Sở (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
楚國
Sở quốc
Vương quốc
Blank.png
 
Blank.png
~1030 TCN – 223 TCN Blank.png
 
Blank.png
Thủ đô Đan Dương[1] (丹陽) từ ~1030-~680 TCN
Dĩnh[2] (郢) từ ~680-278 TCN
Trần [3] (陈) từ 278-241 TCN
Thọ Xuân [4] (寿春) từ 241-224 TCN
Ngôn ngữ Tiếng Trung cổ đại
Tôn giáo Tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên, Đạo giáo
Chính thể Quân chủ, phong kiến
 - – Tử rồi vương (704 TCN), cha truyền con nối, của gia tộc Mị Hùng (芈熊)
Tướng quốc
 - – Các tướng quốc khác nhau
Lịch sử
 - Sở Hùng Dịch thành lập trong thời kỳ trị vì của Chu Thành Vương ~1030 TCN
 - Bị Tần diệt trong thời của Tần Doanh Chính 223 TCN
Tiền tệ Tiền Trung Quốc, tiền vàng
Sở Quốc
(triện văn, 220 TCN)

Sở (楚) là một vương quốc chư hầu thời Xuân Thu (722-481 TCN) và Chiến Quốc (481-221 TCN) ở nơi hiện nay là phía nam Trung Quốc .

Ban đầu nước này được gọi là Kinh (荆) và sau đó là Kinh Sở (荆楚). Ở thời hùng mạnh nhất, Sở chiếm nhiều vùng đất rộng lớn, gồm các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Trùng Khánh, Hà Nam, Thượng Hải, và nhiều vùng thuộc Giang Tô, Quý Châu ngày này. Kinh đô nước Sở lần lượt đặt tại Đan Dương, Dĩnh, Trần và Thọ Xuân.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

Vùng đất Kinh là nơi sinh sống của người Sở bản xứ. Ban đầu nước Sở được cai trị bởi một vị quý tộc có mối quan hệ gần gũi với các vua nhà Chu, và kinh đô của nó đặt tại Đan Dương (nay thuộc huyện tỉnh Giang Tô). Trước khi nhà Chu mất quyền lực, lãnh thổ này được Chu Thành Vương nhà Tây Chu phong cho Hùng Dịch (熊绎) để lập thành một tiểu quốc chư hầu riêng. Hùng Dịch trở thành vua Sở đầu tiên.

Những năm đầu tiên, nước Sở rất thành công trong những chiến dịch quân sự mở rộng lãnh thổ. Sở nổi tiếng vì khả năng ép buộc và thu hút các nước khác gia nhập liên minh với họ. Từ một nước độc lập nhỏ ban đầu, Sở phát triển trở thành một đế chế rộng lớn và giàu mạnh so với chư hầu, thậm chí từng là một trong "Xuân Thu Ngũ bá" (春秋五霸). Đầu tiên, Sở củng cố quyền lực bằng cách thu hút các nước chư hầu nhỏ hơn thành các nước phụ dung của họ ở vùng Hồ Bắc; sau đó họ mở rộng ra phía bắc về phía Đồng bằng Hoa Bắc. Mối đe dọa từ nước Sở dẫn tới việc hình thành nhiều liên minh chống lại liên minh của họ; những liên minh đó đã thành công trong việc kìm chân nước Sở, và chiến thắng quan trọng đầu tiên của họ diễn ra tại trận Thành Bộc.

Sức mạnh của vương quốc này tiếp tục tồn tại tới tận sau thời Xuân Thu năm 481 TCN. Sở chiếm nước Sái (Cai) ở phía bắc năm 447 TCN. Trong thời Chiến Quốc, Sở dần gặp phải áp lực của nước Tần từ phía Tây. Tầm vóc và sức mạnh biến Sở trở thành một thành viên chính trong các liên minh chống lại Tần. Khi Tần bắt đầu lấn tới Sở, Sở buộc phải mở rộng ra phía nam và phía đông, sáp nhập các nền văn hóa địa phương ở đó. Năm 333 TCN, Sở và Tề phân chia và sáp nhập nước Việt gần bờ biển.

