42 ba35 ba54 ba55 ba33 ba33 ba:2
บ่า
/bāː/
ບ່າ
ma:2
မႃႇ
ma:1
Máu *lɯət D liət44 lɯət33 lɯ:t21 lə:t11 lɯ:t33 lu:t33 lɯət3
เลือด
/lɯ̂a:t/
ເລືອດ
lət3
လိူတ်ႈ
nət4
Đầu *truə A,
*kraw C
tɕau52 ɣau55 kɣau33 hu24,
bau24
wuə55 thu31 huə5
หัว
/hǔa/
ຫົວ
ho1
ႁူဝ်
ho6
Cổ *ɣo: A ʔɛu24 xo31 ho31 ho231 ko21 ho21 wo31 khɔ:1
คอ
/khɔ́ː/
ຄໍ
khɔ4
ၶေႃး
khɔ2
Mắt *p.ta: A lək42 ta24 ɣa24 lɯk21 ta45 ma:k55 ha33 ma:k55 ha55 ma:k55 tha31 ta:1
ตา
/tàː/
ຕາ
ta:1
တႃ
ta:2
Mồm *pa:k D ɕoŋ33 pa35 pa:k35 pa:k33 pa:k55 pa:k33 pa:k55 pa:k2
ปาก
/pȁːk/
ປາກ
sʰop4
သူပ်း
pa:k1
Lưỡi *li:n C lin42 lin42 lin213 lin32 lin13 lən2323 lin4
ลิ้น
/lȋːn/
ລີ້ນ
lin5
လိၼ်ႉ
lin4
Sợ *ʰla:w A la:u24 la:u24 la:u45 la:u33 la:u55 la:u54 kluə1
กลัว
/kùa/
ກົວ
ko1
ၵူဝ်
ko2
Cười *krɯəw A ðɛu24 ɣiəu24 ɣi:u45 hu33 wuə55 khu31 huə5 หัว,
huə5rɔʔ4
/hǔa/
ຫົວ
kho1
ၶူဝ်
kho6
Khóc *t.haj C tɐi53 tai55 tai33 hai24 hai13 hai214 ha:j3
ไห้
/hȁi/
ໄຫ້
haj3
ႁႆႈ
hai3
Thấy *tran A ɕim24 ɣan24 ɣan45 han33 han55 than31 hen5
เห็น
/hěn/
ເຫັນ
han1
ႁၼ်
han6
Ăn *kɯɲ A kən24 24 kɯn45 kin33 kin55 kən54 kin1
กิน
/kìn/
ກິນ
kin1
ၵိၼ်
kin2
Ngủ *nwɯ:n A nin31 nin31 nɯn231 no:n21 no:n21 no:n31 nɔ:n1
นอน
/nɔ́ːn/
ນອນ
nɔn4
ၼွၼ်း
nɔn2
Ngồi *naŋ B nɐŋ44 naŋ33 naŋ21 naŋ11 naŋ33 naŋ33 naŋ3
นั่ง
/nāŋ/
ນັ່ງ
naŋ3
ၼင်ႈ
naŋ5
Đi *pra:j C pɐi24 pai24 phja:j24 sa:i13 phja:i214 pai1
ไป
/pai/
ໄປ
paj1
ပႆ
pai2
Về *ʰma: A ma24 ma24 ma21 ma21 ma31 ma:1
มา
/máː/
ມາ
ma:4
မႃး
ma:2
Trộm *C̬.lak D ðɐk33 ɕak33 tsak21,
lou45
lak42 lak21 lak31 lak4
ลัก
/lāk/
ລັກ
lak5
လၵ်ႉ
lak4
Giết *qa: C ka53 ka55 ka33 kha:24 kha13 kha214 kha:3
ฆ่า
/khȁː/
ຂ້າ
kha:3
ၶႃႈ
kha:3
Chết *p.ta:j A ta:i24 ɣa:i24 ta:i45 ha:i33 ha:i55 tha:i31 ta:j1
ตาย
/tàːy/
ຕາຍ
ta:j1
တၢႆ
ta:i2
Chó *ʰma: A ma24 ma24 ma45 ma33 ma55 ma54 ma:5
หมา
/măː/
ໝາ
ma:1
မႃ
ma:6
Chim *C̬.nok D ðɔk33 ɣok33 ɣok21 nuk42 no:k21 nɔ:k31 nok4
นก
/nōk/
ນົກ
nok5
ၼူၵ်ႉ
nok4
Chuột *ʰnu: A tu0 va:u52 nau24 nou45 nu33 nu55 nai45 nu:5
