Người Tráng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Tráng
Nong Zhigao's Art Photo.jpg Lu Rongting.jpg
Huang Xianfan Graduation Photo.jpg
Nhân vật lịch sử người Choang
*Nùng Trí Cao
*Lục Vinh Đình
*Huỳnh Hiện Phan
Tổng số dân
18 triệu
Khu vực có số dân đáng kể
 Trung Quốc
Ngôn ngữ
Tiếng Tráng, Tiếng phổ thông Trung Quốc
Dân tộc thiểu số có liên quan
Bố Y, TàyNùng (Việt Nam)

Người Tráng (Tiếng Tráng: Bouxcuengh, /pou˦˨ ɕueŋ˧/; Chữ Tráng (Sawndip, Chữ Tráng vay mượn chữ hán): 佈壯; bính âm: Bùzhuàng, tiếng Hán giản thể: 壮族, tiếng Hán phồn thể: 壯族, bính âm: Zhuàngzú; Tiếng Thái: ผู้จ้วง, P̄hū̂ĉwng) là một nhóm dân tộc sống hầu hết ở khu tự trị Quảng Tây phía nam Trung Quốc. Ngoài ra một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý ChâuHồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số chính thức được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công nhận. Cùng với người Bố Y, TàyNùng, và người nói ngữ hệ Thái phương bắc khác, người Tráng thỉnh thoảng được gọi là người Liêu hoặc Rau (Tiếng Tráng: Bouxraeuz). Dân số người Tráng ước lượng khoảng 18 triệu người, xếp thứ hai sau người Hán, khiến họ trở thành dân tộc thiểu số lớn nhất Trung Quốc. Sách báo Việt Nam hiện nay thường gọi là người Choang.

Tộc Tráng có nhiều tên gọi như Bố Tráng, Bố Thổ, Bố Việt v.v... Sử cũ gọi là "Tây Âu", "Lạc Việt", "Điểu Hử" v.v...

Người Tráng ở Trung Quốc cũng chính là người Nùngngười TàyViệt Nam.

Người Tráng cũng có sử thi truyền miệng riêng là Baeu Rodo.[1]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay có khoảng 18 triệu người chủ yếu phân bố ở Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu của Trung Quốc.

Tên Hán tự[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu kỳ dân tộc Tráng.

Hán tự dùng để chỉ người Tráng đã thay đổi vài lần. Theo cách người Tráng tự xưng, "Cuengh" trong trong tiếng Tráng chuẩn, khởi nguyên được viết bằng một chữ ít thấy Zhuàng 獞 (hoặc tóng, nghĩa là "loài chó hoang").[2] Những chữ Hán điển hình kết hợp giữa một phần chỉ nghĩa (hay bộ thủ) với một phần chỉ âm. John DeFrancis cho là Zhuàng 獞, gồm "bộ khuyển" 犭 và phần âm tóng 童, là một kiểu bôi xấu sắc tộc và miêu tả cách cộng hòa nhân dân Trung Hoa thay thế nó.[3] Năm 1949, sau nội chiến Quốc-Cộng, Chữ 獞 đã chính thức được thay thế bằng Zhuàng 僮 (hay tóng nghĩa là "đứa trẻ, cậu bé giúp việc), gồm "bộ nhân" 亻và phần âm cũ. Sau đó, trong thời kỳ chuẩn hóa Trung văn giản thể, Zhuàng 僮 đã được thay đổi thành một ký tự khác hoàn toàn Zhuàng 壮 (nghĩa là "mạnh mẽ; cường tráng").

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Hệ ngôn ngữ Austro-Tai và cuộc định cư của người Thái Lan
Bản đồ phân bố ngữ hệ Tai-Kadai

Trong khi các nhà khoa học Trung Quốc tiếp tục đặt "ngôn ngữ Tráng-Đồng" vào hệ ngữ Hán-Tạng, thì các nhà ngôn ngữ học ngày nay đặt nhóm ngôn ngữ này vào hệ ngôn ngữ Tai–Kadai, với giả thuyết phổ biến nhất là có nguồn gốc Nam đảo, có thể khởi nguồn từ Đài Loan và dư cư về phía tây nam qua Trung Hoa ngày nay.[4]

thời kỳ đế chế Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Các ghi nhận lịch sử sớm nhất về người Tráng được khám phá cho đến nay là Bích họa Hoa Sơn (花山壁画), có từ thời chiến quốc (475–221 TCN).