Tuy nhiên, tới cuối thời Chiến Quốc (khoảng cuối những năm 300 TCN), ưu thế của Sở dần mất đi. Sau nhiều cuộc tấn công của TriệuTần, cuối cùng Sở bị Tần khuất phục.

Năm 278 TCN, tướng TầnBạch Khởi dẫn quân tới kinh đô Dĩnh, với ý định xâm lược. Sau khi mất Dĩnh Đô, Trần (nay thuộc tỉnh Hà Nam) và Thọ Xuân (nay thuộc tỉnh An Huy) lần lượt trở thành kinh đô mới của vương quốc.

Bị mất đất phía tây, nước Sở dưới thời Xuân Thân Quân Hoàng Yết làm thừa tướng chủ trương mở rộng sang phía đông. Năm 256 TCN, Sở diệt nước Lỗ.

Tuy có đất rộng người đông nhưng thực lực của Sở vẫn không so sánh được với nước Tần. Năm 223 TCN, tướng Tần là Vương Tiễn mang 60 vạn quân tiêu diệt nước Sở.

[sửa] Văn hoá

Sở Quốc
(kim văn, khoảng năm 800 TCN)

Dựa trên những khám phá khảo cổ học, văn hóa Sở ban đầu tương tự với văn hóa nước Triệu. Sau này, văn hóa Sở hấp thu thêm nhiều yếu tố bản xứ khi đất nước mở rộng ra phía nam và phía đông, phát triển một văn hóa riêng biệt so với văn hóa truyền thống của các nước chư hầu bắc Chu.

Những đồ vật dùng trong tang lễ buổi đầu nước Sở chủ yếu gồm các chậu đồng theo kiểu Chu. Những mộ Sở sau này, đặc biệt ở giai đoạn Chiến Quốc, chứa đựng những đồ vật khác biệt mang đặc trưng Sở như những đồ sơn mài, sắttơ lụa, cùng với sự giảm sút những đồ vật làm bằng đồng.

Một yếu tố mang đặc tính nước Sở thường thấy là sự thể hiện những con rắn, rồng và những loài vật giống rắn. Một số nhà khảo cổ học cho rằng nước Sở có lẽ từng có những mối liên hệ văn hóa với nhà Thương trước đó, bởi vì nhiều yếu tố Sở cũng đã xuất hiện sớm hơn ở những địa điểm có nền văn hóa Thương, như các yếu tố thể hiện những vị thần có đuôi rắn.

Văn hóa Sở muộn được biết đến với sự tương đồng của nó với những trình tự nghi thức kiểu pháp sư. Sở cũng nổi tiếng về âm nhạc đặc trưng của mình; các bằng chứng khảo cổ cho thấy âm nhạc Sở khác biệt so với âm nhạc Chu; nhạc Sở có khuynh hướng sử dụng nhiều phong cách biểu diễn khác nhau, cũng như các nhạc cụ đặc hữu; Tại Sở, đàn sắt được ưa chuộng hơn đàn cổ cầm, trong khi cả hai nhạc khí này được sử dụng như nhau tại các nước chư hầu bắc Chu.

Sở có các mối quan hệ thường xuyên với các dân tộc khác ở phương nam, nổi tiếng nhất là các nước Ba, Việt và các nhóm tộc Bách Việt. Nhiều lễ nghi và các đồ vật dùng trong mai táng kiểu Ba và Việt đã được tìm thấy bên trong lãnh thổ Sở, cùng tồn tại với kiểu và đồ dùng mai táng của Sở.

Những vị vua đầu tiên nhà Hán đã lãng mạn hóa văn hóa Sở, khiến xuất hiện một xu hướng nghiên cứu các yếu tố văn hóa Sở như Sở Từ. Sau thời nhà Hán, Sở lại mang tiếng là một nước man rợ; các học giả Khổng giáo không ưa văn hóa Sở, chỉ trích thứ âm nhạc "dâm dật" và những lễ nghi kiểu pháp sư của nó.