หนู
/nŭː/
ໜູ
nu1
ၼူ
nu:6
Rắn *ŋwɯ: A ŋɯə31 ŋɯ31 ŋɯ231 ŋu21 ŋu21 ŋou31 ŋu:2
งู
/ŋúː/
ງູ
ŋu4
ငူး
ŋu:2
*pla: A pja24 pla24 pɣa45 pja:33 pja55 pja54 pla:1
ปลา
/paː/
ປາ
pa:1
ပႃ
pa:2
Đá *tri:l A ʔdɐk35 ðin24 ɣin24 ɣin45 hin33 hin55 thən31 hin5
หิน
/hĭn/
ຫິນ
hin1
ႁိၼ်
hin6
Lửa *wɤj A fi31 fai31 fei231 faj21 fai21 fai31 faj1
ไฟ
/fáy/
ໄຟ
phaj4
ၽႆး
phai2
Nước *C̬.nam C ðam42 ɣam42 ɣam213 nam32 nam13 nɔ:m2323 nam4
น้ำ
/nȃm/
ນ້ຳ
nam5
ၼမ်ႉ
nam4
Gió *C̬.lɯm A ðum31 ɣum31 ɣum231 lum21 lum21 lɔ:m31 lom1
ลม
/lóm/
ລົມ
lom4
လူမ်း
lom2
Trời *va: C ʔbən24 bɯn24 bun45 fa32 fa13 fa2323 fa4
ฟ้า
/fȃː/
ຟ້າ
pha:5
ၽႃႉ
a:1 ka:1
Đất *ɗin na:m33 tom24 na:m21 tum33 tum55 na:m33 din1
ดิน
/din/
ດິນ
lin1
လိၼ်
nin2
Đen *C̥.dam A fon42 dam24 ʔnam45 dam33 dam55 dam31 dam1
ดำ
/dam/
ດຳ
lam1
လမ်
nam2
Trắng *xa:w A xa:u24 ha:u24 ha:u45 kha:u33 kha:u31 kha:w1
ขาว
/khǎːu/
ຂາວ
kha:w1
ၶၢဝ်
kha:u6
Đỏ *C̥.dwi:ŋ A ʔdiŋ24 diŋ24 diŋ45,
hoŋ231
de:ŋ33 de:ŋ55 de:ŋ31 dɛ:ŋ1
แดง
/dɛːŋ/
ແດງ
lɛŋ1
လႅင်
naiŋ2
Vàng *ʰlɯəŋ A xɛn53 he:n55
je:n33 lə:ŋ33 tsɯŋ55 he:n214 lɯəŋ1
เหลือง
/lɯ̌aːŋ/
ເຫລືອງ
ləŋ1
လိူင်
ləŋ6
Xanh *xiəw A lok33 he:u24 je:u45 khe:u33 khe:u55 khi:u31 khiəw1
เขียว
/khĭaːw/
ຂຽວ
khew1
ၶဵဝ်
kheu6,
kiŋ2
Xa *k.laj A tɕɐi24 kjai24 kɣai45 kwaj33 kwai55 kwai54 klaj1
ไกล
/kai/
ໄກ
kaj1
ၵႆ
kai2
Mỏng *C̥.ba:ŋ A ʔbɛŋ24 ba:ŋ24 ba:ŋ45 ba:ŋ33 ba:ŋ55 ba:ŋ31 ba:ŋ1
บาง
/baːŋ/
ບາງ
ma:ŋ1
မၢင်
ma:ŋ2
Dày *ʰna: A na24 na24 na45 na33 na55 na54 na:5
หนา
/năː/
ຫນາ
na:1
ၼႃ
na:6
Người *ɢwɯn A xʊən31 wun31 wun231 kən21 khɯn21 kɔ:n31 khon1
คน
/khón/
ຄົນ
kon4
ၵူၼ်း
kon2
Con *lɯ:k D lɯk33 lɯk21 luk11 luk33 lok33 lu:k3
ลูก
/lȗːk/
ລູກ
luk3
လုၵ်ႈ
luk4
Mẹ *me: B 44 ta42 me33 mi33,
mi21
tɕa55 me33 me33 mɛ:3
แม่
/mɛ̄ː/
ແມ່
3
မႄႈ
5
Bố *bo: B po44 ta42 po33 po21 pa55 pa55 pa33 phɔ:3
พ่อ
/phɔ̄ː/
ພໍ່
3
ပေႃႈ
5
Tao *ku: A,
*kaw A
ku24 kau24 kou45 kau33 kau55 ku:1
กู
/kùː/
ກູ
kaw1
ၵဝ်
kau2
Mày *mɯŋ A,