Có rất ít các ghi chép tiếng Hán trước khi người Hán xâm nhập vào khu vực người Tráng, sự ám chỉ đơn giản đến vùng đất phía nam sông Trường Giang là "Bách Việt" (百越). Những cuộc xâm lấn phương nam của Tần Thủy Hoàng được trình bày trong sử ký của Tư Mã Thiên. Cuộc tấn công lúc đầu vào vùng Lĩnh Nam đã tỏ ra thảm bại, với sự thất bại của tướng Đồ Thư trong trận đánh năm 218 TCN, nhưng công binh của ông, Sử Lộc đã hoàn thành việc xây dựng kênh Linh nối liền hai con sông Tương GiangLy Giang. Năm 214, Triệu ĐàNhâm Ngao quay trở lại và bình định tộc người Tây Âu, khai phá Quảng Tây và phía nam với sự nhập cư của hàng trăm nghìn người Hán.

Một thập kỷ sau sự sụp đổ của Nhà Tần, Triệu Đà sử dụng vị trí của mình với tư cách là quận úy Quận Nam Hải, lập nước Nam Việt và đặt thủ đô ở Phiên Ngung. Với giải pháp quy thuận và độc lập khỏi sự kiểm soát của Nhà Hán, vương quốc này đã mở rộng sự thực dân và Hán hóa bằng chính sách "hòa hợp bách việt" (和集百越) cho đến năm 211 TCN nhưng không được sự ủng hộ của người Tráng.

người Tráng ở Long Châu, Quảng Tây

Nhà Hán đã giảm bớt quyền lực địa phương và lập các căn cứ quân sự ở Quế Lâm, Ngô Châu, và Ngọc Lâm. Cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị tướng Mã Viện đàn áp năm 42 SCN, Mã Viện được ghi nhận với tư cách giúp bình định những vùng này bằng việc cải thiện hệ thống tưới tiêu và nhiều điều luật Hán.[5] Cuộc di cư của Người Dao từ vùng gần Trường Sa, Hồ Nam tới Quảng Tây ngày nay đã làm đảo lộn khu vực này.

Dưới thời Đường, người Tráng chuyển sang ủng hộ vương quốc Thái là Nam Chiếu ở Vân Nam, nước này đã đẩy lui hai cuộc tấn công của quân Đường năm 751 và 754. Quảng Tây khi ấy được chia thành hai vùng: một là vùng thuộc thế lực của người Tráng phía tây Nam Ninh và một là vùng thế lực của người Hán phía đông Nam Ninh.

Sau khi Nam Chiếu sụp đổ, Lưu Nghiễm thành lập nước Nam Hán. Nước này hầu như không thể kiểm soát được người Tráng, sau đó Nam Hán bị Tống đánh chiếm và sát nhập năm 971.

Bị quấy rối bởi cả Tống lẫn Đại Cồ Việt, lãnh đạo Tráng tộc là Nùng Trí Cao (侬智高) đã chỉ huy cuộc nổi dậy năm 1052 vì điều mà ông vẫn được người Tráng tưởng nhớ.[6] Tuy nhiên, vương quốc độc lập của Nùng Trí Cao chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và tướng Tống là Địch Thanh đã thu hồi lại vùng Quảng Tây.

Nhà Nguyên-Mông thiết lập quyền kiểm soát với Nam Tống sau trận Nhai Môn năm 1279 và thôn tính nước Đại Lý ở Vân Nam. Thay vì việc cai trị vùng Lĩnh Nam như một lãnh thổ lệ thuộc, người Mông Cổ chấp nhận Quảng Tây như là một tỉnh chính thức, nhưng việc đưa người Miêu từ Quý ChâuHồ Nam vào đã làm vùng này bất ổn.

Khu vực này tiếp tục trở nên khó kiểm soát, nhà Minh đã sử dụng các nhóm dân tộc khác nhau để chống lại nhau. Một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử Tráng là tại Hẻm Mây Lớn chống lại người Dao 1465, nơi 20.000 người chết đã được ghi nhận.

Nhà Mãn-Thanh đã bỏ mặc khu vực này cho đến khi áp đặt quyền cai trị trực tiếp năm 1726. Thế kỷ thứ 19, khu vực này là một vùng bất ổn liên tục. Cuộc nổi dậy của người Dao năm 1831 được nối tiếp bằng Thái Bình Thiên Quốc năm 1850. Vụ các viên chức địa phương hành hình giáo sĩ Auguste Chapdelaine ở Quảng Tây đã gây ra chiến tranh nha phiến lần 2 năm 1858 và sau đó là sự can thiệp của Pháp vào Quảng Tây.

Thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bình An, một ngôi làng của người Tráng trên Ruộng Bậc Thang Long Thắng

Sau Khởi nghĩa Vũ Xương, Quảng tây ly khai khỏi đế chế Mãn-Thanh ngày 6 tháng 11 năm 1911. Tuần phủ Thanh là Thẩm Bỉnh Khôn, lúc đầu vẫn tại vị, nhưng sau đó bị loại bỏ bởi một cuộc binh biến do tướng Lục Vinh Đình chỉ huy. Cựu Quế Hệ (舊桂系) của tướng Lục đã vươn ra Hồ NamQuảng Đông và giúp chống lại nỗ lực tái lập lại chính phủ đế quốc của Viên Thế Khải trong cuộc Hộ quốc chiến tranh (护国战争). Lòng trung thành của người Tráng đã làm Quân chính phủ tự trị của ông vững mạnh nhưng miễn cưỡng di chuyển ra xa các tỉnh của mình. Sau đó, mối hiềm khích với Tôn Dật Tiên dẫn đến thất trận năm 1920 và 1921 trong Chiến tranh Việt Quế (粵桂战争). Sau thời gian chiếm đóng ngắn bởi lực lượng Quảng Đông của Trần Quýnh Minh, Quảng Tây rơi vào chia rẽ và cướp bóc nghiêm trọng trong vài năm[7] cho đến khi Quân bình định Quảng Tây của Lý Tông Nhân lập ra Tân Quế Hệ (新桂系) do Lý, Hoàng Thiệu HoànhBạch Sùng Hy đứng đầu.

Trận đánh thắng lợi ở Hồ Nam chống lại Ngô Bội Phu dẫn đến quân bình bịnh Quảng Tây của người Tráng được gọi là "quân thần tốc" và "quân thép". Sau cái chết của Tôn Dật Tiên, Lý còn đánh lui cuộc biến loạn của Đường Kế Nghiêu trong chiến tranh Vân Nam-Quảng Tây và tham gia chiến tranh Bắc Phạt thiết lập sự kiểm soát của phe Quốc Dân Đảng với các tướng quân phiệt khác. Quân của ông là một trong số ít đơn vị Quốc Dân Đảng không bị ảnh hưởng của cộng sản và vì vậy được Tưởng Giới Thạch sử dụng trong Cuộc thảm sát Thượng hải năm 1927.

Sau mối bất hòa với Tưởng, Lý đã tham gia vào cuộc nổi loạn của Diêm Tích Sơn trong cuộc Trung Nguyên Đại Chiến tháng 5 năm 1930. Sự bại trận của ông đã không loại bỏ ông khỏi sự kiểm soát Quảng Tây, với Sự cố Mãn Châu và cuộc xâm lược của Nhật Bản đã ngăn cản Tưởng và phe Cộng Sản loại bỏ ảnh hưởng của ông cho đến năm 1949. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Quảng Tây là một mục tiêu chính cho các cuộc tấn công của Nhật Bản. Chiến dịch Ichi-Go năm 1944 thành công đã mở rộng sự kiểm soát của Nhật Bản dọc tuyến đường sắt qua Quảng Tây vào Đông Dương thuộc Pháp, nhưng tuyến đường này vẫn bị tấn công liên tục bởi các máy bay ném bom Mỹ và nhóm bán quân sự người Tráng dưới quyền Bạch Sùng Hy.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ nữ người Tráng ở Trung Quốc trong trang phục truyền thống
  • The Zhuang (nguồn gốc, lịch sử phát triển của người Tráng)
  • [1] Nói về sự đồng nhất giữa người Tráng và người Nùng trong bài viết của Việt Bắc: Lịch sử và con người của Nguyễn Đức Hiệp

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Luo Yongxian. 2008. "Zhuang." In Diller, Anthony, Jerold A. Edmondson, and Yongxian Luo eds. 2008. The Tai-Kadai Languages. Routledge Language Family Series. Psychology Press.
  2. ^ 漢典. "". Tiếng Trung. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 新华字典, via 中华昌龙网. 字典频道. "". Tiếng Trung. Truy cập 14 tháng 8 2011.
  3. ^ tác giả Defrancis, John (1984).Tựa đề The Chinese Language: Fact and Fantasy, trang. 117. doanh nghiệp in thuộc đại học Hawaii. ISBN 0-8248-0866-5.
  4. ^ Sagart, L. 2004. "The higher phylogeny of Austronesian and the position of Tai–Kadai." Oceanic Linguistics 43.411-440.
  5. ^ Hậu Hán thư. Chương 24.
  6. ^ Huỳnh Hiện Phan(黄现璠),et:General History of the Zhuang. Nam Ninh: nhà máy in dân tộc Quảng Tây, 1988. ISBN 7-5363-0422-6/K•13
  7. ^ Bonavia, David. China's Warlords. New York: Oxford University Press. 1995. ISBN 0-19-586179-5.