Sau thời gian dài bị Hán hóa, tiếng Sở đến nay đã bị thất truyền. Chỉ có một vài từ Sở còn lại được đến nay, được ghi trong một số thư tịch cổ chữ Hán thời Chiến Quốc. Hiện chưa có một cố gắng thu thập các từ vựng Sở từ các nguồn này một cách có hệ thống [5]. Các chữ được khẳng định là thuộc ngôn ngữ Sở được liệt kê tại Dự án nghiên cứu ngôn ngữ Sở tại Đại học Massachusetts Amherst

[sửa] Những người nổi tiếng

  • Nhà thơ lừng danh Khuất Nguyên là người nước Sở. Ông là một vị quan trong triều và là người yêu nước, ông đã đưa ra ý kiến thống nhất Sở với các nước chư hầu khác để chống lại sự bành trướng của Tần, tuy nhiên không được ai nghe theo; ông bị vua Sở xua đuổi. Theo tục truyền, đau khổ khi biết tin về cuộc xâm lược của Tần, ông đã trầm mình tại sông Mịch La (汩罗江).
  • Hạng Vũ, một quý tộc nước Sở cũ, nổi dậy và trở thành một thủ lĩnh chống Tần, sau khi đánh tan quân Tần, đã tự xưng là "Tây Sở Bá Vương", là một đối thủ của người sáng lập Hán triều, Lưu Bang. Ông là một vị tướng tài ba trên chiến trường nhưng lại kiêu ngạo nên đã phải chịu thất bại.
  • Dưỡng Do Cơ, danh tướng dưới thời Sở Trang Vương và Sở Cung Vương (khoảng 600 TCN), nổi tiếng với tài bắn tên. Bên lề trận Yên Lăng năm 575 TCN, lúc trận đánh chưa khai màn, các tướng sĩ tập dượt phía sau trại, ông cho đánh dấu 3 chiếc lá cây dương 1, 2, 3, rồi đứng cách xa 100 bước, lần lượt bắn 3 mũi tên xuyên thủng 3 chiếc lá theo đúng thứ tự. Tài bắn này đã trở nên câu thành ngữ "bách bộ xuyên dương" còn truyền tụng đến ngày nay.

[sửa] Các vị vua

Nước Sở tính từ vua Hùng Tảo lên ngôi thời Tây Chu tới Xương Bình quân bị Tần diệt năm 223 TCN gồm có 45 vua. Nước Sở được lập lại cuối thời Tần, truyền được 4 vua nữa.