*maɰ A
məŋ31 mɯŋ31 mɯŋ231 maɰ21 mɯŋ1
มึง
/mɯ́ŋ/
ມຶງ
maɯ4
မႂ်း
maɯ2
Mình, ta *raw A xo44 ðɐu31,
po31 ðɐu31
fan33 ɣau31 ɣau231 lau21 ɬau21 rau31 raw1
เรา
/háw/
ເຮົາ
haw4
ႁဝ်း
hau2
Không
(phủ định)
*mi: A,
*ɓaw B,
*bo: B
mi31 bau55,
55
di45,
bou54
mi55 mi21 mei31,
33
maj3 ไม่,
mi4 มิ,
bɔ:2 บ่
/bɔ̄ː/
ບໍ່
maw2
မဝ်ႇ
ɯŋ2
Một *nɯ:ŋ B ʔdɛu24,
ʔit35
de:u24,
ʔit55
de:u45,
ʔit55
nəŋ33,
nəŋ11,
ʔit55
nɯŋ33,
ʔe:t55
de:u31,
ʔat55
nɯŋ2 หนึ่ง,
diaw1 เดียว,
ʔet2 เอ็ด
/nɯ̄ŋ/ ນຶ່ງ,
/diaːw/ ດຽວ,
/ét/ ເອັດ
nɯŋ3 ၼိုင်ႈ,
lew1 လဵဝ်,
ʔet4 ဢဵတ်း
nɯŋ5
Hai *so:ŋ A soŋ24,
ŋi44
θo:ŋ24,
ŋai33
so:ŋ45,
ŋei21
ɬo:ŋ33,
ji11
ɬo:ŋ55,
ji33
θo:ŋ54,
ɲei33
sɔ:ŋ5 สอง,
ji:3 ยี่
/sɔ̌ːŋ/
ສອງ
sʰɔŋ1
သွင်
sauŋ6
Ba *sa:m sa:m24 θa:m24 sa:m45 ɬa:m33 ɬa:m55 θa:m54 sa:m5
สาม
/săːm/
ສາມ
sʰa:m1
သၢမ်
sa:m6
Bốn *si: B si35 θai35 sei54 ɬi55 ɬi42 θei45 si:2
สี่
/sīː/
ສີ່
sʰi2
သီႇ
Năm *ha: C xa53 ha55 ha33 ha24 ha13 ha214 ha:3
ห้า
/hȁː/
ຫ້າ
ha:3
ႁႃႈ
ha:3
Sáu *krok D ðok35 ɣok55 ɣok55 huk55 ho:k55 khjo:k55 hok2
หก
/hōk/
ຫົກ
hok4
ႁူၵ်း
hok1
Bảy *cet D ɕɛt35 ɕat55 tsat55 cit55 tse:t55 tsat55 cet2
เจ็ด
/cét/
ເຈັດ
tset4
ၸဵတ်း
ce:t1
Tám *pe:t D pɛt35 pe:t35 pe:t33 pe:t55 pe:t33 pe:t55 pɛ:t2
แปด
/pɛ̏ːt/
ແປດ
pɛt2
ပႅတ်ႇ
pɛt1
Chín *kɤw C ku53 kau55 kiu33 kau24 kau13 kau214 ka:w3
เก้า
/kâu/
ເກົ້າ
kaw3
ၵဝ်ႈ
kau3
Mười ɕip33 ɕip33 sip21 ɬip55 ɬip55 θəp55 sip2
เก้า
/síp/
ສິບ
sʰip4
သိပ်း
sip1
Hai mươi ŋi33 ɕip33 ŋai33 ɕip33 ŋei21 sip21 ji11 ɬip55 ji33 ɬip55 ɲei33 θəp55 ji:3 sip2
ยี่สิบ
/sáːo/
ຊາວ
sʰa:w4
သၢဝ်း
sa:u2
Một trăm *ro:j C pa35 ʔdɛu24 pa:k35 pe:k33 pa:k55 pa:k33 pa:k55 rɔ:j4
ร้อย
/hɔ̑ːy/
ຮ້ອຍ
pa:k2
ပၢၵ်ႇ
pa:k1
Một nghìn ɕiɛŋ24 ʔdɛu24 ɕiən24 tsi:n45 ɕi:n33 si:n55 ɕy:n31 phan1
พัน
/phán/
ພັນ
heŋ1
ႁဵင်
heŋ6
Tiếng Việt Tai Nguyên
Thủy
Bố Y Vọng Mô Tráng Vũ Minh Tráng Lai Tân Tráng Long Châu Tráng Đại Tân Tráng Đức Bảo Thái Lan Chuẩn Lào Chuẩn Shan Tai Phake
Tai Bắc Tai Trung Tâm Tai Tây Nam

Tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

một biểu tượng văn hóa tín ngưỡng của người Tráng. Đó là biểu tượng của chúa Buluotuo, đấng tạo hóa vĩ đại của dân tộc Tráng. [note 5]

Hầu hết người Tráng theo một tín ngưỡng vật linh truyền thống gọi là Sư Công Giáo (Zhuàngzú shīgōng jiào 壮族师公教) hay Mo Giáo (Mó jiào 摩教), bao gồm nghi thức thơ cúng tổ tiên.[23] Mo Giáo có các bài tế riêng và các thầy tế được gọi là bu mo (Pù Mo). Trong các nghi thức Mo truyền thống, thầy Mo dùng xương gà để xem quẻ. Trong Mo Giáo, đấng tạo hóa là Bu Luotuo và vũ trụ gồm ba yếu tố với tất cả mọi vật được hình thành từ ba yếu tố này, gồm: trời, đất và nước.

Người Tráng cũng có một số theo Phật Giáo, Đạo Giáo và Thiên Chúa Giáo.[24]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Hệ ngôn ngữ Austro-Tai và cuộc định cư của người Thái Lan

Trong khi các nhà khoa học Trung Quốc tiếp tục đặt "ngôn ngữ Tráng-Đồng" vào hệ ngữ Hán-Tạng, thì các nhà ngôn ngữ học ngày nay đặt nhóm ngôn ngữ này vào hệ ngôn ngữ Tai–Kadai, với giả thuyết phổ biến nhất là có nguồn gốc Nam đảo, có thể khởi nguồn từ Đài Loan và dư cư về phía tây nam qua Trung Hoa ngày nay.[25]

thời kỳ đế chế Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Các ghi nhận lịch sử sớm nhất về người Tráng được khám phá cho đến nay là Bích họa Hoa Sơn (花山壁画), có từ thời chiến quốc (475–221 TCN).

Có rất ít các ghi chép tiếng Hán trước khi người Hán xâm nhập vào khu vực người Tráng, sự ám chỉ đơn giản đến vùng đất phía nam sông Trường Giang là "Bách Việt" (百越). Những cuộc xâm lấn phương nam của Tần Thủy Hoàng được trình bày trong sử ký của Tư Mã Thiên. Cuộc tấn công lúc đầu vào vùng Lĩnh Nam đã tỏ ra thảm bại, với sự thất bại của tướng Đồ Thư trong trận đánh năm 218 TCN, nhưng công binh của ông, Sử Lộc đã hoàn thành việc xây dựng kênh Linh nối liền hai con sông Tương GiangLy Giang. Năm 214, Triệu ĐàNhâm Ngao quay trở lại và bình định tộc người Tây Âu, khai phá Quảng Tây và phía nam với sự nhập cư của hàng trăm nghìn người Hán.

Một thập kỷ sau sự sụp đổ của Nhà Tần, Triệu Đà sử dụng vị trí của mình với tư cách là quận úy Quận Nam Hải, lập nước Nam Việt và đặt thủ đô ở Phiên Ngung. Với giải pháp quy thuận và độc lập khỏi sự kiểm soát của Nhà Hán, vương quốc này đã mở rộng sự thực dân và Hán hóa bằng chính sách "hòa hợp bách việt" (和集百越) cho đến năm 211 TCN nhưng không được sự ủng hộ của người Tráng.

người Tráng ở Long Châu, Quảng Tây

Nhà Hán đã giảm bớt quyền lực địa phương và lập các căn cứ quân sự ở Quế Lâm, Ngô Châu, và Ngọc Lâm. Cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị tướng Mã Viện đàn áp năm 42, Mã Viện được ghi nhận với tư cách giúp bình định những vùng này bằng việc cải thiện hệ thống tưới tiêu và nhiều điều luật Hán.[26] Cuộc di cư của Người Dao từ vùng gần Trường Sa, Hồ Nam tới Quảng Tây ngày nay đã làm đảo lộn khu vực này.

Dưới thời Đường, người Tráng chuyển sang ủng hộ vương quốc Thái là Nam Chiếu ở Vân Nam, nước này đã đẩy lui hai cuộc tấn công của quân Đường năm 751 và 754. Quảng Tây khi ấy được chia thành hai vùng: một là vùng thuộc thế lực của người Tráng phía tây Nam Ninh và một là vùng thế lực của người Hán phía đông Nam Ninh.

Sau khi Nam Chiếu sụp đổ, Lưu Nghiễm thành lập nước Nam Hán. Nước này hầu như không thể kiểm soát được người Tráng, sau đó Nam Hán bị Tống đánh chiếm và sát nhập năm 971.

Bị quấy rối bởi cả Tống lẫn Đại Cồ Việt, lãnh đạo Tráng tộc là Nùng Trí Cao (侬智高) đã chỉ huy cuộc nổi dậy năm 1052 vì điều mà ông vẫn được người Tráng tưởng nhớ.[27] Tuy nhiên, vương quốc độc lập của Nùng Trí Cao chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và tướng Tống là Địch Thanh đã thu hồi lại vùng Quảng Tây.

Nhà Nguyên-Mông thiết lập quyền kiểm soát với Nam Tống sau trận Nhai Môn năm 1279 và thôn tính nước Đại Lý ở Vân Nam. Thay vì việc cai trị vùng Lĩnh Nam như một lãnh thổ lệ thuộc, người Mông Cổ chấp nhận Quảng Tây như là một tỉnh chính thức, nhưng việc đưa người Miêu từ Quý ChâuHồ Nam vào đã làm vùng này bất ổn.

Khu vực này tiếp tục trở nên khó kiểm soát, nhà Minh đã sử dụng các nhóm dân tộc khác nhau để chống lại nhau. Một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử Tráng là tại Hẻm Mây Lớn chống lại người Dao 1465, nơi 20.000 người chết đã được ghi nhận.

Nhà Mãn-Thanh đã bỏ mặc khu vực này cho đến khi áp đặt quyền cai trị trực tiếp năm 1726. Thế kỷ thứ 19, khu vực này là một vùng bất ổn liên tục. Cuộc nổi dậy của người Dao năm 1831 được nối tiếp bằng Thái Bình Thiên Quốc năm 1850. Vụ các viên chức địa phương hành hình giáo sĩ Auguste Chapdelaine ở Quảng Tây đã gây ra chiến tranh nha phiến lần 2 năm 1858 và sau đó là sự can thiệp của Pháp vào Quảng Tây.

Thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bình An, một ngôi làng của người Tráng trên Ruộng Bậc Thang Long Thắng

Sau Khởi nghĩa Vũ Xương, Quảng tây ly khai khỏi đế chế Mãn-Thanh ngày 6 tháng 11 năm 1911. Tuần phủ Thanh là Thẩm Bỉnh Khôn, lúc đầu vẫn tại vị, nhưng sau đó bị loại bỏ bởi một cuộc binh biến do tướng Lục Vinh Đình chỉ huy. Cựu Quế Hệ (舊桂系) của tướng Lục đã vươn ra Hồ NamQuảng Đông và giúp chống lại nỗ lực tái lập lại chính phủ đế quốc của Viên Thế Khải trong cuộc Hộ quốc chiến tranh (护国战争). Lòng trung thành của người Tráng đã làm Quân chính phủ tự trị của ông vững mạnh nhưng miễn cưỡng di chuyển ra xa các tỉnh của mình. Sau đó, mối hiềm khích với Tôn Dật Tiên dẫn đến thất trận năm 1920 và 1921 trong Chiến tranh Việt Quế (粵桂战争). Sau thời gian chiếm đóng ngắn bởi lực lượng Quảng Đông của Trần Quýnh Minh, Quảng Tây rơi vào chia rẽ và cướp bóc nghiêm trọng trong vài năm[28] cho đến khi Quân bình định Quảng Tây của Lý Tông Nhân lập ra Tân Quế Hệ (新桂系) do Lý, Hoàng Thiệu HoànhBạch Sùng Hy đứng đầu.