Vua Họ, tên Bắt đầu Kết thúc Số năm
Sở Hùng Tảo Hùng Tảo (Mị Tảo)
Sở Hùng Lệ Hùng Lệ (Mị Lệ)
Sở Hùng Cuồng Hùng Cuồng (Mị Cuồng)
Sở Hùng Dịch Hùng Dịch (Mị Dịch)
Sở Hùng Ngải Hùng Ngải (Mị Ngải)
Sở Hùng Hắc Đán Hùng Hắc Đán (Mị Hắc Đán)
Sở Hùng Thắng Hùng Thắng (Mị Thắng)
Sở Hùng Dương Hùng Dương (Mị Dương)
Sở Hùng Cừ Hùng Cừ (Mị Cừ)
Sở Hùng Chí Hùng Chí (Mị Chí)
Sở Hùng Duyên Hùng Duyên (Mị Duyên) 848 TCN
Sở Hùng Dũng Hùng Dũng (Mị Dũng) 847 TCN 838 TCN 10
Sở Hùng Nghiêm Hùng Nghiêm (Mị Nghiêm) 837 TCN 828 TCN 10
Sở Hùng Sương Hùng Sương (Mị Sương) 827 TCN 822 TCN 6
Sở Hùng Tuấn Hùng Tuấn (Mị Tuấn) 821 TCN 800 TCN 22
Sở Hùng Ngạc Hùng Ngạc (Mị Ngạc) 799 TCN 791 TCN 9
Sở Nhược Ngao Hùng Nghi (Mị Nghi) 790 TCN 764 TCN 27
Sở Tiêu Ngao Hùng Khảm (Mị Khảm) 763 TCN 758 TCN 6
Sở Phần Mạo Hùng Thuận (Mị Thuận) 757 TCN 741 TCN 17
Sở Vũ Vương Hùng Thông (Mị Thông) 740 TCN 3/690 TCN 51
Sở Văn Vương Hùng Ti (Mị Ti) 689 TCN 6/675 TCN 15
Sở Đổ Ngao Hùng Gian (Mị Gian) 674 TCN 672 TCN 3
Sở Thành Vương Hùng Uẩn (Mị Uẩn) 671 TCN 10/626 TCN 46
Sở Mục Vương Hùng Thương Thần (Mị Thương Thần) 625 TCN 614 TCN 12
Sở Trang Vương Hùng Lữ (Mị Lữ) 613 TCN 591 TCN 23
Sở Cung Vương Hùng Thẩm (Mị Thẩm) 590 TCN 560 TCN 31
Sở Khang Vương Hùng Thiều (Mị Thiều) 559 TCN 9/545 TCN 15
Sở Giáp Ngao Hùng Viên (Mị Viên) 544 TCN 541 TCN 4
Sở Linh Vương Hùng Vi (Mị Vi) 540 TCN 5/529 TCN 12
Sở Vương Bỉ Hùng Bỉ (Mị Bỉ) 529 TCN 5/529 TCN 5 tháng
Sở Bình Vương Hùng Cư (Mị Cư) 528 TCN 9/516 TCN 13
Sở Chiêu Vương Hùng Trân (Mị Trân) 515 TCN 7/489 TCN 27
Sở Huệ Vương Hùng Chương (Mị Chương) 488 TCN 432 TCN 57
Sở Giản Vương Hùng Trung (Mị Trung) 431 TCN 408 TCN 24
Sở Thanh Vương Hùng Đương (Mị Đương) 407 TCN 402 TCN 6
Sở Điệu Vương Hùng Nghi (Mị Nghi) 401 TCN 381 TCN 21
Sở Túc Vương Hùng Tang (Mị Tang) 380 TCN 370 TCN 11
Sở Tuyên Vương Hùng Lương Phù (Mị Lương Phù) 369 TCN 340 TCN 30
Sở Uy Vương Hùng Thương (Mị Thương) 339 TCN 329 TCN 11
Sở Hoài Vương Hùng Hòe (Mị Hòe) 328 TCN 299 TCN 30
Sở Khoảnh Tương Vương Hùng Hoành (Mị Hoành) 298 TCN 263 TCN 36
Sở Khảo Liệt Vương Hùng Nguyên (Mị Nguyên) 262 TCN 238 TCN 25
Sở U Vương Hùng Hãn (Mị Hãn) 237 TCN 1/228 TCN 10
Sở Ai Vương Hùng Do (Mị Do) 1/228 TCN 3/228 TCN
Sở Vương Phụ Sô Hùng Phụ Sô (Mị Phụ Sô) 227 TCN 223 TCN 5
Xương Bình quân 223 TCN 223 TCN
Sở Ẩn Vương (Trương Sở Ẩn Vương) Trần Thắng 209 TCN 208 TCN
Sở Giả Vương Cảnh Câu 208 TCN 208 TCN
Sở Nghĩa Đế Hùng Tâm (Mị Tâm) 208 TCN 206 TCN
Sở Bá Vương (Tây Sở Bá Vương) Hạng Vũ 206 TCN 202 TCN

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

  • Defining Chu: Image And Reality In Ancient China, Edited by Constance A. Cook and John S. Major, ISBN 0824829050
  • Đông Châu Liệt Quốc, bản dịch của Mộng Bình Sơn
  • So, Jenny F., Music in the Age of Confucius, ISBN 0295979534

[sửa] Chú thích

  1. ^ Nay là huyện cấp thị Chi Giang, địa cấp thị Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc
  2. ^ Nay là phía bắc huyện Giang Lăng, địa cấp thị Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc
  3. ^ Nay là huyện Hoài Dương, địa cấp thị Chu Khẩu, tỉnh Hà Nam
  4. ^ Nay là huyện Thọ, địa cấp thị Lục An, tỉnh An Huy
  5. ^ Dự án nghiên cứu ngôn ngữ Sở tại Đại học Massachusetts Amherst

[sửa] Liên kết ngoài