Trận đánh thắng lợi ở Hồ Nam chống lại Ngô Bội Phu dẫn đến quân bình bịnh Quảng Tây của người Tráng được gọi là "quân thần tốc" và "quân thép". Sau cái chết của Tôn Dật Tiên, Lý còn đánh lui cuộc biến loạn của Đường Kế Nghiêu trong chiến tranh Vân Nam-Quảng Tây và tham gia chiến tranh Bắc Phạt thiết lập sự kiểm soát của phe Quốc Dân Đảng với các tướng quân phiệt khác. Quân của ông là một trong số ít đơn vị Quốc Dân Đảng không bị ảnh hưởng của cộng sản và vì vậy được Tưởng Giới Thạch sử dụng trong Cuộc thảm sát Thượng hải năm 1927.

Sau mối bất hòa với Tưởng, Lý đã tham gia vào cuộc nổi loạn của Diêm Tích Sơn trong cuộc Trung Nguyên Đại Chiến tháng 5 năm 1930. Sự bại trận của ông đã không loại bỏ ông khỏi sự kiểm soát Quảng Tây, với Sự cố Mãn Châu và cuộc xâm lược của Nhật Bản đã ngăn cản Tưởng và phe Cộng Sản loại bỏ ảnh hưởng của ông cho đến năm 1949. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Quảng Tây là một mục tiêu chính cho các cuộc tấn công của Nhật Bản. Chiến dịch Ichi-Go năm 1944 thành công đã mở rộng sự kiểm soát của Nhật Bản dọc tuyến đường sắt qua Quảng Tây vào Đông Dương thuộc Pháp, nhưng tuyến đường này vẫn bị tấn công liên tục bởi các máy bay ném bom Mỹ và nhóm bán quân sự người Tráng dưới quyền Bạch Sùng Hy.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ rauz đọc là ràu/làu nghĩa là "mình".
  2. ^ Jerold A. Edmondson trích dẫn Zhongguo Da Baike Quanshu (1986:585) nói rằng một trong các tên tự xưng của người Tráng là Buyue.[3] Nhưng Eric C.Johnson lưu ý rằng: Mặc dù bính âm chuẩn cho từ này là "buyue" (布越), khi Đái Quang Lộc (DaiGuanglu 戴光禄) và Hà Chính Đình (HeZhengting 何正廷) (2006) dùng Hán tự 布越 để viết tên nhóm Tráng Yei, họ thêm phiên âm quốc tế là [pu22 jai13]. Trong tiếng Hán không có từ nào phát âm là "yei" hay "yai", vì thế hai nhà nghiên cứu này khi viết bằng Hán tự bị buộc phải lựa chọn từ "yue" nghe tương tự[8]
  3. ^ ၶႃ /kha:1/ :đùi.[22]
  4. ^ ၵၢဝ်ႈ /ka:w3/ :bắp chân.[22]
  5. ^ về mặt thiên văn học, căn nguyên của vũ trụ được thể hiện bằng Mặt Trời hay Cực Tinh—nằm ở trung tâm của biểu tượng—với chòm sao Bắc đẩu quay xung quanh nó—trong biểu tượng được thể hiện bằng chim, chấm, sóng. Biểu tượng này thấy trên trống đồng, tượng đài và miếu thờ của người Tráng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ SIL international; Eric C.Johnson và Mingfu Wang (2010). A Sociolinguistic introduction to the Central Taic languages of Wenshan prefecture, China. tr. 21, chú thích số 22. 
  2. ^ a ă â Royal Geographical Society (with the Institute of British Geographers); Fahui Wang, Guanxiong Wang, John Hartmann and Wei Luo (29 tháng 6 năm 2011). Sinification of Zhuang place names in Guangxi, China: a GIS-based spatial analysis approach. tr. 4. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê University of Texas, Arlington; Edmondson, Jerold A. Change and Variation in Zhuang. tr. 149. 
  4. ^ University of Texas, Arlington; Edmondson, Jerold A. Change and Variation in Zhuang. tr. 150. 
  5. ^ SIL international; Eric C.Johnson và Mingfu Wang (2010). A Sociolinguistic introduction to the Central Taic languages of Wenshan prefecture, China. tr. 17 (cuối trang). 
  6. ^ The Chinese Language: Fact and Fantasy. University of Hawaii Press. 1984. tr. 117. 
  7. ^ SIL international; Eric C.Johnson và Mingfu Wang (2010). A Sociolinguistic introduction to the Central Taic languages of Wenshan prefecture, China. tr. 18. 
  8. ^ SIL international; Eric C.Johnson và Mingfu Wang (2010). A Sociolinguistic introduction to the Central Taic languages of Wenshan prefecture, China. tr. 20, chú thích 19. 
  9. ^ a ă Li, Xulian; Huang, Quanxi (2004). “The Introduction and Development of the Zhuang Writing System”. Trong Zhou, Minglang; Sun, Hongkai. Language Policy in the People's Republic of China: Theory and Practice Since 1949. Springer. tr. 240. 
  10. ^ Sealang.net; Pingwen Huang, Northern Illinois University. SINIFICATION OF THE ZHUANG PEOPLE, CULTURE AND THEIR LANGUAGE. tr. 94. 
  11. ^ 《广西壮族人文字使用现状及文字社会声望调查研究》 "Research into survery of the scripts used by Zhuang in Guangxi" 唐未平 Tang Weiping http://www.doc88.com/p-644582398739.html
  12. ^ David Holm, Recalling Lost Souls: The Baeu Rodo Scriptures, Tai Cosmogonic Texts from Guangxi in Southern China, White Lotus Press, Bangkok, 2004. ISBN 978-974-480-051-0.
  13. ^ Luo Yongxian. 2008. "Zhuang." In Diller, Anthony, Jerold A. Edmondson, and Yongxian Luo eds. 2008. The Tai-Kadai Languages. Routledge Language Family Series. Psychology Press.pp.317–377, p.317. ISBN 978-0-7007-1457-5.
  14. ^ Sealang.net; Pingwen Huang, Northern Illinois University. SINIFICATION OF THE ZHUANG PEOPLE, CULTURE AND THEIR LANGUAGE. tr. 95. 
  15. ^ a ă â University of Texas, Arlington, Department of Linguistic and TESOL; Jerold A. Edmondson. the power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam. tr. 14. 
  16. ^ a ă â b c University of Texas, Arlington, Department of Linguistic and TESOL; Jerold A. Edmondson. the power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam. tr. 15. 
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l SEAP Bulletin 2009-2010; Pittayawat Pittayaporn (Fall 2009 - Spring 2010). Karsts, Rivers and Crocodiles: the spread of Tai languages into Southeast Asia. tr. 15. 
  18. ^ language.psy.auckland.ac.nz, Basic Vocabulary Database; Pittayawat Pittayaporn (2009). Proto-Tai. 
  19. ^ SEAlang Library. Thai Dictionary. 
  20. ^ [1] A comparative word list of three Tai Nua dialects, Jimmy G. Harris
  21. ^ SEAlang Library. Lao Dictionary. 
  22. ^ a ă â SEAlang Library. Shan Dictionary. 
  23. ^ Cen Xianan (2003). On research to Zhuang's Mo Religion Belief. "Economic and Social Development",no.12. p.23-26.(tiếng Trung)
  24. ^ Huang Guiqiu(2008). Zhuang beliefs and cultural characteristics of the Mo ceremony. Wenshan: "Wenshan College",no.4. p.35-38.in Guangxi.(tiếng Trung)
  25. ^ Sagart, L. 2004. "The higher phylogeny of Austronesian and the position of Tai–Kadai." Oceanic Linguistics 43.411-440.
  26. ^ Hậu Hán thư. Chương 24.
  27. ^ Huỳnh Hiện Phan(黄现璠),et:General History of the Zhuang. Nam Ninh: nhà máy in dân tộc Quảng Tây, 1988. ISBN 7-5363-0422-6/K•13
  28. ^ Bonavia, David. China's Warlords. New York: Oxford University Press. 1995. ISBN 0-19-586179-5.